Chương 1 TONG QUAN TAI LIEU 1.1 Giới thiệu so lược về cây cải thảo 1.1 Nguồn gốc Theo Mai Thị Phương Anh (1999), cai thao là thành viên của họ Thập tự, chi Brassica và có nguồn gốc từ vùng Đông A. Dạng tiền thân cây cải thảo B. campestris, xuất xứ từ vùng Địa Trung Hải với khí hậu ôn hòa và âm.2 Đặc điểm thực vật học của cải thảo Theo Mai Thị Phương Anh (1999), cải thảo có các đặc điểm thực vật học, gồm: Rễ: cải thảo có hệ rễ chùm rất phát triển với sự phân nhánh mạnh. Tuy nhiên, vào thời gian đầu, các rễ chùm mảnh mai chỉ ăn nông trên lớp đất mặt khoảng 30 cm.
Khi các lá thật phát triển thì rễ chính (rễ cọc) tiếp tục ăn sâu xuống đất và từ đó bắt đầu hình thành các rễ ngang. Trong quá trình cấy chuyền cây con thì rễ trụ bi đứt và rễ chùm phát triển mạnh. Ở giai đoạn trưởng thành thì hệ rễ đâm sâu xuống dat 35 cm và lan rộng tới 40 cm. Thân: trong giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng, thân không phân nhánh, không không cao quá 20 em.
Trong thời gian này thân tiếp tục lớn lên, đường kính ở phần gốc thân rộng từ 4 - 7 em. Ở giai đoạn sinh trưởng sinh thực, thân sẽ tiếp tục dài ra và có thể đạt tới 60 - 100 cm, xuất hiện các cành cấp I, II và cành cấp II. Lá: dạng lá biến đổi theo từng giai đoạn sinh trưởng. Lá mầm có hình thận, hai lá mọc đối nhau, lượng dinh dưỡng dự trữ trong lá mầm cung cấp cho cây ở giai đoạn đầu sau khi nảy mầm.
Lá gốc là hai lá thật mọc đối nhau trên thân tại một độ cao, hình thập tự, các lá gốc thường dai, có cuống dai trung bình từ 8 - 15 cm. Lá không cuốn là các lá mọc vòng xung quanh trục chính của thân, các lá trưởng thành nhưng chưa cuốn lớn lên rất nhanh và trải rộng ra và cung cấp dinh dưỡng cho lá trong. Lá bắp là các lá ngoài cùng của bắp. Lá thân là những lá mọc lên từ thân hoặc cành hoa.
Hoa: hoa lưỡng tính gồm 4 đài, 4 cánh, 6 ống phan trong đó có 2 ngắn, 4 dai, 2 lá noãn. Hai lá noãn này hình thành bầu nhụy với rãnh giả và hai hàng noãn cong. Các cánh hoa màu vàng sáng mọc chéo nhau nên được gọi là thập tự. Quả: quả cải thảo thuốc nhóm quả giác.
Trong quả, chứa từ 10 - 25 hạt và đạt kích thước tối đa sau khi hoa nở 3 - 4 tuần. Khi quả chín toàn bộ, khô, vỏ quả nứt dọc và hạt gia. Hat: hạt cai có hình tròn hoặc hình trứng, đường kính 1 - 2 mm, hat chuyển màu từ nâu sáng thành màu đen xám. Hạt có noãn hữu thụ.3 Phân loại Theo Tạ Thu Cúc (2005), căn cứ vao kha năng cuốn bắp và hình dạng bắp khi cuốn, một số tác giả đã chia thành cải thảo (Brassica rapa subsp.
pekinensis) thành 3 chủng: 1) Không cuốn bắp (var. /axa) lá có màu vàng hoặc vàng nhạt, bắp mở; 2) Bap có dạng hình trụ (var. michihili cylindryca) có tên gọi là Michihili. Khi cuốn có bắp chặt nhưng không chặt như cải bắp, lá ngoài màu xanh nhạt, lá trong (cuốn bắp) có màu trắng hoặc màu kem.
Bap thon nhỏ, thường dai từ 7,6 cm - 12,7 em. Khối lượng bắp từ 0,9 kg/bắp - 2,2 kg/bap, sau gieo 72 ngày đến 80 ngày có thé thu hoạch, một số giống bắp thắng đứng và chống chịu được bệnh vi khuẩn. Trong nhóm này có các giống: Michihili, Chihili, Market pride, Shantung, Green rocket và Shaho tsa; 3) Bap dang tron dau (var. cephalata) còn gọi là Che - foo hoặc Wong Bok, napa, bắp tròn dau, lùn và to bè, cao khoảng 20,3 - 25,4 cm, đường kính bắp từ 15,0 - 20,0 cm, khối lượng bắp 1,3 - 4,0 kg/bắp.
Thời gian thu hoạch 50 - 80 ngày, thời gian bảo quản dài hơn dạng hình Michihili. Những giống trong nhóm này gồm: Che - foo, Wong Bok, Spring Giant, Tokyo Giant, Tropical Pride, Tropical Delight, Early top, Tip top, Chian king, Blues.4 Đặc điểm sinh trưởng, phat triển của cải thao Theo Mai Thị Phương Anh (1999), các thời kỳ sinh trưởng của cây cải thảo được chia làm 6 giai đoạn và mỗi giai đoạn có những dấu hiệu đặc trưng. Giai đoạn 1 (giai đoạn nay mam): khi rễ đầu tiên moc sâu vào trong đất 2 - 3 em thì cây con mọc thang lên. Dau tiên trụ lá mầm mọc lên khỏi mặt đất và hai lá mầm mở ra phía trên trụ lá mâm, sau đó mới nở hoàn toản.
Giai đoạn 2 (giai đoạn cây con): xuất hiện hai lá thật thứ nhất nằm giữa hai lá mầm đã mở rộng, bat đầu tiến hành quang hợp, nhiều lá được hình thành tại đỉnh sinh trưởng mà không phát triển chiều cao. Đối với các giống chín sớm, có năm lá trong hai vòng xoăn. Cây nên được cây ra ruộng ở giai đoạn này. Giai đoạn 3 (giai đoạn trải lá bàng): các lá của hai hoặc ba vòng xoắn đầu tiên lớn lên và trải rộng.
Các lá chưa cuộn này có thé nằm dài trên bề mặt đất hoặc có thé hơi đứng tùy thuộc vào giống. Các lá mới tiếp tục được mọc từ đỉnh sinh trưởng. Các lá phía trong tiếp tục lớn lên theo hướng thẳng lên trong điều kiện bị che bóng. Giai đoạn 4 (giai đoạn hình thành bắp): giá trị thương phẩm của các giống phụ thuộc chủ yếu vào giai đoạn này.
Ở giai đoạn này, chiều cao tăng rất chậm và tập trung chủ vào việc hình thành dạng bắp. Đối với các giống sớm, sự hình thành bắp sau khi xuất hiện lá thứ 12, 13. Đối với các giống muộn, hình thành bắp khi xuất hiện 24 - 25 lá. Một cây cải thảo sinh trưởng đầy đủ thường có 50 lá.
Giai đoạn 5 (giai đoạn ra hoa): mầm mống của hoa được hình thành trước hoặc ngay sau giai đoạn hình thành bắp và phụ thuộc rất nhiều vào nhiệt độ hoặc quang chu kỳ. Giai đoạn 6 (giai đoạn quả và hat): quả giác chứa 10 - 25 hạt, đạt kích thước tối đa sau thời gian khoảng 21 - 30 ngày và cần 14 ngày sau dé tiếp tục chín.5 Yêu cầu ngoại cảnh của cây cải thảo Theo Tạ Thu Cúc (2007), một số yêu cầu ngoại cảnh của cây cải thảo: Nhiệt độ: nhiệt độ vừa phải về ban ngày và mát lạnh về ban đêm sẽ cho năng suất cao, chất lượng tốt. Nhiệt độ thích hợp cho sinh trưởng từ 15 - 22°C. Nhiệt độ thích hợp cho bắp cuốn là 16 - 20°C.
Nhiệt độ trên 25°C, bắp cuốn chậm và chất lượng giảm. Ánh sáng: cải thảo thuộc nhóm cây ưa ánh sáng ngày đài. Thời gian chiếu sáng trong ngày dai (>14 gid/ngay), cải thảo sẽ trổ ngồng, ngày dai thúc day quá trình nở hoa. Âm độ: độ am thích hợp cho cải thảo sinh trưởng và cuốn bắp từ 70 - 85%.
Nước đặc biệt quan trong ở thời kỳ hình thành và cuốn bắp. Thiếu nước cây sinh trưởng còi cọc, lá bé, cuốn bắp chậm, làm giảm năng suất và chất lượng. Thời kỳ ra hoa, kết hạt cần không khí khô ráo, độ âm không khí 60 - 65% là thích hợp. 3 Đất và dinh dưỡng: đất gieo trồng cải thảo phải tơi xốp, giàu chất dinh dưỡng, pH từ 5,5 - 7,5.
Giai đoạn đầu sinh trưởng cần đạm và lân, giai đoạn cuối cần đạm và kali. Lượng phân vô cơ N - P - K nguyên chất trên 1 ha: 212,6 kg N - 120 kg P20s - 90 kg KzO. Dam cần thiết cho sự phát triển của bộ lá. Lân và kali có ảnh hưởng tốt cho sự sinh trưởng của cải thảo.6 Sâu bệnh hại trên cay cải thao Theo Phạm Văn Biên và ctv (2003), một số loại sâu, bệnh hại xuất hiện trên cây cải thảo.1 Sâu hại Sâu tơ (Plutella xylostella): sâu tơ khi trưởng thành là loài bướm nhỏ.
Trứng có mau vàng, rất nhỏ, bám dưới mặt lá. Sâu non có màu xanh nhạt và ăn toàn bộ biểu bì lá tạo thành những đường ngoan ngoéo. Biện pháp phòng trừ: vệ sinh đồng ruộng: trồng xen với cây hành, tỏi; tưới phun mưa vào chiều mát; bảo vệ thiên địch: sử dụng thuốc chứa hoạt chất: Abamectin, Emamectin benzoate, Etoxazole (min 95%). Sâu xanh bướm trang (Pieris rapae): bướm có cánh trước mau trang, hình gan tròn, trên cánh có lớp bụi phấn mịn, cánh sau màu trắng, góc cánh màu xám tro.
Trứng màu vàng nhạt, dài, có nhiều khía dọc. Bướm đẻ trứng rải rác từng quả trên lá rau. Sâu non mới nở có màu xanh nhạt sau chuyên sang màu xanh lục, trên thân có nhiều cham den nhỏ và có 3 sọc màu vàng phía lưng. Sâu non mới nở ăn vỏ trứng sau đó gặm chất xanh để lại màng lá trắng mỏng.
Nhộng màu xanh xám. Biện pháp phòng trừ: đùng vợt bắt bướm; ngắt nhộng trên lá; sử dụng một số thuốc chứa hoạt chất: Abamectin, Azadirachtin, Bacillus thuringiensis. Bo nhảy sọc cong (Phyllotreta striolata): bọ nhảy trưởng thành kích thước tương tự hạt mè, cánh cứng màu đen, giữa mỗi cánh có một vết dọc màu vàng nhạt. Bọ nhảy ăn lá non tạo thành những lỗ tròn khắp mặt lá và nhảy đạp làm cây rau đập nát.
Trứng rất nhỏ, mau vàng nhạt. Sâu non màu trang ngà hoặc màu vàng tươi. Sâu non ăn các rễ phụ, đục vào gốc và rễ chính, chúng sống và hóa nhộng ngay trong đất. Biện pháp phòng trừ: vệ sinh đồng ruộng, luân canh với cây trồng khác họ, sử dụng một số thuốc chứa hoạt chất: Abamectin, Chlorantraniliprole (min 93%), Diafenthiuron (min 97%).
Rệp (Brevicolyne brassicae): rệp trưởng thành nhỏ như hạt tắm, màu xanh hoặc vàng, đầu và ngực màu đen, có 2 dạng có cánh và không có cánh. Rệp con và rệp trưởng thành bám ở mặt đưới lá và sinh sống bằng hút nhựa lá cây, làm búp và lá bị xoăn lại, lá nhạt màu, héo rũ. Biện pháp phòng trừ: tưới nước, giữ âm cây vào mùa khô; sử dụng một số thuốc chứa hoạt chất: Abamectin, Azadirachtin, Emamectin benzoate.2 Bệnh hại Thối nhũn: do vi khuan Erwinia spp. Vi khuẩn tổn tại trên các tan dư cây trồng và xâm nhập qua vết thương.
Vết bệnh đầu tiên thường xuất hiện ở các cuống lá già phía dưới gần mặt dat, tạo thành những đốm mong nước, sau đó thối nhữn. Vết bệnh theo cuống lá phát triển lên phía trên làm cho cả lá bị vàng và thối nhũn. Các lá phía trên cũng có thê bị bệnh và cả cây bị thối. Biện pháp phòng trừ: luân canh; làm đất kỹ, vệ sinh đồng ruộng; sử dụng một số thuốc chứa hoạt chất: Anacardic acid, Bacillus subtilis, Kasugamycin.
Thối hạch: do nam Sclerotinia sclerotiorum gây ra. Cay có thé bi bệnh từ giai đoạn cây con nhưng phá hại chủ yếu vào thời kỳ cuốn bắp trở đi làm cây chết, thối khô.