mở đầu cho nhưng mối quan hệ kí kết, hợp tác kinh doanh. Đối với nền kinh tế xã hội - Chè là một cây công nghiệp lâu năm, có đời sống kinh tế lâu dài, mau cho sản phẩm, cho hiệu quả kinh tế cao. Chè trồng một lần, có thể thu hoạch 30-40 năm hoặc lâu hơn nữa. Trong điều kiện thuận lợi cây sinh trưởng tốt thì cuối năm thứ nhất đã thu bói trên dưới một tấn búp/ha.
Các năm thứ hai thứ ba cũng cho một sản lượng đáng kể khoảng 2-3 tấn búp/ha. Từ năm thứ tư chè đã đưa vào kinh doanh sản xuất [3]. - Chè là sản phẩm có thị trường quốc tế ổn định, rộng lớn và ngày càng được mở rộng [3]. h 8 - Ở nước ta, chè là một trong những cây công nghiệp có giá trị xuất khẩu cao.
Căn cứ vào năng suất bình quân đã đạt được năm 1969 của khu vực nông trường quốc doanh (42,39 tạ búp/ha), nếu chỉ đứng về mặt xuất khẩu mà xét thì một ha chè của khu vực nông trường quốc doanh so với một số cây công nghiệp dài ngày của cùng khu vực này bằng hơn 5 lần một ha cà phê, gần 10 lần một ha sản lượng. Nếu năng suất chè đạt 100 tạ búp/ha thì xuất khẩu có thể thu được đủ để nhập 46 tạ phân bón hóa học, hoặc 3,1 tạ bông, hoặc 25-30 tạ bột mỳ. Như vậy một ha chè có năng suất 100 tạ búp có giá trị xuất khẩu ngang với 200 tấn than [3]. Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè trên thế giới và Việt Nam 2.
Tình hình sản xuất và tiêu thụ trên thế giới - Năm 2008, tổng kim ngạch của 10 nước nhập khẩu chè lớn nhất thế giới đạt 2,8 tỷ đô la Mỹ, chiếm trên 50% tổng kim ngạch nhập khẩu chè toàn thế giới. so với cùng kỳ năm 2007, kim ngạch nhập khẩu chè các nước này tăng trung bình 16,89%. Năm nước có kim ngạch nhập khẩu chè lớn nhất thế giới năm 2008 là Nga (510,6 triêu đô la), Anh (364 triệu đô la), Mỹ (318,5 triệu đô la), Nhật Bản (182,1 triệu đô la) và Đức (181,4 triệu đô la). Trong khi đó, tổng kim ngạch tổng kim ngạch của 10 nước xuất khẩu chè lớn nhất thế giới đạt gần 3,5 tỷ đô la Mỹ tăng 18,8% so với cùng kỳ năm 2007.
Danh sách các nước trong bảng xếp hạng top 10 nước xuất khẩu chè lớn nhất thế giới năm 2008 không có nhiều thay đổi so với năm 2007 với ba nước dẫn đầu là Sri Lanka (đạt 1,2 tỷ đô la), Trung Quốc (682,3 triệu đô la) và Ấn Độ (501,3 triệu đô la) [8]. Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè ở Việt Nam Năm 2009, kim ngạch xuất khẩu chè của Việt Nam tăng khoảng 40 triệu USD so với năm trước đó, đạt 117 ngàn tấn nhờ khối lượng xuất khẩu tăng. Đây là một trong số ít những ngành giữ được phong độ xuất khẩu trong h 9 bối cảnh kinh tế toàn cầu sa sút. Việt Nam hiện có 270 doanh nghiệp làm chè, 75% lượng chè khô làm ra hàng năm được xuất khẩu sang 110 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới và Việt Nam hiện đứng thứ 5 thế giới về sản lượng cũng như kim ngạch xuất khẩu chè [1].
Theo số liệu của Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn, năm 2009 diện tích trồng chè của Việt Nam đạt 131,5 nghìn ha, tăng 1900 ha so với diện tích năm 2007. Năng suất trồng chè năm 2009 ước đạt 6,5 tấn búp tươi/ha, tăng so với mức 5,9 tấn/ha của năm 2007 [1]. Tại hội thảo khoa học biện pháp nâng cao chất lượng chè tổ chức tại TP Bảo Lộc vào sang 26/12/2009. Hiệp hội chè Việt Nam cho biết sản lượng chè qua chế biến năm 2009 khoảng 115 nghìn tấn, kim ngạch xuất khẩu trên 178 triệu USD.
Tính đến tháng 11 năm 2010, tổng lượng chè xuất khẩu ước đạt 122 nghìn tấn, kim ngạch đạt 180 USD, tăng khoảng 10% so với cùng kỳ. Hiện nước ta là nước có sản lượng chè đứng thứ 5 thế giới và xuất khẩu ra khoảng 110 nước. Ba thị trường lớn là Pakixtan, Đài Loan và Nga. Trong 10 năm qua, ngành chè đã có sự tăng trưởng đáng kể về diện tích, năng suất và sản lượng [1].
Năm 2010, diện tích chè cả nước đạt gần 130 ngàn ha, trong đó trên 117 ngàn ha cho thu hoạch với năng suất bình quân 73 tạ chè búp tươi/ha. So với năm 2000, diện tích chè tăng 45,4%, năng suất tăng 74,6%. Năm 2011, mặc dù diện tích trồng chè cả nước giảm 2,8% so với năm 2010 (chủ yếu giống chè cũ, chè hạt) song diện tích thu hoạch tăng 1,4% nên sản lượng tăng 6,5%, đạt 888,6 ngàn tấn. Việc áp dụng KHCN có tác động đáng kể đến việc cải tạo các giống chè cũ, cải thiện năng suất, chất lượng bước đầu áp dụng có hiệu quả SX VietGAP tại một số địa phương.
Cơ cấu chè giống mới (giâm cành) đã chiếm trên 52% diện tích và dần thay thế các giống cũ lạc hậu, năng h 10 suất thấp. Trong đó, giống LDP1 chiếm 13%, LDP2 chiếm 14%, PH1 chiếm 10%. việc tiêu thụ, xuất khẩu có nhiều thuận lợi [1]. Theo mục tiêu đặt ra của Bộ NN&PTNT, trong vòng 5 năm tới ngành chè phải duy trì được diện tích ổn định ở mức 130000ha, tăng trưởng sản lượng đat 6%/năm, kim ngạch xuất khẩu tăng ít nhất 2 lần so với hiện tại.
Kế hoạch năm 2012 xuất khẩu chè đạt 135000 tấn giá trị 220 triệu USD. Đến năm 2015, sản lượng chè búp khô đạt 260000 tấn, trong đó xuất khẩu 200000 tấn, đạt kim ngạch xuất khẩu 440 triệu USD, giá xuất khẩu bằng với giá bình quân của thế giới (2. Thị trường xuất khẩu chè 6 tháng đầu năm 2009 Thị trường xuất khẩu Khối lượng (tấn) Giá thành (USD) Ấn Độ 2.046 Tiểu VQ Arập TN 249 380. Thành phần hóa học của cây chè 2.
Các hợp chất phenol Các hợp chất phenol gồm: - Polyphenol chiếm đến 30% khối lượng chất khô, chính là tanin ngưng tụ. Trong chè tươi tiền chất của tanin ngưng tụ chính là catechins. - Hợp chất Flavonoid trong chè gồm Flavonon và anthocyan là những chất quy định màu sắc của hoa, quả, lá, thân và làm cho chúng có màu vàng đỏ tím xanh. - Hợp chất catechin trong chè là thành phần chủ yếu của tanin trong chè, thành phần và hàm lượng catechin ảnh hưởng tới chất lượng của chè thành phẩm.
Hiện nay người ta chỉ mới tìm thấy 7 loại catechin có mặt trong lá chè là: D, L- Catechin, L- EpiCatechin, D, L– GaloCatechin, L- EpiCatechingalat, L- GaloCatechinGalat, L- EpiGaloCatechinGalat [2]. Alkanoid Trong chè có alkanoid sau: Cafein, theobromin, theophilin, adenin, guanin. Trong đó nhiều nhất là cafein ở trong chè cao từ 3- 5% tổng lượng chất khô trong chè tươi, thường nhiều hơn cafein trong lá cà phê từ 2- 3 lần [3]. Nhóm các hợp chất chứa nitrogen (Protein và Axit amin) Protein trong búp chè phân bố không đều, chiếm khoảng 15% tổng lượng chất khô của lá chè tươi.
Các axit amin cơ bản trong lá chè bao gồm aspartic, arginin, alutamic, serin, glutamin, tyrosin, valin, phenylalanin, leucin, isoleucin, và theanin… Trong đó theanin chiếm hàm lượng cao nhất, khoảng 50-60% tổng hàm lượng axit amin tự do, theanin là axit amin đặc trưng của cây chè, theanin chỉ có thể được tìm thấy ở các cây họ chè và một số ít loại nấm [3]. Gluxit và pectin Trong lá chè chứa rất ít gluxit hòa tan, các gluxit không hòa tan chiếm tỷ lệ lớn. pectin thuộc về nhóm gluxid, làm cho chè có mùi táo chín trong quá h 12 trình làm héo, làm chè dễ xoăn khi chế biến, nhưng dễ hút ẩm nên làm ảnh hưởng xấu tới quá trình bảo quản chè [4]. Vai trò của pectine trong chế biến chè: phần lớn chúng là những chất keo có trong tế bào thực vật - Tạo độ dính khi định dạng hình dáng búp chè trong quá trình vò chè, tuy nhiên độ dính bị giảm đi khi diệt men.
- Tạo độ dịu ngọt cho sản phẩm [7]. Các sắc tố trong chè Trong lá chè có các sắc tố chính đó là diệp lục tố (clorophyl), tiếp đến là các sắc tố phụ carotenoid và xanthophyl [3]. Vitamin Các loại vitamin có trong chè rất nhiều. Hàm lượng một số vitamin trong chè tính theo mg/1000g chất khô như sau: Vitamin A (54.0)… Đặc biệt hàm lượng vitamin C ở trong chè tươi nhiều hơn cam chanh từ 3 4 lần.
Quá trình chế biến chè đen làm cho vitamin C giảm đi nhiều vì nó bị oxy hóa, còn trong chè xanh thì nó giảm đi không đáng kể [3]. Enzyme Trong búp chè non có hầu hết các loại men, nhưng chủ yếu gồm 2 nhóm chính: - Nhóm thủy phân: Men amylaza, glucoxidaza, proteaza, và một số men khác - Nhóm oxy hóa khử: chủ yếu là 2 loại men peroxidaza và polyphenol oxidaza [3]. Các hợp chất khác Tinh dầu: thành phần tinh dầu chè chiếm tỷ lệ rất thấp trong tổng khối lượng của lá chè 0. Các thành phần đã được nhận diện trong tinh dầu chè bao gồm: linalon, delta-cardinene, geraniol, nerolidol, alpha- terpineol, h 13 cis-jasmone, indone, beta- ionone, 1-octanal, indole- 3-carbinol, beta- caryophyllene… [3] Chất béo và các axit béo tự do: các hợp chất lipid, phospholipid và các axit béo chiếm 5 6% trong lá chè.
Các axit béo tự do tìm thấy trong lá chè có linolenic, linoleic, oleic và palmitic… Carotenoid: -caroten, lutein, violaxanthin và neoxanthin được tìm thấy trong lá chè [3]. Axit hữu cơ: trong chè có các axit như citric, tartaric, malic, oxalic, fumaric, cafeic, quinic, succinic, clorogenic, neo-clorogenic, p- coumarylquilic, ellagic…[3]. Kim loại: các chất vô cơ chiếm khoảng 5 6% khối lượng khô của chè, biến đổi khá nhiều tùy theo thổ nhưỡng của vùng đất, chiếm nhiều nhất là nhôm, mangan, magie…[3]. Nước Nước là thành phần lớn nhất ở búp chè, có vai trò quan trọng trong quá trình sinh trưởng của cây chè cũng như trong quá trình chế biến.
Hàm lượng nước trong các đọt chè tươi thường chiếm khoảng 75-82%, và phụ thuộc vào: độ non già của nguyên liệu, niên vụ, chế độ canh tác và phụ thuộc vào chất kích thích sinh trưởng [7]. Hàm lượng tanin trong lá chè Hàm lượng tanin trong lá chè tươi luôn thay đổi phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: giống chè, điều kiện đất đai, điều kiện sinh trưởng của cây chè. Hàm lượng tanin hòa tan phụ thuộc vào nhiều vị trí của lá trên búp chè và hầu như tất cả các giống chè đều theo quy luật chung là lá càng non chứa tanin càng nhiều [7].4: Hàm lượng tanin trong các loại lá chè (% chất khô) Giống chè Loại lá PH1 Trung du Tôm 36,75 34,99 Lá 1 37,77 36,97 Lá 2 34,74 34,61 Lá 3 30,77 31,16 Cẫng 25,56 22,90 2.5 Giới thiệu về ISO 22000 Iso 22000 là tiêu chuẩn an toàn thực phẩm quốc tế, được chấp nhận và có giá trị trên phạm vi toàn cầu.