PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do lựa chọn đề tài 1.1 Lý do thực tiễn Trong cuộc sống hàng ngày của con ngƣời, giao tiếp là một hoạt động không thể thiếu đƣợc. Có rất nhiều kênh giao tiếp khác nhau nhƣ giao tiếp bằng tay chân, ánh mắt,… song giao tiếp bằng ngôn ngữ vẫn là hoạt động giao tiếp chủ yếu và quan trọng nhất của con ngƣời. Lý do giao tiếp là để truyền đạt với nhau những thông điệp nhằm đạt đƣợc mục đích nào đó.
Những thông điệp truyền đạt ấy, có lúc hiển hiện thật dễ hiểu, nhƣng cũng có lúc phải trải qua quá trình suy luận, xét đoán,… mới có thể hiểu đƣợc. Sở dĩ các bên giao tiếp vẫn có thể hiểu đƣợc các thông điệp không hiển hiện ấy là bởi những yếu tố khách quan xung quanh nhƣ ngữ cảnh, khung hiểu biết chung về văn hóa xã hội,… Những thông điệp ngầm ấy có thể đƣợc thể hiện qua nhiều cách khác nhau nhƣ ngầm dùng cái này để ám chỉ cái khác, hoặc cũng có thể là dùng cách nói vòng vo tam quốc để ám chỉ điều cần nói tới. Hơn thế nữa, ngƣời Việt Nam với lối sống trọng tình, thích giao tiếp, thích nói năng với nhiều lối dẫn dắt, nói gần nói xa thì việc dùng cách nói này để ngầm chỉ ý khác cũng là hiện tƣợng thƣờng thấy. Thêm vào đó, với những đặc trƣng văn hóa nông nghiệp nói chung, và những đặc trƣng riêng của dân tộc Việt Nam, dùng lối nói vòng để thể hiện một ngầm ý cũng có những đặc trƣng rất riêng đáng để đƣợc quan tâm và nghiên cứu về cả mặt lý thuyết và thực tiễn.
Lý do lý luận Nhƣ đã biết, ngữ dụng học là ngành khoa học nghiên cứu ngữ nghĩa trong bối cảnh giao tiếp. Trong địa hạt của Ngữ dụng học, lý thuyết về ý nghĩa hầm ẩn (theory of implicit meaning) là một trong những lĩnh vực quan trọng nằm trong phạm vi nghiên cứu, bên cạnh các lĩnh vực nhƣ chiếu vật, hành vi 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ngôn ngữ, hội thoại,… Và trong hầu hết các giáo trình về Ngữ dụng học, lý thuyết về ý nghĩa hàm ẩn luôn nằm ở vị trí sau cùng chắc bởi để nghiên cứu về nó cần có tri thức của các lĩnh vực khác. Có lẽ bởi vậy, các công trình nghiên cứu về lĩnh vực này chƣa nhiều. Mặt khác, nhƣ đã nói, trong quá trình giao tiếp, ngôn ngữ „hiện hình‟ qua các thông điệp mà các bên giao tiếp trao đổi với nhau nhằm đạt đƣợc mục đích nào đó, có lúc thật hiển hiện, dễ hiểu (đƣợc gọi là hiển ngôn) song cũng có lúc để hiểu đƣợc nó cần trải qua suy nghĩ, suy luận,… (đƣợc gọi là hàm ngôn, hàm ý, nghĩa hàm ẩn).
Tần suất xuất hiện của các nghĩa hàm ẩn trong hoạt động giao tiếp là rất nhiều. Song những nghiên cứu về nghĩa hàm ẩn lại chƣa tƣơng xứng với tần suất ấy. Thêm vào đó, một trong những vấn đề quan trọng mà Ngữ dụng học đề cập đến chính là vấn đề về hành vi ngôn ngữ. Trong khi nghiên cứu các hành vi ngôn ngữ, Searle đã từng đề cập tới lối nói vòng: Người nghe nhận ra một hành vi gián tiếp như thế nào khi mà người ta được nghe một điều hoàn toàn khác [54, 11].
Là một vấn đề chức năng của đơn vị ngôn ngữ trong hoạt động giao tiếp, một vấn đề mà lý thuyết về hành vi ngôn ngữ có thể soi sáng, song lối nói vòng lại chƣa thực sự đƣợc các nhà nghiên cứu quan tâm nhiều. Với những lý do thực tiễn và lý luận nêu trên, ngƣời viết quyết định chọn đề tài “Khảo sát nghĩa hàm ẩn qua các lối nói vòng trong một số tiểu thuyết của Nhà xuất bản Công an nhân dân” với hi vọng nghiên cứu này qua những thống kê và chỉ ra các kiểu nói vòng nhƣ một cách biểu hiện của nghĩa hàm ẩn, sẽ góp phần lý giải về một số nhân tố ảnh hƣởng tới việc nói và hiểu trong giao tiếp hội thoại, qua đó giúp chúng ta hiểu một cách sâu sắc hơn về một phƣơng diện quan trọng trong giao tiếp, đó là cách biểu đạt ý nghĩa hàm ẩn qua lối nói vòng - một lối nói quen thuộc đƣợc khá nhiều ngƣời dân Việt Nam ƣa dùng. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2.1 Lịch sử nghiên cứu về nghĩa hàm ẩn Lý thuyết về nghĩa hàm ẩn là một trong những lĩnh vực nghiên cứu của ngữ dụng học, bởi vậy, lịch sử nghiên cứu về nghĩa hàm ẩn luôn đi cùng với việc nghiên cứu của khuynh hƣớng Ngữ dụng học.
Grice là ngƣời đầu tiên đặt nền móng cho lý thuyết về ý nghĩa hàm ẩn khi ông phân biệt ý nghĩa không tự nhiên (non-natural meaning) và ý nghĩa tự nhiên (natural meaning), giữa hàm ẩn ước định (conventinonal implicature) và hàm ẩn hội thoại (conversational implicature). Ông cho rằng có một hiện tƣợng thƣờng xảy ra trong khi giao tiếp là khi ta nói ra điều này nhƣng thực chất là muốn nói tới điều khác và theo ông đó là Hàm ngôn hội thoại (hàm ẩn hội thoại - conversational implicature). Hàm ngôn này đƣợc sinh ra khi ngƣời nói vi phạm một trong bốn quy tắc Cộng tác hội thoại (Lƣợng, Chất, Quan hệ, Cách thức). Ở Việt Nam, vấn đề về ý nghĩa hàm ẩn đƣợc tiếp cận trong mối tƣơng quan với các lý thuyết khác nhƣ lý thuyết chiếu vật, chỉ xuất, lý thuyết hội thoại, lý thuyết hành vi ngôn ngữ, lý thuyết lập luận,… cũng nhƣ những lĩnh vực của Ngữ dụng học.
Nới tới Ngữ dụng học, cần nhắc tới các công trình tiêu biểu nhƣ: Nguyễn Đức Dân, Ngữ dụng học, Tập 1, Nxb. Giáo dục, 1998; Đỗ Hữu Châu, Đại cương ngôn ngữ học, Tập II - Ngữ dụng học, Nxb Giáo dục, 2001; Nguyễn Thiện Giáp, Giáo trình ngôn ngữ học, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2008; Hồ Lê (1996), Quy luật ngôn ngữ - Q.2-Tính quy luật của cơ chế ngôn giao, Nxb. Khoa học xã hội, Tp.
Hồ Chí Minh… Ngoài ra còn có một số chuyên đề, luận án, bài viết bàn về ý nghĩa hàm ẩn (trực tiếp hoặc gián tiếp) nhƣ: Ý nghĩa của hàm ngôn – Hoàng Phê; Nghĩa tường minh và nghĩa hàm ẩn – Cao Xuân Hạo; Về hàm ngôn quy ước (trên tư 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com liệu tiếng Việt) – Nguyễn Văn Hiệp; Ý tại ngôn ngoại – nhũng thông tin chìm trong ngôn ngữ báo chí – Nguyễn Đức Dân; Phương thức chiếu vật mơ hồ hàm ẩn trong phát ngôn tiếng Việt - Huỳnh Công Hiển ; Những phương thức cấu tạo hàm ngôn trong hội thoại – Đỗ Thị Kim Liên;… Đặc biệt trong đó, Hoàng Phê đã đƣa ra ý kiến rất đáng lƣu ý là: Khi một lời nói có hàm ngôn thì ý hàm ngôn thƣờng là quan trọng, thậm chí có khi hiển ngôn chỉ là dùng để nói hàm ngôn, ý hàm ngôn mới là ý chính. Tuy chƣa có công trình nào nâng Lý thuyết về ý nghĩa hàm ngôn lên thành một phạm trù lý thuyết tƣơng xứng với các vấn đề cần quan tâm song các tác giả nói trên đề đã góp phần làm cho bức tranh về nghĩa hàm ẩn ngày càng trở nên rõ ràng hơn và dễ hiểu hơn.2 Lịch sử nghiên cứu về nghĩa hàm ẩn qua các lối nói vòng Lối nói vòng tồn tại trong lời nói nhƣ một điều hiển nhiên, quen thuộc, song cho tới nay, trên phƣơng diện nghiên cứu ngôn ngữ học, đây vẫn là một hiện tƣợng còn bỏ ngỏ, chƣa có bất kỳ công trình chuyên sâu và tƣờng minh nào nghiên cứu. Mặc dù, trong một số công trình lớn nhỏ khác nhau của một số nhà nghiên cứu đã nhắc đến tên nó. Ví dụ nhƣ các thuật ngữ về nói giảm, nói tránh, uyển ngữ, nhã ngữ,… trong một số công trình của các tác giả nhƣ Cù Đình Tú (1983), Đinh Trong Lạc (1994, 1995), Hữu Đạt (2000, 2001),… hay trong luận án tiến sỹ của Trƣơng Viên (ĐHQG HN, 2003) “Nghiên cứu uyển ngữ trong tiếng Anh và việc chuyển dịch sang tiếng Việt”.
Qua việc xem xét uyển ngữ trên ba phƣơng diện từ vựng, phong cách học và ngữ dụng học, tác giả này đã rút ra kết luận là: Về mặt từ vựng, Uyển ngữ bằng một từ hay một đơn vị đồng nghĩa, một ngữ phối hợp nằm trong một nhóm đồng nghĩa hay một trƣờng nghĩa; về mặt phong cách học, Uyển ngữ là một biện pháp tu từ xuất hiện trong các phong cách chức năng nhằm mục đích lịch sự, tế nhị, thẩm mỹ; về mặt ngữ dụng học, 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Uyển ngữ nhƣ một hành động lời nói hoặc một yếu tố ngôn ngữ tạo thành hành động lời nói. Những khái niệm nói trên thực sự mới chỉ đƣợc nghiên cứu chủ yếu trên cấp độ câu và dƣới câu. Còn với cấp độ diễn ngôn, lối nói vòng vẫn là một khái niệm chƣa tƣờng minh và có nhiều đồng nhất với hàm ngôn. Bởi vậy lối nói vòng thƣờng đƣợc nhắc đến trong sự đồng nhất hoặc bao hàm từ việc nghiên cứu hàm ngôn.
Mặc dù thực chất giữa chúng vừa có sự giống nhau lại có sự khác biệt. Hiển ngôn là cái dễ nhận ra với cơ chế sử dụng hết sức đơn giản, còn hàm ngôn là ý nghĩa sâu sắc hơn, thuộc sự kiện bề sâu, với cơ chế hàm ẩn riêng. Lối nói vòng tận dụng đƣợc đặc trƣng trên của cả hiển ngôn và hàm ngôn. Chính bởi vậy, việc nghiên cứu chuyên sâu về hàm ngôn, hay cơ chế hàm ẩn của nó giúp ích rất nhiều trong việc khám phá, tìm hiểu và nghiên cứu chuyên sâu về lối nói vòng, đặc biệt trên bình diện Ngữ dụng học.
Về lịch sử việc nghiên cứu hàm ngôn, hàm ý, phần 3.1 trong luận văn này đã đề cập đầy đủ, chỉ xin đƣợc nêu thêm một số kết quả nghiên cứu quan trọng có liên quan chặt chẽ hơn tới lối nói vòng nhƣ sau. Đỗ Hữu Châu trong [5] đã đề cập đến cái nền hàm ẩn của câu và ý nghĩa hàm ẩn liên hệ đến thông điệp miêu tả của P của câu. Hồ Lê thì nói về Lối nói khúc xạ trong sự đối lập với lối nói thẳng đồng thời cho rằng đó là tên gọi dùng trong sinh hoạt bình thƣờng. Trong cuốn Phương pháp nghiên cứu cú pháp, ông có nhắc tới sự nói vòng nhƣng lại không giới thuyết về nó[29].
Các nghiên cứu còn cho thấy, lối nói vòng có quan hệ trực tiếp với hành vi ngôn ngữ gián tiếp. Nhƣ Searle đã đề cập: Người nghe nhận ra một hành vi gián tiếp như thế nào khi mà người ta được nghe một điều hoàn toàn khác? Cách hiểu một hành vi gián tiếp khác với cách hiểu một hành vi tại lời trực 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tiếp thế nào? [47, 65].