CHƯƠNG 1 DAT VAN DE Cay Dau tuong (Glycine max(L)Merrill) đã được biết đến và trồng từ rất lâu đời. Cây Đậu tương đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thức ăn cho người và gia súc, là nguyên liệu cho các ngành chế biến như: tỉnh chế khô dầu, tỉnh dầu, sữa đậu nành, bánh kẹo. Giá kinh r†ế chủ yếu của cây Đậu tương quyết định bởi thành phần dinh dưỡng. hạt bao gồm protein chiếm 40%, lipit chiếm 18 -25%, gluxit chiém, 10 =15%.
Trong hat Đậu tương còn chứa đầy đủ và cân đối các loại axitamin, đặc biệt là các axit amin không thẻ thay thế cần thiết cho cơ thể con người như triptophan, leuxin, Izolơxin, valin, lizin và methiomin, ngoài òn có các vitamin BI, B2, D, K,. Bên cạnh đó, do có khả năng có định đạm tự do nhờ cộng sinh véi vi khuan Rhizobium japonicum ma Dau tương còn là cây trồng có khả năng cải tạo đất rất tốt. Ở nước ta, trong những năm này tình finn sản xuắt, tiêu thụ và chế biến Đậu tương đang có xu hướng th; hanh nhờ khai thác được những lợi thế nổi bật của nó. Đậu tương, “đã và đang Chiém một vai trò hết sức quan trong trong hệ thống sản xuất cây: lương thực: và thực phẩm, xứng đáng là cây trồng hiện đại có nhiều triển vọng và ©ó xu hướng phát triển thành cây trồng chính không chỉ ở đồng bằng mà cả miền núi.
Do đó, công tác chọn tạo giống Đậu tương ở Việt Nam ngày càng‹được chú trọng và đã xây dựng nhiều trạm, trại nghiên cứu thí nghiệm về \ đậu tương ở nhiều vùng, miễn trong cả nước như: Định Tường. với mục tiêu chủ yar là chọn tao được giống Đậu tương có năng suất cao, chống chịu sâu bệnh tốt và phù hợp với từng vùng sinh thái nhất định. Đường Lâm là một trong những địa phương có diện tích trồng Đậu tương điển hình của Sơn Tây. Trong những năm qua nhờ công tác chuyển đổi cơ cấu cây trồng mà hiệu quả kinh tế của sản xuất nông nghiệp đã mang lại những thành công nhất định.
Trong cơ cấu cây trồng của Sơn Tây, cây Đậu 1 tương có vai trò quan trọng trong hệ thống luân canh tăng vụ cây trồng. Mặc dù Đậu tương đã được sản xuắt từ lâu nhưng năng suắt, sản lượng Đậu tương của Sơn Tây còn hạn chế. Nguyên nhân chính là do bộ giống không ổn định, không có nguồn gốc rõ ràng. Mặt khác, diện tích đất gò đồi tại xã Đường Lâm nhiều, nhưng sử dụng chưa hiệu quả.
Xuất phát từ những thực tế trên, để góp phần nâng-cao Đăng suất, sản lượng Đậu tương của địa phương, đặc biệt là nâng hiệu quả sử dụng đất trên đất gò đồi, chúng tôi thực hiện đề tài: “& bớt“một số giống Đậu tương trên đất gò đồi trong điều kiện vụ Đô Đường Lâm, thị xã „ Sơn Tây, Hà Nội”. és = CHƯƠNG 2 TONG QUAN VAN DE NGHIEN CUU 2. Đặc điểm sinh thái học của cây Đậu tương 2. Đặc điểm sinh trưởng, phát triển Quá trình sinh trưởng và phát triển của Đậu tương được phân ra làm 4 giai đoạn sau: - Giai đoạn nảy mầm: Giai đoạn này được tf.
từ khi gieo hạt giống xuống đất, hạt hút âm trương lên, rễ mọc ra, thân vươn lên đội hai lá mầm lên khỏi mặt đất, lá mầm xoè ra. Thời kỳ này hai ụ en bắt đầu mọc đối xứng trên vị trí hai lá mầm, thân mầm tiếp tục phát triển (thành thân chính. Nảy mầm là giai đoạn đầu tiên của quá trình sinh b2 và phát triển của cây Đậu tương, yêu cầu của giai đoạn này phải đủ nước, nhiệt độ và oxy thích hợp. ~ Giai đoạn cây con: Giai đoạnnày được tính từ khi cây có 1 — 2 lá kép và căn bản kết thúc lúc cây bắt đầu ra hoa.
Tốc độ tăng trưởng thân, lá trong thời gian đầu của giai đoạn này tương đối chậm, chỉ tới khi xuất hiện lớp rễ thứ 2 và sắp ra nụ ra hoa m ới bất đầu tăng nhanh. Giai đoạn này rất quan trọng bởi nó ảnh hưởng tới khả năng, phân hoá mầm hoa của Đậu tương. Thời kỳ này nốt sằn cũng bắt đâu được hình thành và khả năng cố định nitơ dần dần được tăng lên. J - Giai doan 1a,hoa: Các mắm nách phát triển thành các chùm hoa, mỗi chùm hoa có thể có 2 35 hoa tuỳ theo giống và vị trí trên cây.
Thời kỳ nở hoa của cây Đậu tương, ¡ tuỳ theo giống và mùa vụ, vụ đông có thời gian nở hoa r(gắn nhất vụ hè thời gian nở hoa dài nhất. Đậu tương có nhiều hoa nhưng tỷ ke biệu không cao, có tới 70-80% số hoa bị thui chột và rụng, những Hỏa nế hồng, thời kỳ ra hoa rộ thường có tỷ lệ đậu quả cao nhất. - Giai đoạn tạo quả: Đây là lúc hình thành quả và hạt của Đậu tương. Giữa thời kỳ nở hoa với thời kỳ hình thành quả và hạt không có ranh giới rõ ràng.
Lúc đầu quả và hạt lớn chậm, tốc độ lớn của quả tăng nhanh từ sau khi kết thúc hoa. Tốc độ tích lãy chất khô của hạt tăng nhanh đều cho tới khi hạt vào chắc. Số lượng và kích thước tối đa của hạt trong từng giống do yếu tố di truyền quy định, nhưng số lượng và kích thước hạt thực tế lại do điều kiện 3 ngoại cảnh thời kỳ hạt mẫy quyết định. Thời kỳ quả mấy là thời kỳ quan trọng chủ yếu tạo năng suất.
Năng lượng do quang tông hợp lúc này một phần được chuyển tích luỹ vào hạt, phần còn lại để nuôi các hoạt động sống (cho hô hap, cho sinh trưởng dinh dưỡng, cho cố định đạm .) do đó nếu giai đoạn này có sinh trưởng dinh dưỡng quá mạnh thời kỳ này sẽ ảnh hưởng đến tỷ lệ đậu quả và số quả chắc. Yêu cầu sinh thái của cây Đậu tương. Q - Nhiệt độ: Chế độ và lượng nhiệt có ảnh hưởng sốt sắc đến sinh trưởng, phát triển và các quá trình sinh lí,sinh hơi \ L diễn ra. Trong quá trình sinh trưởng và phát triển của Đậu tươn, Madang độ biến động cao hơn hoặc thấp hơn các giới hạn thích hợp qấ nhiều đều ; gây ra những tác hại đối với cây.
Trong mỗi giai đoạn sinh trưởng š Kháơc lau, cây yêu cầu một khoảng nhiệt độ khác nhau như: nhiệt độ thích hợp ở ở giai đoạn mọc là 22 — 25°C, giai đoạn cây con: 20— 30°C, giai đoạn ra hoa và đậu quả: 21 - 23°C. - Nước: trong suốt quá trình sinh trưởng. va phat triển của Đậu tương, nhu cầu nước dao động từ 350— 800mm. TE các giai đoạn sinh trưởng khác nhau thì yêu cầu lượng nướccủa Đậu tương khác nhau.
Thường nhu cầu nước của Đậu tương tăng dần theo thời kỳ sinh trưởng, giai đoạn quả mây yêu cầu Ả lượng nước lớn nhất, nếu hạn thời kỳ. này sẽ làm giảm năng suất nghiêm trọng. - Anh sáng: Là y Wer hưởng đến sinh trưởng của cây trồng chủ yếu qua quang hợp. Đậu (ương phân ứng với ánh sáng ở hai khía cạnh là thời gian chiếu sáng trong ñgày Về cường độ ánh sáng.
Đậu tương là cây ngắn ngày điển hình, để ra hoa và kết quả được cây đòi hỏi phải có điều kiện ngày ngắn. Tréng Dau tir 1gtroag điều kiện ánh sáng yếu thì làm cho thân cây bịvống, Am còi cọc, giảtñ SỐ cành dẫn đến năng suất thấp. - Đất a pay Bau tương không yêu cầu nghiêm khắc về đất trồng, loại đất trồng thích hợp nhất là đất có tầng canh tác sâu, giàu chất hữu cơ và pH trung tính, mực nước ngầm sâu, giữ âm tốt, dễ thoát nước. - Dinh dưỡng: trong suốt quá trình sinh trưởng và phát triển, Đậu tương cũng cần được cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết, trong đó quan trọng nhất là các nguyên tố đa lượng như N, P, K.
Ngoài lượng đạm có được từ quá trình cố định dam cây cũng cần được cung cấp đạm sớm đẻ thúc đây quá trình sinh trưởng trước thời gian cố định đạm ban đầu. Ngoài ra, Đậu tương còn chịu ảnh hưởng rat lớn bởi các nguyên tố vi lượng nhu Mo, Cu. Tình hình sản xuất Đậu tương trên thế giới và Việt Nam 2.1 Tình hình sản xuất Đậu tương trên thế giới Trên thế giới, Đậu tương đứng thứ 4 sau 3 cây là lúa mỳ, lúa nước, ngô về diện tích. Ngoài ra Đậu tương còn giữ vai trò quan.
Arong tron các cây lay dầu của thế giới, tiếp đó là lạc, hướng dương. Do có giả trị về nhiều mặt mà diện tích trồng và năng suất đậu tương không, ngừng tăng lên: Vào năm 1981 thì diện tích Đậu tương cả thế giới là 50,47 trigu hayva sả lượng đạt được §6,93 triệu tấn. Sau 20 năm vào năm 2001 thì điện tích đã tăng lên 76,83 triệu ha, tập trung nhiều nhất ở Châu Mỹ (73,03%), tiếp đến là Châu Á (23,15%), sản lượng chung của thế giới đạt được 177,33 triệu tấn. Đến năm 2009, diện tích trồng Đậu tương là 98,83 triệu ha, có năng suất 22,49 tạ/ ha và đạt sản lượng 222,27 triệu tấn.
So với năm 2008, năm 2009 điện tích tăng lên 2,65 triệu ha (2,76%), nhưng năng suất 'Và sản lượng. có xu hướng giảm, cụ thể sản lượng giảm 8,31 triệu tấn (3,60%), năng suất giảm 1,48 tạ/ha (6,17%), nguyên nhân chủ yếu do năng suất, sản lượng của các nước giảm đặc biệt là của hai nước Brazil và Argentina, đây là hai nước có diện tích, sản lượng, năng suất gần đứng đầu thế giới chỉ sau Mỹ. ~—ˆ Diện tích, năng suất và sẵn lượng Đậu tương của toàn thế giới được trinh bay cy thé trong bang 2. Điện tích,năng suất và sản lượng Đậu tương trên thế giới (2005- 2009) Năm ees ha) | Năng suất ( tạ/ ha) | Sản lượng ( triệu tấn) 2005 92,43 23,18 214,25 2006 94,93 23,43 222,42 2007 94,90 22,78 216,14 2008 96,18 23,97 230,58 2009 98,83 22,49 222,27 (Nguén:FAOSTAT.ORG) Nhìn chung, tổng diện tích trồng Đậu tương của thế giới tăng dần qua các năm, so với năm 2005, năm 2009 diện tích tăng lên 6,4 triệu ha (tăng 6,92%).
Tuy nhiên, năng suất và sản lượng Đậu tương chung của thế giới năm 2009 giảm so với năm 2008. Các nước có nhiều diện tích trồng Đậu tương là: Mỹ, Brazil, Trung Quốc, Indonexia, Argentina, Liên Xô cũ. Trong đó Mỹ-là nước đứng đầu thế giới về sản xuất Đậu tương trong những năm quá, ếp đó lá Brazin, đến Argentina, Trung Quốc.