mở đầu cho quá trình đó. Chúng có khả năng kháng kim loại nặng, khảng khuẩn và làm giảm các gốc hữu cơ thông SVTH: ĐÀM THỊ PHÚC Trang 4 Khoá Luận Tốt Nghiệp GVHD: ThS. DƯƠNG NHẬT LINH qua tiếp xúc với các hợp chất có trong thực vật và đất nơi chúng cư trú (Germaine và cs. Ngày càng có nhiều quan tâm trong việc phát triển các ứng dụng tiềm năng công nghệ sinh học của vi sinh vật nội sinh để phát triển các giống cây trồng có khả năng khử độc đồng thời có khả năng sản xuất sinh khối và nhiên liệu sinh học.
Phân loại vi sinh vật nội sinh Vi sinh vật nội sinh được chia thành hai loại chính: vi sinh vật nội sinh bắt buộc và vi sinh vật nội sinh tuỳ ý. Vi sinh vật nội sinh tuỳ ý có khả năng tồn tại trong đất, trên bề mặt cây trồng, bên trong thực vật cũng như trên các chất dinh dưỡng nhân tạo (Baldani và cs., 1997) và vi sinh vật sống bên trong mô thực vật trong suốt vòng đời của chúng được gọi là vi sinh vật nội sinh bắt buộc (Stoltzfus và cs. Vi sinh vật nội sinh tuỳ ý được phân bố rộng rãi trên toàn giới thực vật và có thể được phân lập từ các loài thực vật khác nhau. Vi sinh vật nội sinh cũng được báo cáo là có ở cả một số loài thực vật và cây con nuôi cấy in vitro.
Nguồn gốc, phân bố và đa dạng sinh học của vi sinh vật nội sinh Bằng chứng về mối quan hệ giữa vi sinh vật và thực vật được tìm thấy trong các mô hóa thạch của thân và lá đã chứng minh rằng các mối quan hệ giữa vi sinh vật nội sinh và thực vật có thể đã tiến hóa từ thời thực vật bậc cao đầu tiên xuất hiện trên Trái Đất (Redecker và cs. Sự tồn tại của nấm bên trong các cơ quan của thực vật mà không gây triệu chứng đã được biết đến từ cuối thế kỷ XIX và thuật ngữ ''endophyte'' lần đầu tiên được De Bary đề xuất vào năm 1866 (De Bary, 1866). Kể từ khi vi sinh vật nội sinh được mô tả lần đầu tiên trong cây cỏ mọc lẫn với lúa (Lolium temulentum) (Freeman, 1904). Vi sinh vật nội sinh có thể được phân lập từ các cơ quan khác nhau của các loài thực vật khác nhau (Arnold, 2007), cho đến nay, tất cả các loài thực vật nghiên cứu đã được tìm thấy chứa ít nhất một vi sinh vật nội sinh.
Để tự bảo vệ mình trước những tác động của môi trường, các vi khuẩn nội sinh tạo thành những ổ vi khuẩn, xâm chiếm và nội sinh trên đốt cây. Những vi khuẩn này thường di chuyển đến vùng không gian ở giữa các tế bào, chúng có thể được phân lập từ tất cả các bộ phận của cây, bao gồm cả hạt giống (Posada và cs., SVTH: ĐÀM THỊ PHÚC Trang 5 Khoá Luận Tốt Nghiệp GVHD: ThS. DƯƠNG NHẬT LINH 2005). Vi khuẩn nội sinh được phân lập từ cây một lá mầm tới cây hai lá mầm, từ những loài cây thân gỗ, như gỗ sồi và lê, cây thân thảo tới cây lương thực như củ cải đường và ngô.
Những nghiên cứu cổ điển về sự đa dạng của vi khuẩn nội sinh chỉ tập trung vào phương pháp phân lập chúng từ các mô nội sinh sau khi khử trùng bề mặt thực vật với hypochlorite natri hoặc các hóa chất tương tự (Miche và cs. Một nghiên cứu của Lodewyckx và cộng sự (2002) nêu lên phương pháp phân lập và mô tả đặc điểm vi khuẩn nội sinh từ các loài thực vật khác nhau. Dựa trên nền tảng nghiên cứu của Hallmann và cộng sự (1997); Lodewyckx và cộng sự (2002), Berg và Hallmann (2006) đã công bố một danh sách đầy đủ của vi khuẩn nội sinh được phân lập từ một loạt các bộ phận của cây.000 loài thực vật tồn tại trên Trái Đất, mỗi loài là một cây chủ cho một đến nhiều các dạng nội sinh cư trú. Chỉ có một số loài thực vật được nghiên cứu hoàn chỉnh về các mối quan hệ nội sinh của chúng.
Do đó cơ hội nghiên cứu và tìm ra các dạng nội sinh mới và có lợi trong sự đa dạng sinh học của các hệ sinh thái khác nhau là đáng kể (Strobel và cs. Quan hệ giữa vi sinh vật nội sinh và thực vật Vi sinh vật nội sinh xuất phát từ một bệnh lý thực vật trong quá trình tiến hóa của cây. Trên cây có những hệ vi sinh vật trong đó có những chủng tồn tại và chỉ gây bệnh khi cây già yếu hoặc điều kiện bất lợi. Sự tương tác giữa thực vật chủ và vi sinh vật gây bệnh trong suốt quá trình phát triển lâu dài dẫn đến việc xuất hiện đột biến gen từ những vi sinh vật gây bệnh thành những chủng vi sinh vật hữu ích.
Vi sinh vật nội sinh là một tác nhân cân bằng hệ vi sinh vật trên thực vật chủ nhằm ngăn chặn những tác nhân vi sinh vật gây bệnh (Strobel, 2003). Vi sinh vật nội sinh được tìm thấy trong hầu hết các loài thực vật trên Trái Đất, chúng cư trú ở trong nội mô và giữa chúng hình thành một loạt các mối quan hệ khác nhau như cộng sinh, tương hỗ, cộng sinh dinh dưỡng, hội sinh,…Các dạng nội kí sinh này đa phần xuất hiện từ vùng rễ hay bề mặt lá. Tuy nhiên, một số loài có thể kí sinh trong hạt. Vi sinh vật nội sinh thúc đẩy thực vật tăng trưởng, tăng năng suất và đóng vai trò như một tác nhân điều hòa sinh học (Strobel, 2003).
Những tương tác có lợi giữa thực vật – vi sinh vật nội sinh như thúc đẩy sự phát triển, tăng sức đề kháng của cây SVTH: ĐÀM THỊ PHÚC Trang 6 Khoá Luận Tốt Nghiệp GVHD: ThS. DƯƠNG NHẬT LINH trồng, vấn đề này đang được các nhà nghiên cứu quan tâm như nghiên cứu vi sinh vật nội sinh và các hợp chất hóa học có hoạt tính kháng nấm gây bệnh ở các dòng Keo tai tượng khảo nghiệm tại Thừa Thiên Huế (Phạm Quang Thu và cs. Vi sinh vật nội sinh cư trú trong các mô của thực vật sống, được nghiên cứu và có tiềm năng của sản phẩm tự nhiên mới để khai thác trong y học, nông nghiệp và công nghiệp. Có khoảng 300 000 loài thực vật tồn tại trên Trái Đất, mỗi loài là một ký chủ cho một đến nhiều dạng nội sinh cư trú.
Chỉ có một số loài thực vật được nghiên cứu hoàn chỉnh về mối quan hệ nội ký sinh của chúng. Do đó cơ hội nghiên cứu và tìm ra các dạng nội ký sinh mới và có lợi trong sự đa dạng sinh học của các hệ sinh thái khác là rất đáng kể (Strobel, 2003). Vi sinh vật nội sinh cư trú trong hệ sinh thái thích hợp tương tự như các chồi mầm ở thực vật, điều này làm cho chúng trở thành các tác nhân kiểm soát sinh học (Berg và cs. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng vi sinh vật nội sinh có khả năng kiểm soát mầm bệnh trên thực vật.
Năm 2009, Gazis và cộng sự đã phân lập vi khuẩn nội sinh mới kiểm soát sinh học chống lại các tác nhân gây bệnh rụng lá trên cây cao su (Hevea brasiliensis) tại Peru. Trong một số trường hợp vi khuẩn nội sinh đẩy mạnh tốc độ nảy mầm của hạt, thúc đẩy sự hình thành cây con trong điều kiện bất lợi và nâng cao khả năng tăng trưởng của thực vật (Chanway, 1997). Bên cạnh đó, vi sinh vật nội sinh còn có khả năng ngăn chặn mầm bệnh phát triển bằng cách tổng hợp các chất nội sinh trung gian, qua đó để tiếp tục tổng hợp các chất chuyển hóa và các hợp chất hữu cơ mới. Nghiên cứu chế phẩm sản sinh chất chuyển hóa mới trong sự đa dạng sinh học của vi sinh vật nội sinh có thể phát hiện các loại thuốc mới để điều trị có hiệu quả cả bệnh ở người, thực vật và động vật (Strobel và cs.
Trên thế giới có vô số loài thực vật với số lượng khổng lồ, do đó không thể đưa vào thí nghiệm một cách chủ quan hay ngẫu nhiên. Vì vậy, cần có nguyên tắc lựa chọn nhất định, phù hợp với mục đích để có được nguồn vi sinh vật nội sinh hữu ích, có tính ứng dụng cao (Strobel và cs. Tình hình nghiên cứu trong nước Đã có nhiều nghiên cứu về vi khuẩn nội sinh trong các loài cây ở Việt Nam như Cao Ngọc Điệp và Nguyễn Ái Chi (2009) đã phân lập được vi khuẩn nội sinh trong SVTH: ĐÀM THỊ PHÚC Trang 7 Khoá Luận Tốt Nghiệp GVHD: ThS. DƯƠNG NHẬT LINH cây bắp trồng trên đất xám Tây Ninh, Cao Ngọc Điệp và Nguyễn Thành Dũng (2010) phân lập vi khuẩn nội sinh trong cây khóm trồng trên đất phèn huyện Bến Lức, tỉnh Long An và huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang (Cao Ngọc Điệp và Nguyễn Thành Dũng, 2010).
Vũ Văn Định (2008) phân lập vi khuẩn nội sinh có khả năng phòng trừ bệnh đốm lá, khô cành ngọn keo lai (Acacia auriculiculiformis x Acacia mangium) do nấm Colletotrichum gloeosporioides (Penz.; Phạm Quang Thu, Nguyễn Hoàng Nghĩa, Trần Xuân Hưng và Nguyễn Văn Nam (2012) nghiên cứu vi sinh vật nội sinh và các hợp chất hóa học có hoạt tính kháng nấm gây bệnh ở các dòng keo tai tượng (Acacia mangium). Tình hình nghiên cứu trên thế giới Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng vi sinh vật nội sinh gây tác động có lợi trên các cây chủ. Chẳng hạn như vi khuẩn nội sinh kích thích tăng trưởng thực vật, cố định đạm (Kirchhorf và cs., 2000), đề kháng với chất cảm ứng thực vật của tác nhân gây bệnh (Chen và cs. Nghiên cứu của Chanway (1997) chỉ ra rằng trong một số trường hợp chúng có thể đẩy mạnh tốc độ nẩy mầm của hạt, thúc đẩy sự hình thành cây con trong điều kiện bất lợi và nâng cao khả năng tăng trưởng của thực vật.
Ngoài ra còn có một số vi khuẩn nội sinh đã được phân lập từ cây họ đậu như cỏ linh lăng (Gagne và cs., 2000), cỏ ba lá (Sturz và cs., 2002) và hạt đậu (Elvira- Recuenco và van Vuurde, 2000). Như năm 2002, Sturz và cộng sự đã chỉ ra rằng vi khuẩn nội sinh được phân lập từ sự đa dạng lớn của thực vật. Năm 1985 Laydon và cộng sự, chỉ ra rằng nấm nội sinh thuộc họ Xylariacea có khả năng tổng hợp các chất chuyển hóa thứ cấp trong vật chủ của chi Fagus và các chất này ảnh hưởng đến các ấu trùng bọ cánh cứng. Theo Sherwood-Pike và cộng sự (1986) đã mô tả trong gỗ sồi (Quercus sp.), nấm Rhabdocline parkeri nội sinh chống lại côn trùng Contarinia sp (Sherwood-Pike và cs.