ĐẶT VẤN ĐỀ Ngộ độc thực phẩm là một vấn đề nhức nhối không chỉ ở Việt Nam mà là vấn đề chung của toàn cầu. Độc tố botulinum được sản sinh bởi vi khuẩn Clostridium botulinum (C. botulinum) có thể xuất hiện trong thực phẩm, và gây nên bệnh ngộ độc thịt sau khi ăn phải. Các trường hợp ngộ độc C.
botulinum ở người chủ yếu do hai loại độc tố type A, B. Tại Mỹ mỗi năm có 70 – 100 trường hợp ngộ độc thịt được báo cáo, Nhật Bản và rất nhiều quốc gia khác trên thế giới đã có thống kê về ngộ độc C. Theo báo cáo của trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC) cho thấy khoảng 15% trong số 145 trường hợp ngộ độc thịt được báo cáo trong năm 2011 là do thực phẩm (2). Tại việt Nam đầu năm 2020 trên phạm vi nhiều tỉnh thành của cả nước đã xuất hiện nhiều ca nghi ngờ ngộ độc thịt đến khám và điều trị (3).
Thực tế lâm sàng cho thấy bệnh ngộ độc thịt do độc tố thần kinh của C. botulinum mang tính cấp tính nặng, tiến triển nguy kịch rất nhanh, tỉ lệ tử vong và gây biến chứng rất cao vì vậy việc chẩn đoán nhanh, chính xác là điều kiện tiên quyết cứu sống người bệnh, giúp người bệnh phục hồi, giảm biến chứng. Hiện nay, có bốn loại xét nghiệm chính để chẩn đoán C. botulinum bao gồm xét nghiệm miễn dịch phát hiện độc tố, thử nghiệm gây chết chuột, nuôi cấy phân lập phát hiện độc tố C.
botulinum và phương pháp khuếch đại gen sinh độc tố (4). Xét nghiệm miễn dịch có ưu điểm nhanh, đơn giản nhưng độ nhạy, độ đặc hiệu thấp; thử nghiệm gây chết chuột có độ nhạy, đặc hiệu cao nhưng mất công sức, thao tác phức tạp, giá thành đắt và liên quan đến vấn đề y đức do sử dụng động vật sống làm thí nghiệm; nuôi cấy phân lập phát hiện độc tố C. botulinum cần thời gian dài. Do vậy các phương pháp này đều chưa đáp ứng được tính cấp thiết trong chẩn đoán ca bệnh ngộ độc do C.
Trong phương pháp khuếch đại gen sinh độc tố, quy trình LAMP là một kỹ thuật khuếch đại axit nucleic diễn ra ở điều kiện đẳng nhiệt (trong khoảng 60–65˚C). Khi được tối ưu, phản ứng LAMP có thể đạt ngưỡng bão hòa với nồng độ khuôn từ vài bản sao với thời gian dưới 30 phút, cho phép phát hiện nhanh hơn và giới hạn phát hiện thấp hơn 100 lần so với PCR (5). 2 Năm 2021, Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương (NIHE) đã thiết lập quy trình LAMP (thiết kế mồi, điều kiện phản ứng…) phát hiện nhanh gen độc tố của C. botulinum gây bệnh ngộ độc thịt.
Đây cũng là công trình nghiên cứu đầu tiên ứng dụng quy trình LAMP trong chẩn đoán bệnh ngộ thịt ở nước ta. Tuy nhiên, nhóm nghiên cứu chưa đánh giá các thông số xác nhận giá trị sử dụng phương pháp như giới hạn phát hiện, độ nhạy, đặc hiệu trên các mẫu lâm sàng để đánh giá ảnh hưởng của nền mẫu, quá trình tách chiết đến hiệu quả của quy trình LAMP. Do vậy, học viên tiến hành thực hiện đề tài nghiên cứu “Xác nhận giá trị sử dụng của quy trình LAMP phát hiện gen độc tố của vi khuẩn Clostridium botulinum type A, B”. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.
Xác định giới hạn phát hiện, độ nhạy, độ đặc hiệu, độ đúng, tỷ lệ dương tính giả, tỷ lệ âm tính giả của quy trình LAMP phát hiện gen độc tố của vi khuẩn C. So sánh thông số kỹ thuật (độ nhạy, độ đặc hiệu, độ đúng, tỷ lệ dương tính giả, tỷ lệ âm tính giả, hệ số kappa) quy trình LAMP và quy trình nuôi cấy phát hiện gen độc tố của vi khuẩn C. 4 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Vi khuẩn Clostridium botulinum 1.
Đặc điểm hình thể và tính chất sinh vật hóa học Clostridium botulinum Clostridium botulinum (C. botulinum) là trực khuẩn kỵ khí, có khả năng di động và sinh nha bào. Nha bào hình oval, ở gần đầu tế bào, chỗ có nha bào bị phình ra. Trên tiêu bản nhuộm gram, vi khuẩn bắt màu gram dương, có hình dạng thẳng hoặc hơi cong, kích thước chiều rộng 0.6 – 22 µm, có nha bào ở gần tận cùng (Hình 1.
Hình ảnh vi khuẩn C. botulinum dƣới kính hiển vi điện tử (6). Tính chất nuôi cấy Vi khuẩn C. botulinum phát triển ở môi trường lỏng, sinh H2S và sinh mùi khó chịu với điều kiện thuận lợi trong thức ăn, vi khuẩn tiết ra ngoại độc tố thần kinh có độc tính rất cao, cao hơn hẳn độc tố của các vi khuẩn khác.
So với độc tố uốn ván, độc tố C. botulinum mạnh gấp 7 lần. Liều gây nhiễm tối thiểu là 104 – 105 CFU/g thực phẩm (4). botulinum tròn, bờ không đều và đường kính khoảng 3mm, nhưng đường kính có thể tăng đến 8mm sau thời gian ủ dài hơn.
Khuẩn lạc có thể 5 vồng lên hoặc dẹt, thô ráp hoặc trơn bóng và thường có xu hướng lan. Tuy nhiên, hình thái khuẩn lạc của các chủng thuần khiết thuộc giống Clostridium có thể rất khác nhau nên nuôi cấy thường bị nhầm lẫn. Khi cấy chuyển các khuẩn lạc thuần thì khuẩn lạc thường giống nhau gi a các nhóm khác nhau. Chủng vi khuẩn C.
botulinum sản sinh enzyme lipolytic (enzyme tiêu mỡ), tạo ra a xít béo tự do từ lòng đỏ trứng (trong thạch EYA) kết tủa phía dưới khuẩn lạc và tạo màng óng ánh (lớp ngọc trai – Hình 1.2) bao phủ khuẩn lạc. Một số chủng của nhóm III còn có khả năng sinh lecithinase (vùng kết tủa). Nhìn chung, khuẩn lạc của tất cả các nhóm C. botulinum thường được bao quanh bởi vòng tan máu hoàn toàn.
Nuôi cấy kỵ khí đặc trưng bởi mùi hôi thối do sinh a xít béo bay hơi, sản phẩm cuối cùng của amin và H2S (4). Hình ảnh khuẩn lạc C. botulinum trong nuôi cấy trên thạch EYA (7). Phân nhóm độc tố Dựa vào đặc điểm huyết thanh, độc tố thần kinh của C.
botulinum được chia thành các type độc tố kí hiệu từ A đến H và một số subtype. Tuy nhiên sự phân loại này đã lỗi thời mà dựa vào kiểu gen và kiểu hình người ta chia C. botulinum làm 4 nhóm khác nhau đánh số từ I – IV. botulinum nhóm I là nhóm ly giải protein và nhóm II là nhóm không ly giải protein (4).
Thông thường nhóm I, II gây bệnh trên người, nhóm III gây bệnh trên động vật, nhưng có xuất hiện ngoại lệ. Nhóm IV thường không gây bệnh, hiện nay được đổi tên thành C. Trong số 6 chủng gây bệnh trên người, chủng nhóm I sản sinh độc tố type A, B hoặc F và chủng nhóm II sinh độc tố type B, E hoặc F (4). Về cấu trúc phân tử độc tố C.
botulinum là protein lớn có trọng lượng phân tử type A và B lần lượt là 900 kDa và 150 kDa với hoạt tính của enzym zinc- endopeptidase (Hình 1. Phân tử độc tố thần kinh được tiết ra nguyên bản có chứa cả cấu phần độc tố cũng như cấu phần không độc tố. Cấu phần không độc tố bảo vệ cấu phần độc tố khỏi áp lực môi trường và hỗ trợ cấu phần độc tố thẩm thấu vào cơ thể. Phân tử độc tố thần kinh chứa 2 tiểu đơn vị gồm 1 chuỗi nặng và 1 chuỗi nhẹ (8, 9).
Hình ảnh cấu trúc phân tử độc tố C. Độc tố type A và B là hai type gây bệnh chủ yếu (11-13). Hiện nay có bốn phương pháp chính phát hiện và phân loại độc tố thần kinh bao gồm thử nghiệm gây chết chuột, phương pháp miễn dịch học, phương pháp sinh học phân tử (PCR, realtime PCR) và quy trình nuôi cấy phân lập phát hiện độc tố. Thử nghiệm chết chuột được coi là tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán xác định độc tố botulinum type A, B.
Tuy nhiên phương pháp này tốn kém, phức tạp và có liên quan đến vấn đề đạo đức do sử dụng động vật thí nghiệm nên chỉ được sử dụng hạn chế tại một vài phòng thí nghiệm trên thế giới. Phương pháp miễn dịch có độ nhạy và độ đặc hiệu 7 không cao. Phương pháp nuôi cấy phân lập phức tạp và gặp khó khăn trong việc định danh được vi khuẩn C. botulinum ngay cả trên nh ng hệ thống định danh tự động do C.
botulinum là vi khuẩn dùng làm vũ khí sinh học nên WHO, CDC Hoa kì quản lý chặt ch thư viện máy. Để định danh vi khuẩn và xác định type độc tố phương pháp PCR thường được áp dụng dựa trên nh ng cặp mồi đặc hiệu nhận biết sự có mặt của các ADN đặc hiệu quy định độc tố type A và B. Chính vì vậy các quy trình sinh học phân tử (PCR, realtime PCR) đang là phổ biến hiện nay để chẩn đoán và phân loại độc tố của vi khuẩn C. Thực phẩm thường gây ngộ độc C.
botulinum Vi khuẩn C. botulinum có mặt phổ biến trên thực phẩm đóng hộp, đặc biệt là thức ăn có độ acid thấp (pH> 4.5), đây là nguồn thực phẩm có nguy cơ cao nhiễm độc tố botulinum; 10% số ca ngộ độc do độc tố botulinum trong thực phẩm liên quan đến các sản phẩm thực phẩm chế biến thương mại. Độc tố botulinum được sinh ra do vi khuẩn C. botulinum trong môi trường kỵ khí Các sản phẩm từ rau, củ, quả, thịt, hải sản lên men, đóng hộp không đảm bảo điều kiện an toàn thực phẩm có nguy cơ bị nhiễm vi khuẩn C.
botulinum và sinh độc tố botulinum.Trong các vụ dịch bùng phát gây ra bởi hải sản, type E gây ra khoảng 50%; các type A và B gây ra phần còn lại (15). Một số ca lâm sàng khi ăn thực phẩm nướng còn thừa để ở nhiệt độ phòng hoặc để trong lò nướng qua đêm. Hầu hết bệnh ngộ độc thịt liên quan tới đồ hộp làm tại nhà, thực phẩm có độ a xít thấp, sản phẩm thịt như xúc xích, pa tê và giăm bông, cá muối hoặc cá lên men. Ngoài ra, các sản phẩm như s a chua lên men truyền thống thời gian dài, phô mai mềm, dầu tỏi và khoai tây bọc giấy bạc nướng cũng có thể gây bệnh ngộ độc thịt (16).
Trong khi hàm lượng độc tố trong mô của động vật vừa chết vẫn còn chưa rõ, một vài ca lâm sàng đã báo cáo do ăn các mô sống từ xác cá voi (17). Dịch tễ học của C. botulinum trên thế giới và tại Việt Nam 1. Trên thế giới Theo một báo cáo mới nhất của CDC trong năm 2017 tại hoa kỳ, 182 trường hợp ngộ độc thịt được các phòng thí nghiệm xác định đã được báo cáo cho CDC.