Tổng quan luận án
Công trình khoa học được khảo sát là luận án tiến sĩ ngữ văn của nghiên cứu sinh Phan Thị Tâm Thanh, thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Trần Văn Toàn, chuyên ngành Văn học Việt Nam, mã số 9.21, bảo vệ năm 2022. Đề tài luận án mang tên: Diễn ngôn về người phụ nữ trong văn xuôi nghệ thuật Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX (Khảo sát qua một số tác giả tiêu biểu).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu của đề tài được xác định từ thực tiễn lý luận và lịch sử văn học:
- Về mặt lý luận, trong một thời gian dài, dưới ảnh hưởng của chủ nghĩa cấu trúc, nghiên cứu văn học tại Việt Nam chủ yếu tập trung vào các mối quan hệ nội tại của văn bản mà xem nhẹ mối quan hệ tương tác giữa văn học với ý thức hệ xã hội. Việc tiếp nhận lý thuyết diễn ngôn đương đại (tiêu biểu từ các công trình của Michel Foucault, Mikhail Bakhtin) mở ra hướng nghiên cứu liên ngành, khám phá phương thức tác phẩm kiến tạo chân lý và thế giới quan theo các cấu trúc quyền lực/tri thức.
- Về mặt lịch sử văn học, giai đoạn 1900 - 1945 là thời kỳ giao thoa văn hóa Đông - Tây, khi các phong trào duy tân, dân quyền và giải phóng phụ nữ bùng nổ. Hình tượng người phụ nữ trở thành điểm quy chiếu của nhiều vấn đề giai cấp, dân tộc và luân lý xã hội. Dù đã có nhiều công trình nghiên cứu hệ thống nhân vật nữ, các hướng tiếp cận trước đây chủ yếu dừng lại ở góc độ thi pháp học hoặc xã hội học truyền thống, chưa đi sâu giải mã cơ chế tạo lập diễn ngôn, quy tắc văn hóa và hệ hình tư tưởng chi phối việc kiến tạo bản sắc nữ tính trong văn xuôi nghệ thuật thời kỳ này.
Mục đích nghiên cứu của luận án bao gồm ba mục tiêu cụ thể:
- Làm sáng tỏ cơ chế tạo lập diễn ngôn về người phụ nữ và sự xuất hiện mô hình nữ tính mới trong văn xuôi nghệ thuật Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX.
- Chỉ ra tính đặc thù, tính đa dạng của hình tượng người phụ nữ trong mối quan hệ với diễn ngôn dân tộc, diễn ngôn cá nhân và diễn ngôn về mặt trái của hiện đại hoá/Âu hoá.
- Chỉ ra những đóng góp và cả hạn chế của văn xuôi nghệ thuật Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX về các phương diện nói trên.
Để đạt được các mục đích trên, luận án triển khai ba nhiệm vụ nghiên cứu:
- Giới thuyết khái niệm diễn ngôn, đặc trưng của diễn ngôn văn học, các thao tác phân tích diễn ngôn văn học; làm rõ nội hàm của các khái niệm, thuật ngữ then chốt làm công cụ nghiên cứu.
- Chứng minh cơ chế tạo lập diễn ngôn về người phụ nữ và diễn giải bản sắc nữ tính mới qua việc phân tích các tương quan quyền lực/tri thức và sự giao cắt phức tạp của các tương quan này trong đời sống tư tưởng, văn hóa nửa đầu thế kỉ XX bằng hệ thống luận điểm, luận chứng cụ thể.
- Chỉ ra sự vận động trong tư tưởng của từng tác giả và khuynh hướng tư tưởng của thời đại đã tạo nên tính đặc thù, tính đa dạng của hình tượng người phụ nữ qua sáng tác của một số tác giả tiêu biểu.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Cơ chế tạo lập diễn ngôn về người phụ nữ và bản sắc nữ tính mới trong văn xuôi nghệ thuật Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX qua sáng tác của một số tác giả tiêu biểu.
- Phạm vi thời gian và không gian: Văn xuôi nghệ thuật Việt Nam giai đoạn 1900 - 1945.
- Phạm vi ngữ liệu khảo sát chính: Các sáng tác truyện ký và tiểu thuyết của Phan Bội Châu; truyện và ký sự của Tản Đà; tiểu thuyết Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách; tiểu thuyết của Nhất Linh và Khái Hưng; truyện ngắn và tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng và Nguyên Hồng.
- Phạm vi giới hạn khảo sát mở rộng: Luận án không đưa vào khảo sát chính mà chỉ liên hệ, so sánh đối chiếu với sáng tác của một số tác giả ở miền Trung và miền Nam như Phan Thị Bạch Vân, Đạm Phương nữ sử, Huỳnh Thị Bảo Hoà, Hồ Biểu Chánh.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã phân tích và hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu vấn đề người phụ nữ trong văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX qua các giai đoạn chính:
Giai đoạn trước năm 1975
- Các tác giả phê bình trước 1945: Trương Chính trong Dưới mắt tôi (1939) nhận định nhân vật Loan trong Đoạn tuyệt là hình mẫu người gái mới mà cuộc đời là "một cuộc thí nghiệm chua xót" giữa cũ và mới. Dương Quảng Hàm trong Việt Nam văn học sử yếu (1941) và Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn Việt Nam hiện đại (1942) cũng định vị vai trò của các cây bút văn xuôi thời kỳ này. Ở phía Nam, nhà văn Trúc Hà trên báo Sống (số 28, năm 1935) phân tích mâu thuẫn giữa gia đình và cá nhân qua các nhân vật Mai (Nửa chừng xuân) và Loan (Đoạn tuyệt).
- Các công trình văn học sử từ 1954 đến 1975 ở cả hai miền: Phạm Thế Ngũ (Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, 1965), Thanh Lãng (Bảng lược đồ văn học Việt Nam, 1967), Thế Phong (Nhà văn tiền chiến 1930 – 1945, 1974), nhóm Lê Quý Đôn (Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam, tập 3, 1957), Bạch Năng Thi và Phan Cự Đệ (Văn học Việt Nam 1930 – 1945, tập 1, 1961). Các tác giả này tập trung đánh giá nỗ lực chống phong kiến và tinh thần giải phóng cá nhân của Tự Lực văn đoàn.
- Phân tích nhân vật và tranh luận văn học: Hoàng Dung trong Giáo trình Lịch sử văn học Việt Nam 1930 – 1945 (1978) so sánh Mai, Loan, Nhung (Lạnh lùng) và Hồng (Thoát ly). Doãn Quốc Sỹ đối chiếu sự khác biệt về nền tảng học thức Nho học và Tây học giữa Mai và Loan. Về Vũ Trọng Phụng, Mã Giang Lân trong Những cuộc tranh luận văn học nửa đầu thế kỷ XX (2005) tổng thuật cuộc tranh luận xoay quanh yếu tố dâm và khuynh hướng tự nhiên chủ nghĩa, trong đó Trương Chính và Nguyễn Hoành Khung từng phê phán ngòi bút miêu tả tâm lý biến chất mang màu sắc sinh lý của tác giả khi xây dựng nhân vật Mịch trong Giông tố.
Giai đoạn từ sau năm 1975 đến nay
- Đánh giá lại văn học tiền chiến: Các công trình của Nguyễn Đăng Mạnh, Hà Minh Đức, Phan Cự Đệ, Nguyễn Hoành Khung nhìn nhận công bằng hơn về văn xuôi lãng mạn và hiện thực. Vu Gia trong Nhất Linh trong tiến trình hiện đại hoá văn học (1995) khảo sát bước chuyển tư tưởng từ nhân vật Từ Nương (Người quay tơ) đến Loan (Đoạn tuyệt). Phan Cự Đệ trong Văn học Việt Nam lãng mạn 1930 – 1945 (1997) phân tích chiều hướng cá nhân cực đoan của nhân vật Tuyết (Đời mưa gió). Trần Hữu Tá trong Nhà văn Vũ Trọng Phụng với chúng ta (1999) chỉ ra ảnh hưởng của thuyết phân tâm học Sigmund Freud đối với các nhân vật tha hóa của Vũ Trọng Phụng.
- Nghiên cứu của học giả quốc tế: David Marr với Vietnamese tradition on Trial 1920 – 1945 (1984), Shawn McHale với chuyên khảo về in ấn và quyền lực trong các tranh luận về vị trí phụ nữ (1918 – 1934), và W. Wilcox (2006) khảo sát quá trình phương Tây hóa sân khấu và văn hóa, cùng chỉ ra rằng vấn đề phụ nữ gắn liền hữu cơ với diễn ngôn dân tộc và biến động xã hội đầu thế kỷ XX.
- Các công trình chuyên biệt đầu thế kỷ XXI: Trịnh Thu Tiết trong Phan Bội Châu về tác gia và tác phẩm (2001) khẳng định đề tài phụ nữ là một trong hai luận đề lớn nhất của Phan Bội Châu (Trùng Quang tâm sử, Tái sinh sinh). Nguyễn Đăng Mạnh trong Những bài giảng về tác gia Văn học Việt Nam hiện đại (2005) phân tích hình tượng người mẹ trẻ nghèo khổ, giàu đức hy sinh và bản năng yêu thương trong văn Nguyên Hồng. Ngô Văn Thư (Bàn về tiểu thuyết Khái Hưng, 2006) và Trần Thị Việt Trung (Hình tượng nhân vật phụ nữ trong văn xuôi Việt Nam hiện đại, 2008) phân tích hệ thống nhân vật nữ phân tuyến cũ - mới của Tự Lực văn đoàn.
- Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Các công trình trên chủ yếu xem hình tượng người phụ nữ là phản ánh của hiện thực hoặc công cụ thể hiện phong cách tác giả. Vắng bóng những công trình khảo sát người phụ nữ như một diễn ngôn được kiến tạo bởi các quan hệ quyền lực/tri thức, cơ chế kiểm soát ngôn từ và trường tri thức thời đại. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này bằng cách vận dụng lý thuyết diễn ngôn để giải mã mô hình nữ tính mới trong cấu trúc văn hóa xã hội Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và quan niệm diễn ngôn
Luận án tiếp thu và kết hợp các nền tảng lý thuyết diễn ngôn phương Tây thế kỷ XX:
- Lý thuyết của Michel Foucault: Luận án sử dụng các quan niệm từ L’Archéologie du savoir (Khảo cổ học tri thức), Surveiller et punir (Kỷ luật và trừng phạt), Histoire de la sexualité (Lịch sử tính dục) và Les Mots et les choses (Từ ngữ và vật). Diễn ngôn được xác định là phương thức tổ chức hoạt động ngôn từ gắn liền với quyền lực/tri thức (power/knowledge). Foucault chỉ ra rằng các nhóm thống trị áp đặt tri thức đặc thù nhằm hợp thức hóa quyền lực; thực tại xã hội chỉ trở thành ý thức thông qua diễn ngôn. Khái niệm trường tri thức (episteme) được dùng để chỉ khung nhận thức chung, quy định ranh giới giữa cái được phép nói và cái bị loại trừ trong một thời đại.
- Quan điểm của Mikhail Bakhtin: Tiếp thu quan niệm về phát ngôn như đơn vị giao tiếp sống động của ngôn ngữ trong thực tiễn, tính đối thoại (dialogism) và bản chất ý thức hệ của ngôn từ (Chủ nghĩa Mác và triết học ngôn ngữ, Những vấn đề thi pháp Dostoievski).
- Các lý thuyết bổ trợ: Luận án tham chiếu khái niệm "vô thức xã hội" của Erich Fromm về sự chuyển hóa từ trạng thái bị tước đoạt tiếng nói sang ý thức tự giác; cùng luận điểm của Edward Said trong Orientalism (Đông phương luận) về cách diễn ngôn kiến tạo đối tượng nghiên cứu.
Trên cơ sở đó, luận án xác lập quan niệm: Diễn ngôn là những cấu trúc ngôn ngữ mang nội dung tư tưởng hệ, thể hiện hệ thống giá trị và cách kiến tạo thực tại của các nhóm xã hội. Diễn ngôn là một cấu trúc liên văn bản, liên chủ thể, là sản phẩm của môi trường sinh thái văn hóa chứa đựng các cặp đối lập nhị phân biểu nghĩa.
Thao tác phân tích diễn ngôn và phương pháp nghiên cứu
Luận án xác lập 5 thao tác phân tích cụ thể:
- Phân tích tương quan quyền lực/tri thức: Nhận diện sự kiến tạo nghĩa dựa trên các cặp đối lập nhị phân cơ bản như nam tính/nữ tính, phương Tây/phương Đông, hiện đại/truyền thống, tinh thần/thể xác, lý tính/cảm tính.
- Phân tích trật tự diễn ngôn: Xem xét mối quan hệ giữa diễn ngôn thống trị (trung tâm) và diễn ngôn bị loại trừ (phản kháng từ bên dưới).
- Phân tích trường tri thức thời đại (episteme): Nhận diện các quy tắc tư tưởng chi phối cách tổ chức câu chữ và hình tượng văn học.
- Phân tích nội hàm tư tưởng của cấu trúc diễn ngôn: Xác định chủ thể phát ngôn, lập trường ý thức hệ và xung đột giữa các hệ thống nhân vật.
- Phân tích hệ thống phương thức biểu đạt: Khảo sát giọng điệu, từ ngữ, biểu tượng và các biện pháp tu từ nghệ thuật.
Các phương pháp nghiên cứu chính bao gồm: phương pháp cấu trúc – hệ thống, phương pháp tiếp cận thi pháp học, phương pháp nghiên cứu liên ngành (kết hợp văn học, văn hóa học, xã hội học và lịch sử tư tưởng), phương pháp so sánh – đối chiếu. Các thao tác bổ trợ gồm: phân tích - tổng hợp, thống kê - phân loại.
Nguồn tư liệu và dữ liệu lịch sử
Nguồn tư liệu khảo sát gồm toàn bộ văn bản tiểu thuyết, truyện ký của các tác giả thuộc phạm vi nghiên cứu; hệ thống sách báo tiến bộ đầu thế kỷ XX (Đông Dương tạp chí, Nữ giới chung, Phụ nữ tân văn, Nam phong, Đăng cổ tùng báo, Sống); các tài liệu luân lý giáo dục truyền thống (Gia huấn ca, Nữ quốc dân tu tri); cùng số liệu thống kê về thiết chế giáo dục Pháp - Việt.
Để minh chứng cho sự biến đổi môi trường giáo dục tác động đến việc hình thành tầng lớp nữ sinh và nữ trí thức mới, luận án sử dụng số liệu lịch sử giáo dục thuộc địa:
| Bối cảnh thành lập trường học |
Dữ kiện lịch sử và quy mô giáo dục |
| Trường nữ sinh thành lập sớm |
- Năm 1875: Trường nữ tư thục đầu tiên tại Sài Gòn thành lập. - Năm 1908: Trường Brieux (Trường Hàng Cót) thành lập tại Hà Nội. - Năm 1917: Trường Nữ học Đồng Khánh ra đời tại Huế. |
| Quy mô nữ sinh Bắc Kỳ (Năm 1913) |
Có 9 trường Pháp - Việt với khoảng 647 nữ sinh theo học (riêng Hà Nội có 324 nữ sinh). |
| Hệ thống giáo dục toàn quốc (Trịnh Văn Thảo) |
- Năm học 1940 - 1941: Bậc Cao đẳng có 19 trường với 5.000 học sinh, sinh viên. - Năm học 1943 - 1944: Tiếp tục mở rộng các phân khoa Y, Dược, Sư phạm, Luật. |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu
Chương này dành cho việc xác lập hệ thống cơ sở lý thuyết và khảo sát lịch sử nghiên cứu. Tác giả phân tích nguồn gốc khái niệm diễn ngôn từ góc độ ngôn ngữ học, thi học Bakhtin và xã hội học Foucault; khu biệt diễn ngôn văn học như một hình thái nghệ thuật của tư tưởng, nơi kiến tạo thế giới quan mới và phủ định trạng thái vô thức xã hội. Chương 1 làm rõ các quy tắc loại trừ bên trong và loại trừ bên ngoài của diễn ngôn, từ đó thiết lập 5 thao tác phân tích văn bản nghệ thuật. Phần tổng quan tài liệu làm nổi bật tính liên tục của các luồng tiếp nhận hình tượng người phụ nữ từ giai đoạn trước 1975 đến nay, xác nhận tính cần thiết của việc tiếp cận đề tài dưới góc độ lịch sử tư tưởng và xã hội học diễn ngôn.
Chương 2: Quyền lực, tri thức phương Tây và sự xuất hiện diễn ngôn mới về người phụ nữ
Chương 2 phân tích các điều kiện lịch sử - xã hội làm nảy sinh diễn ngôn mới về phụ nữ tại Việt Nam:
- Tác động của văn minh phương Tây và trào lưu tân thư, tân văn: Ảnh hưởng của tư tưởng tự do, dân chủ, thuyết khế ước xã hội (Rousseau), tam quyền phân lập (Montesquieu), thuyết tiến hóa (Darwin) qua các bản dịch chữ Hán của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu truyền vào Việt Nam. Các trí thức bản địa như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh đã tiếp nhận các khái niệm "dân quyền", "dân trí", nhận thức rằng muốn duy tân đất nước thì phải thay đổi tư tưởng và giải phóng người dân, bao gồm phụ nữ.
- Tác động của phong tràu nữ quyền thế giới: Sự lan tỏa các làn sóng nữ quyền phương Tây (từ các cuộc vận động quyền bầu cử tại Anh, Mỹ thế kỷ XIX đến các tác phẩm của Virginia Woolf, Simone de Beauvoir). Tại Việt Nam, diễn đàn phụ nữ bắt đầu xuất hiện trên Đông Dương tạp chí (1913), bùng nổ qua tờ Nữ giới chung (1918) của Sương Nguyệt Anh, báo Phụ nữ tân văn (1929), ngòi bút cổ súy nữ quyền của Phan Khôi, các bài diễn thuyết của Nguyễn Thị Kiêm (Manh Manh nữ sĩ) và sự ra đời của Nữ lưu thư quán Gò Công do Phan Thị Bạch Vân sáng lập năm 1928.
- Thiết chế giáo dục thuộc địa: Luận án đối lập nền giáo dục Nho giáo truyền thống vốn tước đoạt tri thức của nữ giới (thể hiện qua các điều cấm kỵ "chớ" trong Gia huấn ca và tư tưởng nam tôn nữ ty) với hệ thống giáo dục Pháp - Việt sau các cuộc cải cách của Paul Beau và Albert Sarraut. Việc bãi bỏ khoa cử Hán học (Bắc Kỳ năm 1915, Trung Kỳ năm 1918) và thiết lập hệ thống trường nữ học (Brieux, Đồng Khánh) đã tạo ra một thế hệ nữ sinh có tri thức khoa học, tạo tiền đề hình thành bản sắc nữ tính mới vượt ra khỏi chức năng gia đình truyền thống.
Chương 3: Người phụ nữ và diễn ngôn về dân tộc trong sáng tác của Phan Bội Châu và Nhất Linh, Khái Hưng
Chương 3 khảo sát mối quan hệ giữa hình tượng người phụ nữ và diễn ngôn dân tộc qua hai mô hình thẩm mỹ:
- Phan Bội Châu và tiến trình anh hùng hóa nữ tính: Trong bối cảnh phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX, Phan Bội Châu gắn việc giải phóng phụ nữ với nhiệm vụ cứu nước. Nhà văn kiến tạo mô hình người nữ anh hùng mang lý tưởng cách mạng, thoát ly khỏi bổn phận "tam tòng tứ đức" nhỏ hẹp để gánh vác trách nhiệm quốc gia. Các nhân vật cô Chí, cô Triệu, cô Liên trong Trùng Quang tâm sử, Bạch Liên nữ sỹ và Âu Vân phu nhân trong Tái sinh sinh là những điển hình cho sự kết hợp giữa đạo đức truyền thống và tinh thần xả thân vì độc lập dân tộc.
- Nhất Linh, Khái Hưng và tiến trình nam tính hóa nữ tính: Khác với tính chất cứu quốc trực tiếp của Phan Bội Châu, các cây bút trụ cột của Tự Lực văn đoàn nhìn nhận giải phóng dân tộc thông qua con đường duy tân, cải cách văn hóa và xã hội theo mẫu hình phương Tây. Tác giả kiến tạo mô hình người phụ nữ mới mang những phẩm chất vốn thuộc về nam giới trong xã hội cũ: có học vấn Tây học, tư duy duy lý, ý chí tự lập và tinh thần dấn thân xã hội, dám đối đầu công khai với trật tự phụ quyền gia đình phong kiến.
Chương 4: Người phụ nữ và diễn ngôn về cá nhân trong sáng tác của nhà nho tài tử và trí thức Tây học
Chương 4 tập trung vào sự trỗi dậy của ý thức cá nhân tư sản qua ba trường hợp tiêu biểu:
- Tản Đà và mẫu hình người phụ nữ tri kỷ: Tản Đà đứng ở điểm giao cắt giữa nhà nho tài tử và con người cá nhân tư sản. Khái niệm tình yêu của ông vượt ra ngoài khuôn khổ hôn nhân môn đăng hộ đối phong kiến, tìm kiếm tiếng nói đồng điệu ở hình mẫu người phụ nữ tri kỷ, chia sẻ tâm sự non nước và cảm xúc cá nhân.
- Hoàng Ngọc Phách với tiểu thuyết "Tố Tâm": Tác phẩm thể hiện cuộc xung đột giằng xé giữa diễn ngôn luân lý truyền thống (chữ hiếu, nghĩa vụ gia đình) và diễn ngôn cá nhân tư sản (tình yêu tự do). Dù kết thúc bằng sự phục tùng của Tố Tâm dẫn đến cái chết, sự tiếp nhận của độc giả đương thời đã làm bộc lộ khát vọng giải phóng tình cảm cá nhân của giới trẻ.
- Nhất Linh, Khái Hưng và việc giải tỏa nhị phân thân/tâm: Đến Tự Lực văn đoàn, lối sống đô thị và văn minh phương Tây đã giúp các nhân vật nữ bước hẳn sang diễn ngôn cá nhân. Các tác giả tiến hành giải nhị phân giữa thể xác và tinh thần, khẳng định quyền được sống, quyền được hưởng hạnh phúc lứa đôi và tự do lựa chọn hôn nhân của người phụ nữ. Các nhân vật Mai (Nửa chừng xuân), Loan (Đoạn tuyệt), Nhung (Lạnh lùng) biểu đạt các cấp độ phản kháng khác nhau trước các định kiến khắt khe về thủ tiết và nghĩa vụ tộc họ.
Chương 5: Người phụ nữ và diễn ngôn về mặt trái của hiện đại hoá/Âu hoá trong sáng tác của Vũ Trọng Phụng và Nguyên Hồng
Chương 5 phân tích các phản ứng thẩm mỹ trước những hệ lụy của quá trình đô thị hóa thuộc địa:
- Góc nhìn phê phán của trí thức về mặt trái Âu hóa: Sự du nhập ồ ạt của lối sống phương Tây tạo ra những biến dạng đạo đức, lối sống tiêu dùng và suy đồi luân lý ở các đô thị lớn.
- Mô hình nữ tính suy đồi ở tầng lớp thượng lưu qua văn xuôi Vũ Trọng Phụng: Ngòi bút trào phúng và hiện thực của Vũ Trọng Phụng miêu tả sự băng hoại nhân cách của những phụ nữ thượng lưu học đòi văn minh rởm, chạy theo dục vọng bản năng và danh lợi giả tạo, tiêu biểu cho căn bệnh tha hóa của xã hội tư sản thực dân.
- Mô hình nữ tính tha hóa dưới đáy xã hội qua sáng tác của Vũ Trọng Phụng và Nguyên Hồng: Cả hai tác giả cùng hướng ngòi bút về những phụ nữ nghèo khổ bị hoàn cảnh đẩy vào con đường sa đọa, mại dâm hoặc tù tội. Tuy nhiên, nếu Vũ Trọng Phụng chú trọng mổ xẻ cơ chế tha hóa xã hội kết hợp với xung năng sinh lý tự nhiên, thì Nguyên Hồng, với cảm quan nhân đạo thống thiết, tập trung miêu tả nỗi đau đớn cùng cực của những người phụ nữ làm mẹ, làm vợ bị đè nén, khẳng định bản chất thiện lương và tình mẫu tử bền vững của họ bên dưới đáy sâu xã hội.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án xác lập những đóng góp mới về mặt khoa học lý luận và thực tiễn nghiên cứu văn học sử:
- Đóng góp về mặt lý luận: Công trình là một trong những nghiên cứu chuyên biệt đầu tiên tại Việt Nam vận dụng một cách hệ thống lý thuyết diễn ngôn (đặc biệt là khung phân tích quyền lực/tri thức của Michel Foucault và tính đối thoại của Mikhail Bakhtin) vào việc nghiên cứu mảng văn xuôi nghệ thuật nửa đầu thế kỷ XX. Luận án chuyển dịch trọng tâm nghiên cứu từ việc xem nhân vật như sự phản ánh thụ động hiện thực sang việc coi nhân vật là một kiến tạo ngôn từ chịu sự điều chỉnh của các thiết chế xã hội.
- Đóng góp về mặt thực tiễn:
- Luận án đã làm sáng rõ cơ chế hình thành phát ngôn về giới thông qua việc phân tích sự va đập giữa các trường tri thức (Hán học, Tây học, văn hóa thuộc địa).
- Tác giả phân loại và diễn giải thành công ba hệ hình bản sắc nữ tính mới trong mối tương quan với các diễn ngôn lớn của thời đại: người phụ nữ trong diễn ngôn dân tộc (mô hình anh hùng hóa và nam tính hóa); người phụ nữ trong diễn ngôn cá nhân (mẫu hình tri kỷ và giải phóng thân/tâm); và người phụ nữ trong diễn ngôn về mặt trái của hiện đại hóa (mô hình nữ tính suy đồi và tha hóa).
- Cung cấp nguồn tư liệu liên văn bản có hệ thống, kết nối giữa văn bản văn học với báo chí, văn bản giáo dục và các tư liệu phong trào nữ quyền đầu thế kỷ XX.
- Kiến nghị và giải pháp đề xuất: Luận án đề xuất việc ứng dụng hướng tiếp cận diễn ngôn và nghiên cứu liên ngành trong việc giảng dạy văn học sử giai đoạn 1900 - 1945 tại các trường đại học, giúp người học nhận thức tác phẩm văn học trong toàn bộ mạng lưới tư tưởng, tri thức và quan hệ quyền lực của bối cảnh lịch sử.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của luận án: Do giới hạn về dung lượng và mục tiêu nghiên cứu tập trung, luận án chưa thể bao quát toàn bộ diện mạo văn xuôi nghệ thuật cả nước giai đoạn 1900 - 1945. Ngữ liệu khảo sát chính chủ yếu tập trung vào các tác giả nam tiêu biểu ở miền Bắc và một tác giả cội nguồn ở miền Trung (Phan Bội Châu). Các sáng tác của những cây bút nữ đương thời (như Huỳnh Thị Bảo Hòa, Phan Thị Bạch Vân, Đạm Phương nữ sử) và mảng văn xuôi phong phú của Nam Bộ (tiêu biểu như Hồ Biểu Chánh) chỉ mới được đưa vào dưới dạng liên hệ, so sánh mở rộng mà chưa được phân tích thành các trường hợp độc lập.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng phạm vi khảo sát sang toàn bộ văn xuôi Nam Bộ và các sáng tác của chính các nhà văn nữ đầu thế kỷ XX để đối chiếu xem cơ chế tự kiến tạo diễn ngôn của chủ thể nữ có điểm gì khác biệt so với diễn ngôn về phụ nữ do các tác giả nam kiến tạo. Ngoài ra, việc mở rộng diện tiếp cận sang các thể loại khác như thơ ca, kịch bản sân khấu và báo chí phụ nữ chuyên biệt cũng là hướng đi giàu tiềm năng.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng học thuật:
- Đối với giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học ngành Văn học: Luận án cung cấp một khung thao tác cụ thể về phương pháp phân tích diễn ngôn áp dụng vào văn học sử Việt Nam, giúp làm mới các bài giảng và công trình nghiên cứu về giai đoạn văn học 1900 - 1945.
- Đối với các nhà nghiên cứu liên ngành (Văn hóa học, Lịch sử tư tưởng, Giới và Nữ quyền học): Công trình cung cấp hệ thống tư liệu lịch sử giá trị về phong trào nữ quyền sơ khai tại Việt Nam, sự biến đổi của thiết chế giáo dục thuộc địa và các cuộc tranh luận báo chí đầu thế kỷ XX.
- Các phần nội dung đáng tham khảo nhất: Hệ thống 5 thao tác phân tích diễn ngôn văn học (Chương 1); phân tích tác động của tân thư, tân văn và giáo dục thuộc địa đối với mô hình nữ tính (Chương 2); cùng các tiểu mục phân tích cấu trúc nhị phân kiến tạo nhân vật trong văn xuôi Phan Bội Châu, Tự Lực văn đoàn và Vũ Trọng Phụng (Chương 3, 4, 5).
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án định nghĩa và vận dụng khái niệm "diễn ngôn" theo khung lý thuyết nào?
Luận án kết hợp quan điểm xã hội học của Michel Foucault và thi học của Mikhail Bakhtin. Diễn ngôn không thuần túy là câu chữ hay cấu trúc ngữ pháp nội tại, mà là các thực hành ngôn ngữ gắn liền với quyền lực và tri thức xã hội. Foucault cung cấp công cụ phân tích cơ chế quyền lực/tri thức, trật tự kiểm soát phát ngôn và trường tri thức thời đại (episteme). Bakhtin bổ sung góc nhìn về phát ngôn sống động, tính đối thoại và bản chất ý thức hệ của ngôn từ văn học.
2. Sự khác biệt căn bản giữa mô hình người phụ nữ của Phan Bội Châu và Tự Lực văn đoàn trong diễn ngôn dân tộc là gì?
Phan Bội Châu kiến tạo mô hình "anh hùng hóa nữ tính", nhìn nhận phụ nữ là lực lượng cứu quốc trực tiếp; nhân vật nữ của ông (như trong Trùng Quang tâm sử, Tái sinh sinh) xả thân vì độc lập dân tộc theo lý tưởng cách mạng. Trong khi đó, Nhất Linh và Khái Hưng kiến tạo mô hình "nam tính hóa nữ tính", gắn liền lòng yêu nước với nỗ lực cải cách xã hội, bài trừ hủ tục phong kiến, đòi quyền bình đẳng và xây dựng mô hình con người cá nhân có học vấn Tây học theo chuẩn mực văn minh hiện đại.
3. Thiết chế giáo dục Pháp - Việt đầu thế kỷ XX đã tác động ra sao đến việc hình thành diễn ngôn nữ tính mới?
Chính sách giáo dục thuộc địa đã bãi bỏ lối học từ chương Nho giáo (chấm dứt thi hương ở Bắc Kỳ năm 1915, Trung Kỳ năm 1918) và thành lập hệ thống trường nữ học (như trường Brieux năm 1908, trường Đồng Khánh năm 1917). Nền giáo dục này trang bị cho nữ sinh tri thức khoa học tự nhiên, ngoại ngữ và tư tưởng nhân bản phương Tây. Sự xuất hiện của đội ngũ nữ giáo viên và nữ sinh có học vấn đã phá vỡ khuôn mẫu luân lý "tam tòng tứ đức" thụ động, trực tiếp thúc đẩy sự ra đời của mẫu hình phụ nữ trí thức, tự lập trong xã hội.
4. Cuộc tranh luận về việc miêu tả phụ nữ trong sáng tác của Vũ Trọng Phụng xoay quanh những luận điểm nào?
Trước năm 1945, các ý kiến phê phán (tiêu biểu như Trương Chính) cho rằng Vũ Trọng Phụng sa vào khuynh hướng tự nhiên chủ nghĩa, miêu tả yếu tố dâm dục quá đà làm tổn hại tính thẩm mỹ. Nguyễn Hoành Khung sau này cũng từng chỉ ra hạn chế khi tác giả giải thích sự tha hóa của nhân vật Mịch (Giông tố) qua bản năng sinh lý bệnh hoạn. Tuy nhiên, luận án tiếp cận hiện tượng này từ góc độ diễn ngôn, chỉ ra rằng việc miêu tả sự suy đồi và tha hóa tính dục là một thao tác thẩm mỹ nhằm phơi bày mặt trái của quá trình Âu hóa rởm và sự bóc lột của xã hội thực dân tư sản.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Phan Thị Tâm Thanh là công trình khảo cứu chuyên sâu, áp dụng hệ thống lý thuyết diễn ngôn của Michel Foucault và Mikhail Bakhtin để giải mã sự biến đổi của hình tượng người phụ nữ trong văn xuôi nghệ thuật Việt Nam giai đoạn 1900 - 1945. Bằng phương pháp nghiên cứu liên ngành, tác giả đã làm sáng tỏ cơ chế tương tác giữa quyền lực, tri thức phương Tây và các hệ tư tưởng bản địa trong việc định hình mô hình nữ tính mới. Công trình làm nổi bật tính đa dạng của các cấu trúc diễn ngôn qua ba trục phản ánh then chốt: giải phóng dân tộc, khẳng định ý thức cá nhân và phê phán mặt trái của hiện đại hóa thuộc địa. Kết quả nghiên cứu không chỉ xác lập vị thế tư tưởng của các tác gia văn xuôi tiêu biểu nửa đầu thế kỷ XX mà còn cung cấp một khung phân tích khoa học có giá trị cho lịch sử tư tưởng và phê bình văn học Việt Nam.