Chương 1: Tổng quan Chương 2: Giới thiệu các thiết bị FACTS Chương 3: Nguyên tắc hoạt động và các đặc tính của UPFC Chương 4: Mô hình UPFC và giao diện Chương 5: Khảo sát và áp dụng UPFC vào bài toán điều khiển điện áp Chương 6: Tổng kết và hướng phát triển của đề tài Trang 8 Chương 2 GIỚI THIỆU CÁC THIẾT BỊ FACTS I. Giới thiệu thiết bị FACTS: Với sự phát triển của điện tử công suất dùng Thyristor tắt cổng (GTO – Gate Turn_off) đã cho ra đời hệ thống truyền tải xoay chiều linh hoạt mà trong đó dòng công suất được điều khiển động bởi các linh kiện điện tử công suất. Hai mục tiêu chính của hệ thống các thiết bị FACTS là để tăng khả năng tải của đường dây truyền tải và điều khiển dòng công suất theo một lộ trình đã được vạch ra trước. Toàn bộ hệ thống bù ngang, bù dọc, máy biến áp để điều chỉnh điện áp và góc pha đều được điều khiển bằng điện tử công suất.
Đặc biệt, bộ nguồn điện áp đồng bộ SVS (Synchronous Voltage Sources) điều khiển bằng bán dẫn được dùng để bù động và điều khiển theo thời gian thực dòng công suất trong hệ thống truyền tải và có khả năng đồng đều trong việc điều khiển điện áp, tổng trở, góc pha. Hệ thống SVS cung cấp khả năng trao đổi trực tiếp công suất tác dụng với hệ thống xoay chiều, bên cạnh đó việc bù công suất kháng được điều khiển độc lập. Những phát minh mới nhất của các thiết bị điều khiển FACTS dựa trên nền tảng cơ bản là các bộ nguồn điện áp đồng bộ SVSs (Synchronous Voltage Sources) được giới thiệu bởi L. Gyugyi cuối thập niên 1980s [5].
Những bộ SVS này được xem như là những máy phát đồng bộ lý tưởng phát ra điện áp ba pha cân bằng và có thể điều khiển được điện áp và góc pha. Tự nó có thể phát được cả công suất phản kháng mang tính cảm và tính dung. Nếu kết hợp nó với các bộ tích trữ năng lượng như tụ điện DC, Battery… SVS có thể trao đổi công suất thực với hệ thống xoay chiều. Bộ SVS có thể tạo ra bởi việc sử dụng bộ biến đổi nguồn áp VSC (Voltage Sourced Converter).
Cấu trúc hoạt động cơ bản của VSCs sẽ được đề cập đến ở phần sau. Những thuận lợi cơ bản của bộ bù sử dụng SVS so với việc bù bằng đóng cắt khóa cơ khí hay bù bình thường bằng việc đóng cắt Thyristor là: Đồng bộ trong việc sử dụng các thiết bị linh kiện điện tử công suất trong việc ứng dụng điều khiển ở các bộ bù khác nhau Cải thiện các đặc tính hoạt động và biểu diễn Giảm được kích thước của thiết bị và công bảo trì lắp ráp và vận hành Các thiết bị điều khiển công suất trong hệ thống các thiết bị FACTS có cấu tạo từ những linh kiện điện tử có ngắt hay không ngắt. Các thiết bị điều khiển chứa linh Trang 9 kiện điều khiển ngắt, thường có cấu tạo của một bộ biến đổi điện áp DC – AC có khả năng trao đổi công suất tác dụng hoặc công suất phản kháng. Nếu sự trao đổi công suất chỉ gồm thành phần công suất phản kháng thì công suất của mạch DC có thể giảm đến mức nhỏ nhất.
Trong trường hợp điện áp hoặc dòng điện cung cấp bởi thiết bị lệch khác 90o so với dòng điện hoặc điện áp đường dây thì nguồn dự trữ công suất của mạch DC của thiết bị đó phải có định mức cao hơn. Để tăng cường khả năng dự trữ năng lượng của phần mạch DC, các thiết bị có thể trang bị cho nó như bộ ắc quy (Battery), cuộc dây siêu dẫn từ (Superconducting magnet)… Một cách tổng quát, các thiết bị điều khiển dùng bộ biến đổi DC-AC có thể trang bị nguồn dự trữ năng lượng như tụ điện công suất lớn, ắc quy (Battery), cuộn dây siêu dẫn từ (Superconducting magnet) và sẽ làm tăng kích thước hệ FACTS. Việc trang bị bộ phận dự trữ năng lượng làm tăng hiệu quả điều khiển của các thiết bị FACTS vì chúng có khả năng điều khiển “bơm vào” hoặc “rút ra” công suất tác dụng cũng như công suất phản kháng từ lưới điện thay vì chỉ ảnh hưởng đến tính chất truyền công suất tác dụng trong trường hợp thiết bị không có bộ phận dự trữ năng lượng. Các thiết bị điều khiển của FACTS thường được thiết kế với kỹ thuật điều chế độ rộng xung để có thể thực hiện chức năng loại bỏ các sóng hài bậc cao, có tác dụng như một mạch lọc tích cực, đồng thời có tác dụng làm cân bằng hệ thống khi nguồn mất cân bằng.
Ký hiệu một số thiết bị trong họ các sản phẩm FACTS như sau: SVC: Static Var Compensator STATCOM: Static Synchronous Compenator MSC: Mechanically-switched Capacitor* TCBR: Thyristor Controlled Braking Resistor TCPST: Thyristor Controlled Phase Shifting Transformer PST: Phase Shifting Transformer* IPC: Interphase Power Controller SC: Series Capacitor* MSSC, TSSC: Mechanically/Thyristor Switched Series Capacitor TCSC: Thyristor Controlled Series Capacitor SSSC: Static Synchronous Series Compensator. UPFC: Unified Power Flow Controller HVDC: High Voltage Direct Current CSC: Convertible Static Compensator. Trang 10 PAR: Phase-Angle-Regulator TCVL: Thyristor Controlled Voltage Limiter SCCL: Super-Conducting Current Limiter TSBR: Thyristor Switched Braking Resistor TCPAR: Thyristor Controlled Phase-Angle Regulator *: Không hoàn toàn là thiết bị FACTS Trang 11 II. Phân loại các thiết bị FACTS: Bộ SVS có thể được sử dụng để bù nối tiếp hay bù song song.
Nếu nó hoạt động như bộ bù nối tiếp thì được gọi là bộ bù đồng bộ nối tiếp tĩnh SSSC (Static Synchronous Series Compensator). Nếu nó hoạt động như bộ bù song song thì nó được gọi là bộ bù tĩnh đồng bộ STATCOM (Static Synchronous Compensator) hay bộ bù tụ tĩnh đồng bộ STATCON (Static Synchronous Condenser). Một trường hợp đặc biệt trong việc sắp xếp hai bộ SVSs, là một SVS thì kết nối nối tiếp và cái còn lại thì kết nối song song với hệ thống xoay chiều thông qua liên kết chung là cực DC và được gọi là UPFC (Unified Power Flow Controller). Nó là mô hình điều khiển đại diện cho kiểu kết nối nối tiếp – song song.
Gần đây viện nghiên cứu EPRI còn cho ra mô hình điều khiển kiểu kết nối nối tiếp – nối tiếp IPFC (Interline Power Flow Controller) gồm hai hay nhiều bộ SSSCs liên kết lại vơi nhau với một liên kết DC chung. IPFC cung cấp khả năng điều khiển độc lập bù công suất phản kháng nối tiếp cho mỗi đường dây cũng như là chuyển đổi công suất tác dụng giữa các đường dây này với nhau. Các thiết bị FACTS được sử dụng để điều khiển điện áp, trở kháng và góc pha của các đường dây truyền tải xoay chiều cao áp. Tùy vào cách liên kết giữa các bộ SVS mà ta có các dòng sản phẩm khác nhau của FACTS.
Nếu chia theo cách bù vào đường dây thì hệ thống FACTS thường được chia làm các loại như sau: Loại bù song song Loại bù nối tiếp Loại kết hợp song song – nối tiếp Loại kết hợp nối tiếp – nối tiếp Loại ổn định điện áp và điều khiển góc pha 1. Loại song song: Đặc trưng cho kiểu bù song song các thiết bị FACTS là SVC và STATCOM a. Các máy bù tĩnh SVC (Static Var Compensator ): SVC là một khái niệm chung nó bao gồm các phần tử (hình 2.1): Cuộn kháng điều khiển bằng Thyristor (Thyristor Controlled Reactor – TCR) Cuộn kháng đóng cắt bằng Thyristor (Thyristor Switched Reactor – TSR) Hoặc kết hợp cả hai phần tử trên Trang 12 Line TCR-TSR TSC Fillter FC FR Hình 2.1 Các bộ SVC thường gặp Bộ bù SVC là một thiết kế tổng hợp các phần tử: tụ điện, cuộn kháng, biến điện thế, các thiết bị đóng cắt cùng với các thiết bị điều khiển, tất cả cùng hoạt động để trở thành một khối cung cấp nguồn bù công suất phản kháng có thể điều khiển được nhanh chóng. Hệ thống bù tĩnh được áp dụng rộng rãi trong hệ thống truyền tải với nhiều mục đích khác nhau.
Mục đích cơ bản nhất thường được sử dụng để điều khiển điện áp tại điểm yếu nhất trong hệ thống. Nó thường được lắp đặt ở điểm giữa của đường dây truyền tải liên kết giữa các vùng tải. Theo CIRGE định nghĩa SVS (Static VAR System) là một tổ hợp các bộ bù tĩnh (SVC) và các tụ bù hay cuộn kháng được đóng cắt bằng các thiết bị cơ khí. Một hệ thống SVS thường bao gồm: Một máy biến thế dùng để liên kết giữa lưới điện cao thế và các thiết bị điện tử công suất trung thế.
Thường một máy biến áp riêng được sử dụng nhưng thỉnh thoảng có thể sử dụng cuộn dây thứ ba của máy biến áp tự ngẫu được sử dụng. TCR (Thyristor – Controlled Reactor) là một phần tử của SVC, nó có khả năng điều khiển một cách liên tục dòng điện qua cuộn cảm mắc song song với lưới bằng cách điều khiển góc pha của các SCR, thường được nối vào thanh cái trung thế. TSR (Thyristor – Switched Reactor) bao gồm một số cuộn kháng đấu song song chúng được đóng vào hay ngắt ra khỏi lưới bằng cách điều khiển các khóa SCR, thường được nối vào thanh cái trung thế. Trang 13 TSC (Thyristor – Switched Capacitor) là thiết bị bù công suất phản kháng điều chỉnh dạng nhảy cấp, nó có khả năng đóng cắt tụ điện song song với lưới ra khỏi hệ thống bằng cách kích đóng ngắt các SCR, thường được nối vào thanh cái trung thế.
FC (Fixed Capacitor) là loại thiết bị bù cố định bằng tụ FR (Fixed Reactor) là loại thiết bị bù cố định bằng điện kháng Các bộ lọc sóng hài (Filter) Các tụ hoặc cuộn kháng đóng cắt bằng thiết bị cơ khí (MSCS hay MSR), thường nối vào thanh cái cao thế. Hệ thống điều khiển thường dùng các hàm hoặc điều chỉnh theo điện áp của đường dây. Trong số các thiết bị FACTS khác nhau, vị trí và kích thước của bộ bù tĩnh SVS được dựa trên cơ sở cải thiện biểu đồ điện áp, và thường dựa vào các thuật toán tương tự như đối các dạng bù cố định. Tuy nhiên để cải thiện khả năng truyền tải và biên độ ổn định cần dựa vào phân tích mô hình động và phương pháp phân tích mô hình.
Mục đích của các bộ lọc gồm hai điểm chính: lọc các sóng hài bậc cao và bù công suất phản kháng cho phụ tải. Các sóng hài bậc cao xuất hiện do tính phi tuyến của phụ tải (mạch từ) hoặc do tải được cấp nguồn từ các bộ biến đổi dùng bán dẫn công suất. Trong trường hợp tải thay đổi công suất phản kháng nhiều, hệ thống cần phần tử điều chỉnh công suất phản kháng. Ngược lại, trong trường hợp công suất phản kháng hầu như không thay đổi, phần tử điều chỉnh công suất phản kháng có thể loại bỏ.