LỜI MỞ ĐẦU Rau quả và các sản phẩm chế biến từ rau quả đã và đang trở thành một nguồn thực phẩm thiết yếu của con người. Rau quả không chỉ cung cấp vitamin, chất khoáng, chất xơ mà còn là nguồn chất chống oxy hóa tự nhiên như carotenoid, phenolic, và flavonoid [7]. Cà tím là một trong những loại rau quả giàu chất chống oxy hóa, được xếp vào tốp mười loại rau quả có khả năng chống oxy hóa nhờ vào hàm lượng phenolic cao [8]. Đã có nhiều nghiên cứu về hợp chất chống oxy hóa trong những loại cà tím khác nhau [23, 32].
Hợp chất chống oxy hóa trong cà tím có tác dụng ngăn chặn các quá trình oxy hóa do các gốc tự do sinh ra làm hư hại lipid, protein, carbonhydrate và acid nucleic từ đó gây ra nhiều bệnh tật như bệnh tim mạch và ung thư. Muối chua rau quả là một quá trình lên men lactic với nguyên liệu là rau, quả, đường , muối và gia vị. Sản phẩm rau quả muối chua không chỉ ngon miệng, tăng khả năng tiêu hóa nhờ cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột mà còn làm tăng một số chất dinh dưỡng như vitamin nhóm B như folic acid, riboflavin, niacin, thiamin và biotin và còn có hàm lượng chất chống oxy hóa cao. Nghiên cứu gần đây cho biết quá trình lên men cải bắp là tăng hàm lượng chất chống oxy hóa trong cải bắp [26].
Vì vậy chúng tôi tiến hành Đề tài “Khảo sát chất chống oxy hóa trong quá trình lên men lactic cà tím Solanum melongena” để nghiên cứu những biến đổi các chất chống oxy hóa trong quá trình xử lý, lên men lactic cà tím. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài: mục tiêu nghiên cứu của đề tài tập trung vào các biến đổi của các chất chống oxy hóa sau quá trình xử lý và quá trình lên men latic của cà tím Solanum melongena. Nội dung nghiên cứu: - Xử lý chống hóa nâu cà tím cắt lát - Khảo sát quá trình lên men ảnh hưởng đến hoạt tính chống oxy hóa tổng và tổng hàm lượng polyphenol. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÀ TÍM Cà tím có tên khoa học là (Solanum melongena L.) là một loại rau quả được trồng phổ biến ở các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới [50].
Cà tím phổ biến ở Châu Á như Ấn Độ, Trung Quốc và một số các nước ở Hy Lạp, Ý. Cà tím được xếp vào tốp 10 loại rau quả có hoạt tính chống oxy hóa cao nhất [8], là một hợp chất có lợi cho sức khỏe. Hơn nữa, hợp chất chống oxy hóa và polyphenol được tìm thấy trong cả vỏ và thịt quả cà tím [27]. Cà tím hiện đã trở thành một loại rau quả phổ biến trong ẩm thực của Thái Lan, Ấn Độ, Trung Quốc, Việt Nam và khắp thế giới.
Thịt quả còn chứa nhiều protid, cellulose, đường, chất béo, đặc biệt nhiều loại vitamin như A, B1, B2, B3, B5, B6, B9, C, PP, nhiều khoáng chất vi lượng như Fe, Zn, Ca, P, K, Mg, Mn. Quả cũng có chứa alkaloid solanin như hầu hết các loại cà khác. Theo đông y, cà tím có vị ngọt, tính hàn, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, hoạt huyết, tiêu viêm, tiêu ung, nên được sử dụng trong chữa trị các chứng như ung nhọt, lở loét, chốc lở ngoài da, tai quả cà nấu lấy nước uống để chữa ung nhọt, lở loét. Cà tím còn tác dụng lợi tiểu thông mật, nhuận gan, đề phòng xơ vữa động mạch do tác dụng làm giảm cholesterol.
Lấy rễ cà, cuống quả của cà sắc lấy nước uống còn chữa được đi tiểu ra máu, đại tiện ra máu hay lị ra máu. Hạt cà cũng có tác dụng lợi niệu. PHÂN LOẠI KHOA HỌC Cà tím hay cà dái dê là một loại cây thuộc họ cà với quả cùng tên gọi, được sử dụng làm rau trong ẩm thực. Nó có quan hệ gần gũi với cà chua, cà pháo và có nguồn gốc ở Ấn Độ và Srilanca.
Có rất nhiều chủng loại cà tím, màu sắc từ tím sẫm đến tím. Màu sắc phụ thuộc vào hàm lượng anthocyanin [8]. Một số giống cà tím - Giới: Plantae - Ngành: Magnoliopsida - Lớp: Asteridae - Họ: Solanales - Bộ: Solanaceae - Chi: Solanum - Loài: S.melongena - Tên gọi khác : Aubergine, Eggplant, Brinjal 1. ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT HỌC[50, 10, 11, 12] Cà tím là loại cây ngắn ngày, Thời vụ: vụ đông xuân có từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau, vụ hè thu trồng từ tháng 4 đến tháng 7.
Nó là cây một năm, cao tới 40 ÷ 150 cm (16 ÷ 57 inch), thông thường có gai, với các lá lớn có thùy thô, dài từ 10÷20 cm và rộng 5÷10 cm. Hoa màu trắng hay tía, với tràng hoa năm thùy và các nhị hoa màu vàng. Quả là loại quả mọng nhiều cùi thịt, đường kính nhỏ hơn 3 cm ở cây mọc hoang dại, nhưng lớn hơn rất nhiều ở các giống trồng. Quả chứa nhiều hạt nhỏ và mềm.
Các giống hoang dại có thể lớn hơn, cao tới 225 cm (84 inch) và lá to (dài tới 3 trên 30 cm và rộng trên 15 cm). Tên gọi cà tím không phản ánh đúng loại quả này, do có nhiều loại cà khác cũng có màu tím hay quả cà tím có màu đôi khi không phải tím. Thân Cây thân thảo, sống lâu năm, được trồng như cây nhất niên ở những vùng ôn đới vì cây không thích hợp với nhiệt độ lạnh. Hệ thống gốc phát triển quan trọng, phù ra, phân nhánh rậm như bụi 0,5 ÷ 0,8 cm, hệ thống rễ phát triển mạnh, thân mịn đôi khi màu tím.
Thân già có thể ngấm chất lignin trở nên cứng. Tàng lá lan rộng lý do ứng với sức nặng của trái. Nơi đây mang những gai ngắn. Lá Lá lớn 7 ÷ 35 cm dài, lá đơn, mọc đối, hình bầu dục, hơi có thùy, và đôi khi một số lá không đối xứng, bề mặt lá phủ một lớp lông xoắn dày đặc, hơi nhám khi chạm vào, như bột và mặt dưới rõ hơn.
Cuống lá chánh màu nâu nhạt. Hoa Những hoa mọc ở nách lá, và có 5 cánh, 5 tiểu nhụy, đặc tính của họ solanaceae. Những loại hoa dễ phân biệt, chỉ những hoa ở phía dưới là lưỡng tính, và như vậy những hoa này mới cho ra trái. Những hoa đực ở phía trên, hạt phấn được những con ong mang đến nướm hoa cái để thụ phấn, đây là thông thường của giống cà tím hoang.
Hoa đơn hoặc tập hợp thành chùm từ 2 đến 5, vành hoa gồm 5 đài thường có màu tím. Hoa có 5 tiểu nhụy dài, bao phấn màu vàng dài, họp thành ống bao quanh vòi nhụy. Phấn hoa nặng nếu được chuyển đi bởi gió thì không quá 1 m. Thụ phấn tự nhiên có thể được thực hiện và sự thụ phấn còn có thể do phong môi hay trùng môi tác nhân của gió hay những loài ong.
Những hoa quay trở xuống và được mang bởi một cuống cứng. Trái 4 Quả thịt, nhiều phòng, phía đầu nhỏ hơn phía đáy, dài 17÷19 cm hay hơn, đường kính 4-5 cm hay hơn, vỏ láng bóng, màu tím sậm, tím, tím đậm đen khi chín. Cân nặng khi già đạt đến 0,4 ÷ 1 kg; cuống dài 4÷5 cm hay hơn. Hạt Hạt mịn đưới ánh sáng có màu xám, hạt nhiều, màu nâu, nhẵn, hình dĩa, có một đường viền màu vàng nhạt xung quanh bìa.
CÁCH TRỒNG VÀ THU HOẠCH [50] 1. Cách trồng Tại khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới, cà tím có thể trồng trực tiếp trong vườn. Tại các khu vực ôn đới, việc trồng cây cà tím giống ra vườn chỉ thích hợp khi đã hết sương muối. Việc gieo hạt thường bắt đầu khoảng 8÷10 tuần trước khi hết sương muối.
Nhiều loại sâu bệnh phá hoại các loài thực vật họ Cà khác như cà chua, khoai tây, ớt… cũng gây thiệt hại cho cà tím. Vì lý do này, không nên trồng cà tím tại các khu ruộng trước đó đã trồng các loài cây kia. Người ta cũng khuyến cáo nên canh tác trở lại cà tím trên cùng một thửa ruộng chỉ sau khoảng 4 năm để có thể có mùa màng với thu hoạch tốt. Các loài sâu hại phổ biến tại Bắc Mỹ là: bọ cánh cứng phá khoai tây, bọ chét, các loài rệp và ve bét.
Nhiều loại sâu bệnh này có thể được kiểm soát bằng cách sử dụng Bacillus thurengensis (Bt), một loài vi khuẩn tấn công các phần mềm trên cơ thể của ấu trùng. Sâu trưởng thành có thể kiểm soát bằng cách bẫy bắt. Các loài bọ chét là rất khó kiểm soát. Vệ sinh tốt khi quay vòng canh tác là cực kỳ quan trọng trong việc kiểm soát bệnh nấm đối với cà tím, trong đó nguy hiểm nhất là các loài Verticillium.
Khoảng cách gieo trồng là khoảng 45÷60 cm (18÷24 inch) giữa các cây, phụ thuộc vào giống và từ 60÷90 cm (24÷36 inch) giữa các luống, phụ thuộc vào các loại công cụ gieo trồng được sử dụng. Lớp phủ bổi là cần thiết để giữ ẩm và chống cỏ dại cũng như nấm. Quả thường được thu hoạch trước khi đài hoa chuyển thành dạng nửa gỗ hóa. Thu hoạch 5 Thu hái khi quả đã lớn đẫy, căng đều, vỏ bắt đầu chuyển từ màu tím sang tím nhạt, cách 2÷3 ngày thu chọn một lần, không để cà quá già kém chất lượng.
PHÂN BỐ [10, 11, 12] Hình 1. Tình hình sản xuất cà tím trên thế giới từ 1995 – 2004 Châu Á đứng đầu về sản xuất và phân phối cà tím, Ấn Độ và Trung Quốc là hai nước có sản lượng xuất khẩu cao nhất sau đó là Thái Lan, Malaysia, Indonesia và Philippines là những nước sản xuất cà tím quan trọng ở Châu Á. Hiện nay Nhật Bản là nước sản xuất cà tím quan trọng trên thế giới. THÀNH PHẦN HÓA HỌC 1.
Thành phần dinh dưỡng [16] Bảng 1. Bảng thành phần dinh dưỡng trong 100g ăn được Calories 24,0 Đồng (mg) 0,12 Natri (mg) 3,0 Kali (mg) 2,0 Ẩm độ (%) 92,7 Sulfur (mg) 44,0 6 Carbohydrates (%) 4,0 Clo (mg) 52,0 Protein (g) 1,4 Vitamin A (I. Hợp chất hóa học trong cà tím 1. Polyphenol [1, 18, 33] Hợp chất phenol là hợp chất mà phân tử có chứa vòng benzen, trong đó có một, hai hoặc nhiều hơn hai nhóm hydroxyl.
Dựa vào đặc trưng của bộ xương cacbon, các hợp chất phenol tự nhiên có thể chia ra làm 3 nhóm chính: - Nhóm hợp chất phenol C6 – C1(axit galic) - Nhóm hợp chất phenol C6 – C3(axit cafeic) - Nhóm hợp chất phenol C6 – C3- C6( catechin và flavonoid) Thuật ngữ polyphenol bao gồm hơn 8000 cấu trúc, có thể phân loại thành 10 lớp khác nhau tùy thuộc vào cấu trúc hóa học cơ bản. Bảng chỉ ra những họ polyphenol, hầu hết chúng là các mono hay polysaccharide có chức năng khác nhau như ester hay methyl ester. Hầu hết phenolic tồn tại trong rau quả hòa tan được trong nước.