phần mở đầu, phần kết luận, phần nội dung luận văn gồm 3 chƣơng nhƣ sau: 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Trong chƣơng này, chúng tôi giới thiệu các vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài: câu đơn trần thuật tiếng Việt, biến thể đồng nghĩa của câu đơn trần thuật tiếng Việt và các phƣơng pháp biến đổi đồng nghĩa câu đơn trần thuật tiếng Việt. Chƣơng 2: KẾT QUẢ KHẢO SÁT NĂNG LỰC SỬ DỤNG CÁC PHƢƠNG PHÁP BIẾN ĐỔI ĐỒNG NGHĨA CÂU ĐƠN TRẦN THUẬT TIẾNG VIỆT CỦA ĐỐI TƢỢNG HỌC VIÊN NGƢỜI NƢỚC NGOÀI Trong chƣơng này, chúng tôi khảo sát thực tế năng lực sử dụng các phƣơng pháp biến đổi đồng nghĩa của đối tƣợng học viên ngƣời nƣớc ngoài ở những trình độ khác nhau. Chúng tôi cũng tổng hợp, so sánh những kết quả thu đƣợc và đƣa ra nhận xét. Chƣơng 3: ỨNG DỤNG GIẢNG DẠY CHO ĐỐI TƢỢNG HỌC VIÊN NGƢỜI NƢỚC NGOÀI THÔNG QUA MỘT SỐ DẠNG BÀI TẬP RÈN LUYỆN CÁC PHƢƠNG PHÁP BIẾN ĐỔI ĐỒNG NGHĨA CÂU ĐƠN TRẦN THUẬT TIẾNG VIỆT Trong chƣơng này, chúng tôi đƣa ra một số nhận định về vấn đề giảng dạy câu đồng nghĩa tiếng Việt và các dạng bài tập liên quan trong các giáo trình dạy tiếng hiện nay.
Bên cạnh đó, chúng tôi tập trung thiết kế những dạng bài tập cụ thể rèn luyện khả năng sử dụng các phƣơng pháp biến đổi câu để tạo ra các dạng đồng nghĩa cho đối tƣợng học viên ngƣời nƣớc ngoài. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1: Cơ sở lý thuyết Khi tiếp xúc một ngoại ngữ, ngƣời học thƣờng đƣợc tiếp cận những cấu trúc ngữ pháp có tính qui phạm. Với những đối tƣợng bắt đầu học tiếng, trình độ sơ cấp, họ thƣờng cố gắng ghi nhớ bằng cách sử dụng các cấu trúc ở những tình huống giao tiếp khác nhau, nhƣng theo một lối mòn nhất định. Bắt đầu từ trình độ sơ cấp này, ngƣời học cũng đã đƣợc yêu cầu nắm bắt những hiện tƣợng đồng nghĩa, trái nghĩa ở mức độ đơn giản.
Với những đối tƣợng ở trình độ trung cấp, họ đƣợc cung cấp thêm về số lƣợng từ vựng và một số cấu trúc ngữ pháp mới tƣơng đƣơng, nhƣng phạm vi sử dụng vẫn còn hạn chế và thụ động. Với những đối tƣợng ở trình độ cao cấp hơn, các đối tƣợng này đã có những kiến thức cơ bản về ngữ pháp của tiếng Việt, số lƣợng từ vựng phong phú hơn, môi trƣờng giao tiếp mở rộng hơn nên khả năng nắm bắt và thực hành những lối nói khác nhau cho cùng một nội dung của họ đã tốt hơn và dần dần thành thạo. Tuy nhiên, ở mỗi trình độ, các đối tƣợng vẫn mắc phải những lỗi sai và những vấn đề khó khăn, lúng túng khi giao tiếp đặc biệt là khi lựa chọn cách diễn đạt phù hợp cho mục đích giao tiếp của mình. Nhu cầu và mục đích của một ngƣời học tiếng là có thể giao tiếp một cách tự nhiên nhất với ngƣời bản ngữ.
Việc sử dụng ngôn ngữ ở những cách diễn đạt khác nhau là rất cần thiết đối với họ trong việc làm chính xác hóa, làm tăng sự phong phú và biểu cảm nội dung diễn ngôn. Vì vậy, trong chƣơng này, chúng tôi đi vào tìm hiểu và liệt kê những phƣơng pháp biến đổi câu để tạo thành biến thể đồng nghĩa về mặt ngữ nghĩa học, phục vụ cho mục đích giảng dạy câu cho ngƣời nƣớc ngoài. Những nội dung trình bày trong chƣơng này giống nhƣ chiếc chìa khóa, giúp ngƣời học có thể tra cứu, ghi nhớ và ứng dụng rất thiết thực khi giao tiếp. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Câu đơn trần thuật tiếng Việt Mục tiêu đầu tiên của bất kỳ một ngƣời nào khi học ngoại ngữ là nói đƣợc một câu nói hoàn chỉnh. Những nội dung thông báo đều đƣợc hiện thực hóa trên ngữ liệu ngôn ngữ cụ thể là câu. Để giúp ngƣời học tiếng Việt nắm bắt và sử dụng thành thạo những kiểu loại câu tiếng Việt là một yêu cầu quan trọng trong công việc dạy tiếng. Trong phạm vi luận văn, chúng tôi không thể bao quát đƣợc hết các biến thể đồng nghĩa của các kiểu loại câu tiếng Việt.
Hình thức câu tiếng Việt đƣợc khảo sát trong luận văn là hình thức câu đơn trần thuật tiếng Việt, có nòng cốt là cấu trúc Đề - Thuyết. Về mặt cấu trúc, chúng tôi sử dụng khái niệm về câu đơn tiếng Việt của tác giả Đào Thanh Lan làm cơ sở nghiên cứu và khảo sát. Theo đó, “ Khi câu có cấu tạo: Đề ngữ - Thuyết ngữ thì nó là câu đơn thuần túy. Khi một trong hai thành phần phát triển theo sơ đồ: a, Đề cú - Thuyết ngữ Đề - thuyết b, Đề ngữ - Thuyết cú Đề - thuyết thì câu đơn thuần túy đã đƣợc phát triển từ câu một bậc đề - thuyết thành câu hai bậc đề - thuyết (câu đơn phát triển)” [35, tr.
Về mặt mục đích phát ngôn: Trong nghiên cứu về cú pháp tiếng Việt, GS.TS Nguyễn Văn Hiệp, trên cơ sở tán thành quan điểm của tác giả Bùi Mạnh Hùng và bổ sung những nghiên cứu riêng, đã phân loại câu tiếng Việt nhƣ sau: 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Câu không đánh dấu Câu đánh dấu (marked sentence) (unmarked sentence) Câu Câu Câu Câu trần thuật nghi vấn cầu khiến cảm thán Theo đó, “Câu trần thuật đƣợc coi là kiểu câu không đánh dấu (unmarked sentence). Có thể giải thích một cách đơn giản đó là kiểu câu không có dấu hiệu hình thức của những kiểu câu khác” [23, tr. Ngoài ra, “câu trần thuật là câu có những tiểu từ tình thái nhƣ vậy, mà, rồi, hay các tổ hợp đặc ngữ nhƣ là cùng, còn gì, mới phải, mới được đứng ở cuối câu” [23, tr. Biến thể đồng nghĩa của câu đơn trần thuật tiếng Việt Theo V.
Kasevich, sự tồn tại hai mặt ở các ký hiệu ngôn ngữ - cái biểu đạt và cái đƣợc biểu đạt – cho phép khảo sát và, trong đó phân chia một văn bản theo sự phân đoạn đôi. Việc chấp nhận thuật ngữ này cho phép chính xác hóa định nghĩa về ngôn ngữ: ngôn ngữ là một hệ thống các hình hiệu, các ký hiệu và các qui tắc hành chức của chúng. Bình diện gắn với cấu trúc và các tính chất của những cái đƣợc biểu đạt, đƣợc gọi là mặt nội dung. Bình diện gắn liền với cấu trúc và những tính chất của những cái biểu đạt gọi là mặt biểu thị.
Ký hiệu ngôn ngữ tồn tại hai mặt: mặt biểu thị và mặt nội dung. Một nội dung có thể đƣợc biểu thị bằng nhiều hình thức khác nhau. “Luận đề phi đối xứng của mối liên hệ giữa cái biểu đạt và cái đƣợc biểu đạt chỉ ra rằng: không tồn tại sự tƣơng ứng thƣờng xuyên giữa hai mặt này của ký hiệu. Cùng một cái biểu đạt có thể tƣơng ứng với nhiều cái đƣợc biểu đạt khác nhau, điều đó đƣợc thể hiện ở hiện tƣợng đồng âm, hiện tƣợng đa nghĩa, 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hiện tƣợng trung hòa hóa.
Cùng một cái đƣợc biểu đạt có thể đƣợc biểu hiện bằng những cái biểu đạt khác nhau, điều này đặc trƣng cho hiện tƣợng đồng nghĩa” [62, tr. Từ thời Hy Lạp cổ đại, ngƣời ta bắt đầu chú ý đến hiện tƣợng đồng nghĩa cú pháp và dùng thuật ngữ paraphrasis để chỉ các cặp câu đồng nghĩa. Những năm 60 của thế kỷ 20 trở lại đây, các nhà nghiên cứu đã thực sự đi vào nghiên cứu về câu đồng nghĩa. Ngƣời ta nghiên cứu vấn đề này trên hai phƣơng diện: lý thuyết và ứng dụng.
Về mặt lý thuyết, ngƣời ta tiến hành xác định khái niệm paraphrase, phân loại các loại câu đồng nghĩa, chỉ ra và xác định vai trò của các loại phƣơng thức và phƣơng tiện diễn đạt đồng nghĩa,… Về mặt nghiên cứu ứng dụng, ngƣời ta vận dụng khái niệm câu đồng nghĩa đề ra các kỹ thuật mới trong lĩnh vực dạy tiếng, dùng các lối diễn đạt đồng nghĩa để kiểm tra các phép biến đổi câu,… Có thể kể đến những nhà nghiên cứu trên lĩnh vực câu đồng nghĩa nhƣ sau: H.Heasley,… Ở Việt Nam, một số nhà nghiên cứu cũng đã đề cập đến vấn đề câu đồng nghĩa: Hoàng Trọng Phiến, Bùi Tuyết Mai, Trần Ngọc Thêm, Nguyễn Đức Dân,… TS Nguyễn Hữu Chƣơng trong luận án tiến sĩ của mình đã có những nghiên cứu khá cụ thể về hiện tƣợng câu đồng nghĩa tiếng Việt (so sánh với tiếng Anh). Luận văn sử dụng những định nghĩa đƣợc trình bày trong luận án tiến sĩ này để phục vụ mục đích nghiên cứu. Đứng trên quan điểm logic học, tác giả đã trích dẫn quan niệm của R. Martin về câu đồng nghĩa nhƣ sau: “Hai câu Pi và Pj sẽ đƣợc coi là có liên hệ đồng nghĩa ngôn ngữ học/ngữ nghĩa học (paraphrase linguistique/semantique) nếu đối với mọi ngƣời nói và trong mọi tình huống, Pi tƣơng đƣơng với Pj một cách logic.
Hoặc nhất thiết là Pi thì suy ra đƣợc Pj và ngƣợc lại. Tác giả tán thành quan điểm của R. Martin về câu đồng nghĩa và sử dụng các định nghĩa của ông cùng tiêu chuẩn 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com “khả năng suy diễn hai chiều” vào việc nhận diện các kiểu loại câu đồng nghĩa trong tiếng Việt [12, tr. Tác giả phân chia các bình diện đồng nghĩa của câu nói (phát ngôn) thành 7 kiểu nhƣ sau: a) Hai câu có danh ngữ đồng sở chỉ: Ví dụ: Bắt lấy tên cướp / nó.
Trong một tình huống, nếu “nó” đƣợc hiểu là “tên cƣớp” thì “nó” và “tên cƣớp” là các danh ngữ đồng sở chỉ. Và hai câu trên có quan hệ đồng sở chỉ. b) Hai câu cùng chỉ một sự tình: Đây là các câu có vị từ hạt nhân chỉ cốt lõi của sự tình, có cùng cấu trúc vị từ - tham tố. Các tham tố có quan hệ đồng sở chỉ hoặc vừa đồng sở chỉ vừa đồng nghĩa.
Ví dụ: Bắt lấy tên cướp. [] v [object] Hai câu cùng chỉ một sự tình vì có chung vị từ “bắt lấy”, có các danh ngữ đồng sở chỉ là “tên cƣớp” và “nó”, có cùng cấu trúc vị từ - tham tố là: [] - v - [obj], và có quan hệ suy diễn hai chiều: Bắt lấy tên cướp Bắt lấy nó. c) Hai câu đồng nghĩa cấu trúc tham tố: 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đây là hai câu có cùng cấu trúc tham tố, nội dung nghĩa vị của vị từ và các tham tố về cơ bản là giống nhau (có thể khác nhau ở một số sắc thái nghĩa, sắc thái biểu cảm). Điều kiện: đây phải là hai câu cùng chỉ một sự tình.
Ví dụ: Ba cho / biếu bà quả cam.