CHƯƠNG I. CHÂN NGUYÊN THIỀN SƯ – CON NGƯỜI VÀ SỰ NGHIỆP 1. Thời đại Sang thế kỉ XVII, bước giao thoa thời đại mở ra những biến cố chưa ổn định về giữa quyền lực các dòng họ Mạc - Trịnh và Trịnh - Nguyễn trên nền tảng thể chế Lê triều. Nội chiến giữa các thế lực triều Lê không làm tê liệt hệ thống hành chính đã đi vào ổn định trong xã hội từ thành thị tới nông thôn bởi tồn tại hằng hữu trong luỹ tre làng và thiết chế xã hội tự trị.
Những năm đầu thế kỉ XVII, chiến tranh liên miên nổ ra giữa hai miền Nam Bắc, dân điêu đứng trong binh lửa, ngoài ra, các cuộc khởi nghĩa nông dân nổi dậy rồi bị triều đình dập tan. Điều đó ảnh hưởng đến nền kinh tế văn hoá làng xã vừa bảo thủ, bảo lưu cái đặc trưng riêng, khép kín dẫn đến kinh tế chậm phát triển và nô dịch hoá dần dần quyền lợi vào tay địa chủ quan lại. Đồng thời về chính trị, Nho giáo độc tôn và tôn sùng hình thức thi cử tuyển chọn nhân tài vào bộ máy vua chúa quan lại và truyền đạo học trong hình thức làng xã tới trung ương. Chính trị hoá trong bộ máy bằng hệ tư tưởng Nho giáo đã đặt nền tảng cho sự phát triển văn hoá kế thừa truyền thống từ trước: Độc tôn Nho học và điều kiện tiên quyết trong so sánh với Phật giáo giai đoạn đầu thế kỉ XVII có mối liên thông trong tư tưởng và quan niệm quản lí xã hội và phát triển văn hoá.
Văn hoá và kinh tế làng xã làm nền tảng cho sự phát triển xã hội và cũng chính mối giao thoa biến chuyển đẩy những nấc thang chính trị luân phiên điên đảo trong vòng xoáy quyền lực các họ tộc. Nhà Mạc suy vi. Vua Lê và chúa Trịnh cai quản phương Bắc. Chúa Nguyễn lấy sông Gianh làm giới, trông coi cõi Nam biên.
Tất cả hiện lên bộ mặt của Lê triều yếu vua, thịnh chúa và suy vi trong chính thống đạo truyền. Đầu thế kỉ XVII sang thế kỉ XVIII, xã hội Việt Nam trong chiến tranh và đói kém vẫn mang hình thái ổn định về văn hoá tư tưởng. Sự phát triển điều hoà tôn giáo Phật giáo được sự hậu thuẫn, hỗ trợ rất nhiều từ bộ máy quan lại triều đình, đặc biệt là vua chúa. Đồng thời sự dung hoà Tam giáo Nho Phật Đạo được 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tiếp biến từ trước trong truyền thống văn hoá nước nhà tạo điều kiện tiếp nối cho Phật giáo Lê triều phát triển.
Lê Thần Tông, Lê Chân Tông, Lê Hy Tông, Lê Dụ Tông. cho đến các chúa như Trịnh Cán, Trịnh Cương, Trịnh Căn, Trịnh Sâm… đều hết mực tôn sùng Phật giáo trong dung hoà tam giáo đồng tiến để phát triển văn hoá xã hội. Việc triều chính tôn sùng đạo Phật được nhiều văn bia nói riêng và thư tịch Phật giáo nói chung ghi chép, như trong bài tựa Kế đăng lục3 của Như Sơn nhiều lần nói đến thời thế với sự ca ngợi vua Lê: “Thánh triều Thánh thiên tử, lưu tâm tượng giáo, tín thủ pháp luân, chấn Phật pháp chi quyền hành, khai nhân thiên chi nhãn mục, khâm tải hộ trì giả, Quốc vương Thánh chúa sử phi đồ nhi tịnh cố càn khôn… – Thánh triều Thánh thiên tử, lưu tâm đến Phật giáo, tin giữ bánh xe pháp luân, chấn hưng quyền hành Phật pháp, mở sáng mắt cho cõi trời người, kính cẩn mang theo hộ trì, Quốc vương Thánh chúa khiến hồng đồ to lớn mãi vững chãi với trời đất… ” (tựa 3b- 4a). Một thời kì đã dung hoà đạo Phật và sự ổn định phát triển của xã hội được Thiền tông bản hạnh4, một tác phẩm chữ Nôm của Chân Nguyên cũng ghi lại như sau: “Bụt sinh Hoàng đế Lê gia Thánh chúa vỗ trị gần xa lai hàng Bốn phương khói tắt lửa lang Phong điều vũ thuận dân khang thái bình Được mùa hải yến hà thanh Gia gia ngưỡng chúc thánh minh cửu trường Dân nông thịnh vượng tầm tang Thóc Hán gạo Đường đại nẫm phong niên”.
Bối cảnh đó, Phật giáo đã giữ được tinh thần nhập thế với sự từ bi hỉ xả cứu cánh cho cuộc sống đầy biến động của nhân dân. Tiếp nối truyền thống từ 3 Kế đăng lục của Như Sơn, bản lưu A. 158 tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Bản in năm 1734 thời Hoàng triều nhà Lê.
4 Thiền tông bản hạnh: Chân Nguyên Thiền sư soạn, Nhà sư Thanh Hanh cho in tại chùa Vĩnh Nghiêm, năm Bảo Đại 7 (1932).562, lưu tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trước, sau khi phân rã khỏi triều chính và lan toả vào dân dã, Phật giáo gần với cuộc sống đời thường của dân chúng hơn và tiên quyết cho việc tạo nên bản thể văn hoá Phật giáo Đại Việt. Điều kiện Phật giáo đã ăn sâu trong tâm thức người Việt, trải qua các giai kì tạo tiền đề cho sự phát triển của Phật giáo trong giai đoạn mới trung hưng triều đại vua Lê chúa Trịnh và kéo dài sang thời Nguyễn về sau. Cùng giai kì, yếu tố ngoại vi cũng tác động lớn đến kinh tế văn hoá chính trị trong nước.
Ngay sau khi nhà Lê chúa Trịnh lấy lại Bắc Việt từ nhà Mạc, người Minh đã sang nước ta buôn bán từ trước, nay được dịp phát triển mạnh hơn, kinh tế chợ thuyền vì thế thêm tấp nập. Nhất Kinh kì nhì phố Hiến trở thành mối giao thoa kinh tế chính trị cho vùng Bắc. Đây cũng là một điều kiện để sau này Phật giáo khi du nhập có môi sinh văn hoá phát triển. Đồng thời, nhà Minh suy vi, nhà Thanh lấn chế, khi Lý Tự Thành đánh vào hậu tẩm nhà Minh thì xã hội Trung Quốc náo loạn, mở ra thời kì mới với sự bành trướng của bộ tộc nhà Thanh.
Trước điều kiện đó, nhiều thương nhân Trung Hoa sang Đại Việt buôn bán đã định cư tạo thành làng Minh hương ở dọc ven biển, trú ngụ các khu vực phố Hiến (Hưng Yên) và Chi Lăng cũng như Thuận An (Huế) trong đó chủ yếu là người Phúc Kiến. Sự du nhập buôn bán đi lại và chạy giặc Thanh kéo theo tôn giáo bản địa, các nhà sư người Trung Hoa sang Đại Việt truyền đạo tông Lâm Tế và tông Tào Động. Cuối Minh đầu Thanh, người Trung Quốc không chỉ đào tẩu ra nước ngoài nói chung và người Phúc Kiến nói riêng sang Đông Nam Á tạo nên những khu người Hoa sầm uất. Về mặt tôn giáo cũng bởi những nguyên nhân nội bộ tranh chấp quyền lực và sự xuống cấp của tín ngưỡng tôn giáo bản địa trong giai đoạn thoái trào tiếp biến lưỡng triều Minh Thanh mà tạo nên những nhân tố tích cực cho phát triển tông giáo Đại Việt5.
5 谭志词, 越南闽籍侨僧拙公和尚出国的原因。《东南亚纵横》。2007 年 05 期. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Điều kiện tông giáo mở ra khi Chuyết Chuyết6 kế tông Lâm Tế từ Phúc Kiến vào Nam năm 1630 và đi dần ra Bắc hoằng dương đạo pháp ở Nghệ An - Thanh Hoá và dừng lại ở Thăng Long. Chuyết Chuyết được sự hậu thuẫn của hoàng thân quốc thích và quan lại triều Lê là vua Lê Thần Tông và chúa Trịnh Tráng cũng như các cung tần, cung phi. Điều kiện thuận lợi đó khiến cho mạch truyền Lâm Tế miền Bắc được dịp phát triển mạnh mẽ, và Chuyết Chuyết về chùa Phật Tích và Bút Tháp hoằng dương như một điều đã định cho tông phái.
Bản thân thời đại không dừng ở việc Chuyết Chuyết đơn thương độc mã trên con đường hoằng dương đạo pháp. Chính con đường ông đi dường như đã được mở rộng bởi thời thế và lòng người. Nhà Thanh xâm chiếm nhà Minh dẫn đến nhiều danh nhân sĩ phu Trung Hoa chán cảnh thờ chúa khác và dao du đến đất Đại Việt tìm nguồn vui mới với ẩn dật và tiêu khiển cuối đời và gắn liền với sự phát triển Phật giáo. Những vị này trong đó có Âu Dương Vựng Đăng, Tưởng Quang Đình, Minh Hành….
đã góp công hoằng dương chính pháp với Chuyết Chuyết mà sau này Minh Hành kế đăng tu trì tại chùa Bút Tháp7. Đồng thời ngoài Bắc, tông Tào Động cũng truyền sang bởi Thiền sư Thuỷ Nguyệt8 và mở ra tông phái chùa Hồng Phúc phố Hoè Nhai9; ở Nam Việt, Tông Lâm Tế truyền vào bởi Nguyên Thiều Hoán Bích thiền sư10 cùng tông Tào Động 6 Chuyết Chuyết: họ Lý, pháp danh là Viên Văn. Ông sinh năm 1590 tại Tiệm Sơn - Hải Trừng - Phúc Kiến - TQ, (nay thuộc thành phố Chương Châu – Trung Quốc). Xuất gia theo học với Tăng Đà Đà, khoảng năm 1630 ông sang Đại Việt, khoảng năm 1634, ngài trụ trì chùa Phật Tích, đến năm 1642.
Sau khi Bút Tháp được nhà chúa trùng tu (từ 1634 đến 1642) thì ngài được mời sang trụ trì bên Bút Tháp. 7 Âu Dương Vựng Đăng soạn văn bia Hiển Thuỵ am Báo Nghiêm tháp bi minh chùa Bút Tháp và giúp Minh Hành dựng chùa Bút Tháp năm 1647, Tưởng Quang Đình soạn bia tháp Lê Thị Ngọc Duyên chùa Phật Tích, Minh Hành dựng chùa và soạn bia ở Bút Tháp. 8 Thuỷ Nguyệt: (1637 - 1704) , Đời pháp thứ 36, tông Tào Động, là đệ nhất tổ Tào động Đại Việt thời Lê. 9 Chùa Hồng Phúc: Chùa ở phố Hoè Nhai – Hà Nội, tương truyền chùa có từ thời Lí.
Đến thời Lê các thiền sư Trung Hoa vào truyền phái Tào Động và chùa trở thành Tổ đình Tào Động của miền Bắc. Đến nay chùa Hoè Nhai vẫn là một tổ đình lớn, trong chùa còn nhiều tháp đá, văn bia ,tượng pháp, đối liên có niên đại cách nay mấy trăm năm. 10 Nguyên Thiều Hoán Bích Thiền sư: thiền sư pháp tự Hoán Bích, người Triều Châu, Quảng Đông, Trung Quốc sang phát triển đạo pháp ở Đại Việt vào năm 1665 tại Quy Nhơn và lập chùa Thập Tháp DI Đà, về sau ngài về Huế và dựng nhiều tổ đình và Tông phái phát triển nơi đây, cũng như phát triển khắp xứ Trung Nam kì. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com bởi Thích Đại Sán11 cũng được sự hoằng dương bởi các chúa Nguyễn.
Sự chia tông lập phái Phật giáo làm nên thời kì mới cho văn hoá Việt Nam giai đoạn sơ kì thế kỉ XVII và nguồn phát cho đến ngày nay. Mối giao thời giữa hai thế kỉ, Chân Nguyên Thiền sư là con người của thời đại nhiều biến chuyển đã tiếp nối và kế thừa được nguồn văn hoá trong và ngoài nước để hình thành nên bản thể một thiền gia thạch trụ người Việt trong giai đoạn Lê triều. Ông kế thừa thiền phái Lâm Tế từ Minh Lương truyền đèn nối pháp và làm rạng danh Thiền học Việt Nam. Biến chuyển của thời đại có tính tích cực đối với sự phát triển của tư tưởng cũng như con người ông.