Nghiên cứu kháng sinh trong trầm tích sông Sài Gòn - Phạm Nguyễn Lê Quốc Khánh, Đại học Bách Khoa

Tài liệu nghiên cứu Nghiên cứu kháng sinh trong trầm tích sông sài gòn, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu về .

Chuyên ngành

Quản lý và Tài nguyên Môi trường

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn tốt nghiệp

2016

53
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

NHIỆM VỤ LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

LỜI CẢM ƠN

TÓM TẮT NỘI DUNG

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC HÌNH VẼ, HÌNH ẢNH

CÁC TỪ VIẾT TẮT

1. CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU

1.1. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI

1.2. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN

1.2.1. Nội dung

1.2.2. Phương pháp thực hiện

1.3. PHẠM VI NGHIÊN CỨU VÀ GIỚI HẠN ĐỀ TÀI

2. CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ KHÁNG SINH VÀ LƯU VỰC SÔNG SÀI GÒN

2.1. TỔNG QUAN VỀ KHÁNG SINH

2.1.1. Khái niệm

2.1.2. Phân loại kháng sinh

2.1.3. Ứng dụng

2.1.4. Đặc tính lý hóa của chất kháng sinh trong môi trường

2.2. TỔNG QUAN VỀ Ô NHIỄM KHÁNG SINH

2.2.1. Khái quát ô nhiễm kháng sinh trong môi trường

2.2.2. Tác hại của ô nhiễm kháng sinh trong môi trường

2.2.3. TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU Ô NHIỄM KHÁNG SINH TRONG TRẦM TÍCH

2.3. TỔNG QUAN VỀ LƯU VỰC SÔNG SÀI GÒN

2.3.1. Điều kiện tự nhiên

2.3.2. Điều kiện kinh tế - xã hội

2.3.3. Những nguồn phát thải kháng sinh vào lưu vực sông Sài Gòn

2.4. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH SỬ DỤNG KHÁNG SINH TẠI LƯU VỰC SÔNG SÀI GÒN

2.4.1. Kháng sinh sử dụng trong bệnh viện và nhà thuốc

2.4.2. Kháng sinh sử dụng trong chăn nuôi

2.4.3. Kháng sinh được sử dụng trong nuôi trồng thủy sản

2.4.4. Thực trạng kháng kháng sinh

2.4.5. Tóm tắt các loại kháng sinh thường được sử dụng dọc sông Sài Gòn

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VỀ Ô NHIỄM KHÁNG SINH TẠI LƯU VỰC SÔNG SÀI GÒN

3.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

3.2. VỊ TRÍ LẤY MẪU

3.3. PHƯƠNG PHÁP LẤY MẪU

3.4. QUÁ TRÌNH XỬ LÝ VÀ PHÂN TÍCH MẪU

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ

4.1. SỰ HIỆN DIỆN CỦA KHÁNG SINH TRONG TRẦM TÍCH SÔNG SÀI GÒN

4.2. ĐÁNH GIÁ DIỄN BIẾN NỒNG ĐỘ CỦA CÁC CHẤT KHÁNG SINH DỌC SÔNG SÀI GÒN

4.2.1. Tích lũy kháng sinh từ thượng nguồn đến hạ nguồn

4.2.2. Diễn biến nồng độ của từng kháng sinh trong trầm tích tại sông Sài Gòn

5. CHƯƠNG 5: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP GIẢM THIỂU Ô NHIỄM KHÁNG SINH TẠI LƯU VỰC SÔNG SÀI GÒN

5.1. GIẢI PHÁP GIẢM THIỂU TÌNH TRẠNG SỬ DỤNG KHÁNG SINH QUÁ MỨC TẠI NGUỒN

5.1.1. Giải pháp về mặt pháp lý

5.1.2. Giải pháp về kinh tế

5.1.3. Giải pháp về mặt truyền thông và giáo dục

5.2. GIẢI PHÁP VỀ CÔNG NGHỆ LOẠI TRỪ KHÁNG SINH TRƯỚC KHI ĐƯA VÀO MÔI TRƯỜNG

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về kháng sinh trong trầm tích sông Sài Gòn

Lưu vực sông Sài Gòn là một trong những khu vực có mật độ dân số cao và hoạt động kinh tế sôi động. Kháng sinh được sử dụng rộng rãi trong y tế, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản. Tuy nhiên, việc sử dụng kháng sinh không hợp lý đã dẫn đến ô nhiễm môi trường, đặc biệt là trong trầm tích sông Sài Gòn. Nghiên cứu này nhằm đánh giá sự hiện diện và nồng độ của các chất kháng sinh trong trầm tích, từ đó đề xuất các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm.

1.1. Khái niệm về kháng sinh và ứng dụng

Kháng sinh là các chất có khả năng tiêu diệt hoặc ức chế sự phát triển của vi khuẩn. Chúng được sử dụng trong y tế để điều trị bệnh, trong chăn nuôi để tăng trưởng và trong nuôi trồng thủy sản để phòng bệnh. Việc sử dụng kháng sinh ngày càng gia tăng, dẫn đến nguy cơ ô nhiễm môi trường.

1.2. Tình hình sử dụng kháng sinh tại lưu vực sông Sài Gòn

Tại lưu vực sông Sài Gòn, kháng sinh được sử dụng chủ yếu trong các bệnh viện, nhà thuốc và trong chăn nuôi. Sự gia tăng sử dụng kháng sinh đã dẫn đến tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng, với nhiều loại kháng sinh được phát hiện trong trầm tích.

II. Vấn đề ô nhiễm kháng sinh trong trầm tích sông Sài Gòn

Ô nhiễm kháng sinh trong trầm tích sông Sài Gòn đang trở thành một vấn đề nghiêm trọng. Các chất kháng sinh có thể tồn tại lâu dài trong môi trường, gây ảnh hưởng đến hệ sinh thái và sức khỏe con người. Việc thiếu các biện pháp xử lý hiệu quả đã dẫn đến sự tích tụ của kháng sinh trong trầm tích.

2.1. Nguyên nhân gây ô nhiễm kháng sinh

Nguyên nhân chính gây ô nhiễm kháng sinh bao gồm việc sử dụng kháng sinh quá mức trong y tế và chăn nuôi, cùng với việc xử lý nước thải không hiệu quả. Hầu hết kháng sinh được thải ra môi trường mà không qua xử lý, dẫn đến sự tích tụ trong trầm tích.

2.2. Tác động của ô nhiễm kháng sinh

Ô nhiễm kháng sinh có thể gây ra sự phát triển của các chủng vi khuẩn kháng thuốc, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng và làm giảm hiệu quả của các phương pháp điều trị. Điều này cũng có thể dẫn đến sự suy giảm đa dạng sinh học trong hệ sinh thái.

III. Phương pháp nghiên cứu ô nhiễm kháng sinh trong trầm tích

Nghiên cứu này sử dụng các phương pháp khảo sát và phân tích mẫu trầm tích để đánh giá nồng độ kháng sinh. Các mẫu được lấy từ nhiều điểm dọc theo sông Sài Gòn, từ thượng nguồn đến hạ nguồn, nhằm xác định sự hiện diện và mức độ ô nhiễm kháng sinh.

3.1. Quy trình lấy mẫu trầm tích

Mẫu trầm tích được lấy từ 9 điểm khác nhau dọc sông Sài Gòn. Quy trình lấy mẫu đảm bảo tính đại diện và chính xác, nhằm phản ánh đúng tình trạng ô nhiễm kháng sinh trong khu vực.

3.2. Phân tích nồng độ kháng sinh

Các mẫu trầm tích sau khi thu thập sẽ được phân tích bằng các phương pháp hiện đại như LC-MS/MS để xác định nồng độ của 12 loại kháng sinh phổ biến. Kết quả sẽ giúp đánh giá mức độ ô nhiễm và đưa ra các giải pháp phù hợp.

IV. Kết quả nghiên cứu về kháng sinh trong trầm tích sông Sài Gòn

Kết quả nghiên cứu cho thấy có 5 loại kháng sinh được phát hiện trong trầm tích tại 9 điểm khảo sát. Nồng độ kháng sinh tăng dần từ thượng nguồn đến hạ nguồn, với Norfloxacin và Ciprofloxacin có nồng độ cao nhất. Điều này cho thấy sự tích tụ kháng sinh trong trầm tích là một vấn đề nghiêm trọng.

4.1. Sự hiện diện của kháng sinh trong trầm tích

Nghiên cứu phát hiện 5 loại kháng sinh, trong đó Norfloxacin có nồng độ cao nhất lên tới 1.170 µg/kg. Điều này cho thấy sự tồn tại của kháng sinh trong trầm tích là rất đáng lo ngại.

4.2. Diễn biến nồng độ kháng sinh

Nồng độ kháng sinh trong trầm tích có xu hướng tăng dần từ thượng nguồn đến hạ nguồn. Điều này có thể liên quan đến các hoạt động kinh tế và sinh hoạt của người dân trong khu vực.

V. Giải pháp giảm thiểu ô nhiễm kháng sinh trong trầm tích

Để giảm thiểu ô nhiễm kháng sinh trong trầm tích sông Sài Gòn, cần áp dụng các biện pháp quản lý môi trường hiệu quả. Các giải pháp bao gồm cải thiện hệ thống xử lý nước thải, tăng cường giáo dục cộng đồng và áp dụng các công nghệ xử lý kháng sinh.

5.1. Cải thiện hệ thống xử lý nước thải

Cần đầu tư vào các công nghệ xử lý nước thải hiện đại, có khả năng loại bỏ kháng sinh trước khi thải ra môi trường. Điều này sẽ giúp giảm thiểu ô nhiễm kháng sinh trong trầm tích.

5.2. Tăng cường giáo dục cộng đồng

Giáo dục cộng đồng về việc sử dụng kháng sinh hợp lý và tác động của ô nhiễm kháng sinh là rất cần thiết. Các chương trình truyền thông có thể giúp nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi của người dân.

VI. Kết luận và triển vọng tương lai về kháng sinh trong trầm tích

Nghiên cứu về kháng sinh trong trầm tích sông Sài Gòn đã chỉ ra mức độ ô nhiễm nghiêm trọng và cần có các biện pháp khắc phục kịp thời. Tương lai, cần tiếp tục nghiên cứu để theo dõi tình hình ô nhiễm và đánh giá hiệu quả của các giải pháp đã triển khai.

6.1. Tầm quan trọng của nghiên cứu tiếp theo

Nghiên cứu tiếp theo cần tập trung vào việc theo dõi sự biến đổi nồng độ kháng sinh theo thời gian và đánh giá tác động của các biện pháp quản lý đã thực hiện.

6.2. Hướng đi cho các giải pháp bền vững

Cần phát triển các giải pháp bền vững để quản lý ô nhiễm kháng sinh, bao gồm việc áp dụng công nghệ mới và tăng cường hợp tác giữa các bên liên quan.

16/08/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Kháng sinh là một trong những sản phẩm sáng tạo nhất của con người trong lĩnh vực y tế, đóng góp quan trọng vào cuộc sống của con người trong vấn đề phòng và chữa bệnh[1]. Hơn thế nữa kháng sinh không chỉ sử dụng để điều trị bệnh cho con người mà còn được ứng dụng trong chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản[1]. Từ những ứng dụng kể trên dẫn đến lượng kháng sinh ngày càng được sử dụng rộng rãi, chỉ xét riêng lượng kháng sinh sử dụng hàng năm trong lĩnh vực y tế đã lên tới từ 100.000 tấn trên thế giới[2]. Tuy nhiên trong những năm gần đây, ô nhiễm kháng sinh được xem là một loại chất ô nhiễm mới xuất hiện có khả năng tác động đến hệ sinh thái và sức khỏe con người[3], vì có đến 10-90% lượng kháng sinh được bài tiết trực tiếp ra môi trường thông qua phân và nước tiểu của người hoặc loài vật sử dụng[4].

Cùng với việc sử dụng kháng sinh một cách thiếu hợp lý (quá liều lượng, sử dụng không đúng chất kháng sinh.) khiến cho lượng kháng sinh thải ra môi trường ngày càng tăng cao[5]. Hậu quả lớn nhất đó là hình thành các chủng sinh vật mới trong môi trường có khả năng kháng lại các chất kháng sinh chúng ta hiện có, gây mất hiệu quả của các loại kháng sinh mà chúng ta đang sử dụng; trên thực tế vấn đề hình thành các vi khuẩn kháng kháng sinh được Tổ chức y tế thế giới (WHO) xếp vào một trong ba vấn đề lớn nhất của thế giới đe dọa đến sức khỏe cộng động thế kỷ 21[6]. Trong khi đó, một số nhóm thuốc kháng sinh như Tetracycline và Fluoroquinolones có khả năng hấp thụ mạnh mẽ trong trầm tích. Các loại thuốc kháng sinh có thể tương tác mạnh với đất sét, chất hữu cơ tự nhiên và oxit kim loại, điều này cho thấy trầm tích có thể là một nguồn ô nhiễm kháng sinh[8].

Một số kháng sinh có khả năng tồn tại trong trầm tích trong thời gian dài, chẳng hạn như Trimethoprim (100 ngày)[9], Flumequin (60-300 ngày)[9], Sarafloxacin (83-300 ngày)[9] và có khả năng hấp thụ trong trầm tích cao như Erythromycin (1. Lưu vực sông Sài Gòn là một khu vực phát triển bậc nhất tại Việt Nam. Sông Sài Gòn đi qua ba tỉnh Tây Ninh, Bình Dương và TP.HCM cùng với các hoạt động chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, y tế và sinh hoạt của người dân dẫn đến nguy cơ tiềm tàng ô nhiễm kháng sinh tại lưu vực sông Sài Gòn. Vì các hoạt động y tế, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản đều có thể sử dụng đến chất kháng sinh[1].

Mặc dù các nguồn nước thải này có nguy cơ bị ô nhiễm chất kháng 1 sinh, nhưng các hệ thống xử lý nước thông thường hiện nay lại không dành cho mục đích xử lý chất kháng sinh[1,7]. Bên cạnh đó, sông Sài Gòn còn là nguồn cấp nước thô cho các nhà máy cấp nước của khu vực. Tuy nhiên cho đến nay có rất ít nghiên cứu về kháng sinh tại lưu vực sông Sài Gòn từ thượng nguồn đến hạ nguồn, đặc biệt là kháng sinh trong trầm tích vẫn chưa có nghiên cứu nào. Từ những lý do trên, ta có thể thấy được nghiên cứu ô nhiễm kháng sinh trong trầm tích là điều rất cần thiết.

Vì vậy, nghiên cứu về ô nhiễm kháng sinh trong trầm tích tại lưu vực sông Sài Gòn được thực hiện để đáp ứng những vấn đề trên, đề tài này sẽ giúp đánh giá được tình hình sử dụng kháng sinh và xác định được nồng độ các chất kháng sinh sử dụng phổ biến hiện nay thải ra môi trường và tích lũy trong trầm tích tại sông Sài Gòn. Từ đó xác định được mức độ ô nhiễm của các chất kháng sinh trong môi trường và đề xuất một số giải pháp quản lý, nhằm kiểm soát sự ô nhiễm kháng sinh trong môi trường tại lưu vực sông Sài Gòn.2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI Khảo sát sự hiện diện của các kháng sinh được lựa chọn trong trầm tích sông Sài Gòn. Từ đó đề xuất các giải pháp kiểm soát và giảm thiểu.3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN Nội dung và phương pháp nghiên cứu được mô tả tóm tắt tại hình 1.1 Nội dung Để đạt được mục tiêu nghiên cứu trên, chúng tôi thực hiện các nội dung sau: - Nội dung 1: Tổng hợp dữ liệu về tình hình sử dụng kháng sinh tại lưu vực sông Sài Gòn - Nội dung 2: Khảo sát sự hiện diện của các chất kháng sinh được lựa chọn trong trầm tích sông Sài Gòn - Nội dung 3: Đề xuất giải pháp kiểm soát giảm thiểu.2 Phương pháp thực hiện Các phương pháp được sử dụng bao gồm: - Phương pháp tổng hợp tài liệu: Phương pháp nhằm sử dụng tổng hợp các bài báo, số liệu về tình hình sử dụng kháng sinh đã có. 2 - Phương pháp thực nghiệm: Tiến hành lấy mẫu nước tại điểm dọc theo sông Sài Gòn từ thượng nguồn đến hạ nguồn.

NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Tổng hợp tài liệu về tình hình sử dụng kháng sinh tại lưu vực sông Sài Gòn Bệnh viện, nhà Nuôi trồng thủy Chăn nuôi thuốc sản Tổng kết các kháng sinh thường được sử dụng theo từng lĩnh vực Lựa chọn kháng sinh cần phân tích và điểm khảo sát Tiến hành lấy mẫu trầm tích theo các điểm khảo sát đã chọn Phân tích xác định nồng độ kháng sinh trong trầm tích trên sông Sài Gòn - Sự hiện diện kháng sinh trong trầm tích trên sông Sài Gòn - Diễn biến nồng độ kháng sinh trong trầm tích dọc sông Sài Gòn Đề xuất một số giải pháp kiểm soát và giảm thiểu Hình 1. Sơ đồ phương pháp và nội dung nghiên cứu 1.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU VÀ GIỚI HẠN ĐỀ TÀI Đề tài nghiên cứu giới hạn trong phạm vi dọc sông Sài Gòn chỉ với 9 điểm khảo sát và dựa trên hiện trạng sử dụng kháng sinh tại Việt Nam, đề tài lựa chọn phân tích 12 loại kháng sinh có khả năng tích lũy trong môi trường và là điển hình cho các mục đích sử dụng khác nhau. Bên cạnh đó, vì đề tài còn trong giai đoạn nghiệm thu nên có những số liệu chưa được công bố. 3 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ KHÁNG SINH VÀ LƯU VỰC SÔNG SÀI GÒN 2.1 TỔNG QUAN VỀ KHÁNG SINH 2.1 Khái niệm Kháng sinh còn được gọi là Trụ sinh là những chất được lấy từ vi sinh vật (vi nấm, vi khuẩn,…), bán tổng hợp, tổng hợp, có khả năng tiêu diệt vi khuẩn hay kìm hãm sự phát triển của vi khuẩn một cách đặc hiệu.

Nó có tác dụng lên vi khuẩn ở cấp độ phân tử, thường là một vị trí quan trọng của vi khuẩn hay một phản ứng trong quá trình phát triển của vi khuẩn[12].2 Phân loại kháng sinh Các kháng sinh được phân loại theo cấu trúc hóa học, từ đó có chung một cơ chế tác dụng và phổ kháng khuẩn tương tự. Mặt khác, trong cùng một họ kháng sinh, tính chất dược động học và sự dung nạp thường khác nhau, và đặc điểm về phổ kháng khuẩn cũng không hoàn toàn giống nhau, vì vậy cũng cần phân biệt các kháng sinh trong cùng một họ[13]. Một số họ (hoặc nhóm) kháng sinh chính được thể hiện trong bảng 2. Phân loại kháng sinh[13] Thứ Nhóm Kháng sinh Chức năng – cơ chế tự 1 β Lactam - Penicilin Penicilin,Methicilin,Ampicilline, Ức chế quá trình tạo vách Amoxicilline, Cloxacilline, của vi khuẩn Sultamicillin, Piperacilline, Imipenem 2 β Lactam - Cefadroxil, Cephalexin, Ức chế quá trình tạo vách Cephalosporin Cefamandol, Cefoxitin, Cefixime, của vi khuẩn Ceftriaxone 3 Tetracyclin Tetracycline, Doxycyline, Ức chế sinh tổng hợp Clotetracyclin, Oxytetracyclin, protein Minocyclin, Hexacyclin 4 Aminosid Amikacin, Tobramycin, Neomycin, Ức chế sinh tổng hợp Gentamycin, Kanamycin, protein2 Streptomycin 5 Macrolid Azithromycin, Roxithromycin, Ức chế tổng hợp protein của Erythromycin, Rovamycin, vi khuẩn, do gắn vào 50S Clarithromycin, Spiramycin của ribosom.

6 Lincosamid Lincomycin, Clindamycin Ức chế tổng hợp protein của vi khuẩn: gắn vào tiểu phần 50S của ribosom, cản trở tạo chuỗi đa peptid. 7 Quinolon Acid Nalidixic, Lomefloxacin, Ức chế tổng hợp ADN ở vi Ciprofloxacin, Norfloxacin, khuẩn. Đích phân tử là Ofloxacin, Levofloxacin, enzym tham gia tạo dây Gatifloxacin, Moxifloxacin, xoắn ADN Pefloxacin, Sparfloxacin, 8 5- Nitro- Imidazol Clotrimazole, Metronidazole, Tạo ra chất trung gian Tinidazole, Secnidazole, không bền và độc với tế bào Miconazole, Ornidazole. và với ADN làm chết vi khuẩn.

9 Sulfamid Sulfaguanidin, Sulfamethoxazol, Chất ức chế các khuẩn Sulfadiazin, Sulfasalazin nhóm β–Lactam 10 Fluoroquinolons Ciprofloxacin, Norfloxacin, Ngăn cản sự sao chép của Ofloxacin, Enrofloxacin, Enoxacin, ADN mẹ tạo ADN con Sarafloxacin, Danofloxacin, Lemofloxacin 11 Rifamycins Rifamycin Ngăn cản sinh tổng hợp ARN 5 2.3 Ứng dụng Kháng sinh được ứng dụng rộng rãi trong lĩnh vực y tế, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản[1]. Trong y tế, kháng sinh được sử dụng thông qua thuốc, tiêm trực tiếp nhằm mục đích phòng bệnh và chữa bệnh (như dịch hạch, dịch tả.), và giúp làm giảm biến chứng, cũng như tăng hiệu quả phẫu thuật[14]. Trong chăn nuôi, kháng sinh được sử dụng thông qua các loại thức ăn cho gia súc, gia cầm, các loại dung dịch uống, bột uống hoặc được tiêm trực tiếp vào cơ thể của chúng với ba mục đích chính: (1) điều trị bệnh; (2) phòng bệnh và (3) tăng năng suất sinh trưởng và chất lượng sản phẩm (giảm tỷ lệ thịt mỡ, tăng tỷ lệ thịt nạc)[15]. Trong nuôi trồng thủy sản kháng sinh được sử dụng khi trộn chung với thức ăn, đổ trực tiếp dung dịch kháng sinh vào nước hoặc tiêm trực tiếp vào thủy sản (phương pháp này rất ít sử dụng, chỉ dùng cho các loại rất quan trọng) [16], với mục đích như sau: tăng năng suất sinh trưởng và sinh sản, điều trị và phòng bệnh ngoài ra còn có thể giúp thủy sản giảm tình trạng bị sốc khi vận chuyển từ khu vực này đến khu vực khác[17].4 Đặc tính lý hóa của chất kháng sinh trong môi trường Đặc tính lý hóa của các phân tử xác định hành vi và sự chuyển hóa của chúng trong môi trường.

Độ hòa tan, hệ số phân bố octanol/nước (Koc ), hệ số hấp thụ giữa pha rắn và pha lỏng (Kd), độ bền vững là những nhân tố cho phép xác định khả năng gây ô nhiễm của chúng trong môi trường (Bảng 2. Độ hòa tan trong nước: độ hòa tan của các chất kháng sinh trong nước rất khác nhau từ một vài mg/L (Flumequin: 7 mg/L) đến hàng trăm g/L (Norfloxacine 178 g/L). Thế nhưng độ hòa tan của một số chất vẫn chưa được xác định. Hệ số phân bố octanol/nước: Koc là hệ số dùng để đánh giá mức độ phân bố giữa octanol và nước của một chất kháng sinh.

Từ đó xác định được khả năng hấp thụ vào từng loại trầm tích của những kháng sinh. Phân chia pha rắn và lỏng: Kd là hệ số phân chia của một chất giữa pha rắn và pha lỏng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ