MỞ ĐẦU Trong những năm gần đây nghề nuôi cá tra ở Việt Nam phát triển nhanh đã góp phần tích cực vào việc nâng cao nguồn thu nhập của cộng đồng và tăng kim ngạch xuất khẩu. Song song với sự tăng sản lƣợng không ngừng thì tình hình dịch bệnh thƣờng xuyên xảy ra và ngày càng phức tạp hơn nhƣ bệnh do ký sinh trùng, bệnh đốm đỏ, bệnh trắng da, phù đầu phù mắt, bệnh gan thận mủ. do vi khuẩn Aeromonas, Edwardsiella ictaluri, Pseudomonas và Vibrio gây ra đã gây thiệt hại nghiêm trọng cho nghề nuôi cá tra vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Do hình thức nuôi thâm canh ngày càng phát triển nên việc sử dụng kháng sinh để điều trị bệnh cá là điều không tránh khỏi.
Mặt trái của việc lạm dụng thuốc kháng sinh để điều trị bệnh thủy sản nuôi nói chung và cá tra nuôi nói riêng đã phát sinh nguy cơ kháng kháng sinh của các vi khuẩn thƣờng diện diện trên cá tra nuôi. Vi khuẩn kháng kháng sinh trên các đối tƣợng nuôi cũng đã đƣợc nhiều nhà khoa học nghiên cứu. Bằng chứng năm 2006 và 2007 các tác giả Akinbowale và Sarter đã phát hiện nhiều loài vi khuẩn gây bệnh trên tôm, cá kháng thuốc. Việc kháng thuốc không chỉ trong cùng một loài mà cả các loài vi khuẩn khác, ngay cả vi khuẩn gây bệnh cho ngƣời và các động vật trên cạn.
Cá tra nuôi là sản phẩm chủ lực của nghề nuôi, vì vậy việc thực hiện đề tài “nghiên cứu tình hình kháng kháng sinh của vi khuẩn trong ao nuôi cá tra tại tỉnh Cần Thơ giai đoạn 2014-2015” là cần thiết nhằm mục tiêu cung cấp thông tin cho việc sử dụng thuốc kháng sinh trong điều trị bệnh cá có hiệu quả và đảm bảo an toàn sức khỏe của con ngƣời. 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1. Ngành nuôi trồng thủy sản Ngành thủy sản đóng một vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an ninh lƣơng thực, cung cấp dinh dƣỡng cho con ngƣời cũng nhƣ góp phần tạo công ăn việc làm, đóng góp vào nền kinh tế của nhiều quốc gia trên thế giới. Theo thống kê của Tổ chức Nông Lƣơng Liên Hợp Quốc (FAO), trong năm 2008, gần 81% (115 triệu tấn) sản lƣợng cá trên thế giới đƣợc sử dụng làm thực phẩm cho con ngƣời, phần còn lại (27 triệu tấn) đƣợc sử dụng cho các mục đích phi thực phẩm nhƣ sử dụng làm sản phẩm trang trí (6,4 triệu tấn), sản xuất bột và dầu cá (20,8 triệu tấn) cung cấp thức ăn cho động vật khác hoặc sử dụng làm dƣợc phẩm.
Trong đó ngành nuôi trồng thủy sản đóng góp tới 46% sản lƣợng cá trên toàn cầu. Trong thời gian từ năm 1976 đến 2008, trung bình hàng năm thƣơng mại thủy sản trên toàn cầu tăng 8,3% tổng sản lƣợng kim nghạch. Nhu cầu về thuỷ sản trên toàn cầu sẽ tiếp tục gia tăng khi dân số thế giới không ngừng phát triển. Trong điều kiện nguồn hải sản tự nhiên không thể gia tăng khi việc khai thác quá mức chƣa đƣợc kiểm soát, thì hoạt đông nuôi trồng thuỷ sản chính là nguồn cung cho tƣơng lai.
Nuôi trồng thuỷ sản có thể làm giảm áp lực đối với thuỷ sản tự nhiên và đóng góp vào sự phát triển kinh tế xã hội. Tại Việt Nam, trong hơn 15 năm qua, nuôi trồng thuỷ sản đã phát triển mạnh mẽ và hiện nay Việt Nam là một trong những quốc gia sản xuất thuỷ sản lớn nhất trên thế giới. Ngành nuôi trồng thủy sản trở thành một phần quan trọng trong nền kinh tế quốc dân và sự phát triển gần đây đã giúp cải thiện sinh kế cho ngƣời dân, đăc biệt tại đồng bằng sông Cửu Long, nơi tập trung hầu hết các hoạt động nuôi trồng thuỷ sản của nƣớc ta. Theo số liệu thông kê của Hiệp hội xuất khẩu thủy sản Vasep (Hình 1.1), tổng sản lƣợng khai thác và nuôi trồng thủy sản tại Việt Nam tăng gần 6 lần, từ 1,3 triệu tấn (năm 1995) lên 6,7 triệu tấn (năm 2017).
Đặc biệt trông đó, tỉ lệ nuôi trồng thủy sản ngày càng chiếm tỉ trọng lớn trong tổng sản lƣợng, từ xấp xỉ 30% (năm 1995) lên tới trên 50% (năm 2017) và sẽ tiếp tục chiếm tỉ trọng lớn trong các năm tiếp theo khi nguồn thủy sản tự nhiên đang dần cạn kiệt. 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1: Sản lƣợng nuôi trồng và khai thác thủy sản Việt Nam (Vasep, 2017) 1. Cá tra nuôi Giới (regnum) Animalia Ngành (phylum) Chordata Phân ngành(subphylum) Vertebrata Lớp (class) Actinopterygii Phân lớp (subclass) Neopterygii Liên bộ (superordo) Ostariophysi Bộ (ordo) Siluriformes Họ (familia) Pangasiidae Loài Pangasius hypophthalmus Cá tra nuôi (Pangasius hypophthalmus) là một loài cá da trơn trong họ Pangasiidae phân bố ở lƣu vực sông Mê kông, có mặt ở cả bốn nƣớc Lào, Việt Nam, Campuchia và Thái lan. Đây là loài cá đại diện cho họ cá tra (Pangasiidae) và đƣợc nuôi nhiều ở Việt Nam, đặc biệt là vùng đồng bằng Sông Cửu Long.
Cá tra có hình dáng thân thon dài về phía sau, lƣng xám đen, bụng hơi bạc, miệng rộng, có 2 đôi râu dài. Cá tra sống chủ yếu trong nƣớc ngọt, có thể sống đƣợc ở vùng nƣớc hơi lợ (nồng độ muối 7-10 o/oo), có thể chịu đựng đƣợc nƣớc phèn với pH >5, dễ chết ở nhiệt độ thấp dƣới 15 0C, nhƣng chịu nóng tới 390C. Cá tra có số lƣợng hồng cầu trong máu nhiều hơn các loài cá khác. Cá có cơ quan hô hấp phụ và còn có thể hô hấp bằng bóng khí và da nên chịu đựng đƣợc 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com môi trƣờng nƣớc thiếu oxy hòa tan.
Tiêu hao oxy và ngƣỡng oxy của cá tra thấp hơn 3 lần so với cá mè trắng. Cá tra có tốc độ tăng trƣởng tƣơng đối nhanh, còn nhỏ cá tăng nhanh về chiều dài. Từ khoảng 2,5 kg trở đi, mức tăng trọng lƣợng nhanh hơn so với tăng chiều dài cơ thể. Cỡ cá trên 10 tuổi trong tự nhiên (ở Campuchia) tăng trọng rất ít.
Cá tra trong tự nhiên có thể sống trên 20 năm. Ðộ béo của cá tăng dần theo trọng lƣợng và nhanh nhất ở những năm đầu, cá đực thƣờng có độ béo cao hơn cá cái và độ béo thƣờng giảm đi khi vào mùa sinh sản. Trƣớc đây, cá giống đƣợc bắt từ tự nhiên về nuôi đến 2,5-3 năm tuổi mới thành thục sinh dục, còn cá giống hiện nay đƣợc sinh sản nhân tạo và chỉ cần nuôi từ 10-12 tháng tuổi là đã thành thục.2: Cá tra nuôi (Pangasius hypophthalmus) Trong số các sản phẩm thủy sản nuôi tại Việt Nam, cùng với tôm nƣớc lợ, thì cá tra là một sản phẩm đóng vai trò chủ lực trong ngành thủy sản nuôi Việt Nam. Từ việc bắt đầu nuôi cá tra từ năm 1940, cho đến nay sản phẩm cá tra Việt Nam đã xuất khẩu sang hơn 100 quốc gia trên thế giới với các thị trƣờng khó tính nhƣ châu Âu, Mỹ và Nga với kim ngạch xuất khẩu hàng năm trên 1,7 tỉ đô, sản lƣợng trên 1 triệu tấn.
Đặc điểm của một số vi khuẩn thƣờng trú trên cá tra a. Escheriachia coli Escheriachia coli (E.coli) là một vi khuẩn gram âm, kị khí không bắt buộc, hình que. Vị trí phân loại học của vi khuẩn E.coli nhƣ sau: Giới (regnum) Bacteria 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.coli Hầu hết E. coli có tự nhiên trong ruột của con ngƣời cũng nhƣ động vật và đóng một vai trò quan trọng trong việc giúp cơ thể vật chủ tiêu hóa thức ăn.
Tuy nhiên có một số serotype có thể gây ngộ độc, tiêu chảy, trong đó tiêu biểu nhất là chủng E. coli bị thải ra môi trƣờng qua phân. Chúng sinh trƣởng mạnh trong phân tƣơi ở điều kiện yếm khí trong 3 ngày, nhƣng dần suy giảm số lƣợng dần sau đó. Aeromonas spp Aeromonas spp.
là nhóm vi khuẩn gram âm, kị khí không bắt buộc, hình que, một số loài có khả năng di động (A. Vị trí phân loại học của vi khuẩn Aeromonas spp. nhƣ sau: Giới (regnum) Bacteria Ngành (phylum) Proteobacteria Lớp (class) Gammaproteobacteria Bộ (ordo) Aeromonadales Họ (familia) Aeromonadaceae Chi (genus) Aeromonas Vi khuẩn Aoeromonas spp. phân bố chủ yếu tại môi trƣờng nƣớc ngọt và nƣớc lợ.
Trong đó các chủng vi khuẩn có khả năng di động (A. sobria) là những tác nhân gây bệnh quan trọng. Hai bệnh chính liên quan đến Aoeromonas spp. là viêm dạ dày và nhiễm trùng vết hở.
Vibro spp Vibrio spp. là nhóm vi khuẩn gram âm, hình que thẳng hoặc hơi uốn cong hình dấu phẩy, kị khí tùy nghi, không có khả năng hình thành bào tử và có khả năng di chuyển nhờ một hoặc nhiều tiên mao. Vị trí phân loại học của vi khuẩn Vibrio spp., nhƣ sau: Giới (regnum) Bacteria 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ngành (phylum) Proteobacteria Lớp (class) Gammaproteobacteria Bộ (ordo) Vibrionales Họ (familia) Vibrionaceae Chi (genus) Vibrio Phần lớn các chủng Vibrio spp. biết đến đƣợc phân lập tự nhiên từ môi trƣờng nƣớc biển và vùng cửa biên.
Một số chủng thuộc nhóm này đƣợc công bố là tác nhân gây bệnh trên một số đối tƣợng thủy sản và trên ngƣời nhƣ bệnh hoạt tử gan cấp trên tôm do Vibrio parahaemolyticus gây ra, bênh tiêu chảy do Vibrio Cholerae. Salmonella spp Vi khuẩn Salmonella spp. là nhóm vi khuẩn thuộc họ Enterobacteriaceae (vi khuẩn đƣờng ruột) có dạng hình que, trực khuẩn gram âm, kị khí tùy nghi không tạo bào tử, di động bằng tiên mao, sinh sống trong đƣờng ruột, có đƣờng kính khoảng 0,7 µm đến 1,5 µm, dài từ 2 µm đến 5 µm và có vành lông rung hình roi. Vị trí phân loại học của vi khuẩn Salmonella spp.
nhƣ sau: Giới (regnum) Bacteria Ngành (phylum) Proteobacteria Lớp (class) Gammaproteobacteria Bộ (ordo) Enterobacteriales Họ (familia) Enterobacteriacease Chi (genus) Salmonella Vi khuẩn Salmonella spp có thể tìm thấy ở khắp nơi, từ môi trƣờng đến trong cơ thể động vật. Các chủng vi khuẩn Salmonella gây ra các bệnh trên ngƣời nhƣ thƣơng hàn (do Salmonella typhi), phó thƣơng hàn, nhiễm trùng máu (do Salmonella choleraesuis) và ngộ độc thực phẩm (Salmonellosis). Các triệu chứng do Salmonella gây ra chủ yếu là tiêu chảy, ói mửa, buồn nôn xuất hiện sau 12 - 36 giờ sau khi tiêu thụ thực phẩm nhiễm Salmonella. Kháng sinh và hiện tƣợng kháng kháng sinh trong nuôi trồng thủy sản a.
Kháng sinh trong nuôi trồng thủy sản: 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Kháng sinh là những hợp chất có thể giúp tiêu diệt hoặc kiềm chế sự tăng trƣởng của các vi sinh vật nhƣ vi khuẩn, vi rút, nấm mốc hay động vật nguyên sinh (Giguère et al. Với nỗ lực tăng nhanh sản lƣợng thuỷ sản và kim ngạch xuất khẩu, các nƣớc đang phát triển rất chú trọng tới nuôi trồng thuỷ sản. Ðể đạt đƣợc sản lƣợng và lợi nhuận cao nhất, nhiều ngƣ dân hiện đang áp dụng các phƣơng thức nuôi thâm canh.