CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VÁN ĐỀ LÝ LUẬN VÈ KHÁNG CÁO, KHÁNG NGHỊTHEO THỦ TỤC PHÚC THẨM TRONG TÓ TỤNG HÌNH sụ 1. Khái niệm kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thấm 1. Khái niệm kháng cáo Kháng cáo là một trong những cơ sở pháp lý làm phát sinh thủ tục xét xừ phúc thẩm vụ án hình sự, nhưng trước hết kháng cáo là quyền tố tụng quan trọng, được pháp luật TTHS Việt Nam ghi nhận và bảo đảm thực hiện đế những chủ thể có quyền kháng cáo được thể hiện sự không đồng tình của mình đối với phán quyết của Tòa án trong băn án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên, khái niệm về kháng cáo chưa được định nghĩa cụ thể ờ góc độ pháp luật và vẫn còn những cách hiếu khác nhau.
Việc làm rõ khái niệm này có ý nghĩa trong việc nhận thức đúng đắn cẳ lý luận và thực tiễn về kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm trong tố tụng hình sự. Quyền kháng cáo đã tồn tại từ thời kỳ phong kiến ở Việt Nam, nhưng dưới tên gọi là “kêu oan”. Trong Bộ Quốc triều khám tụng điều lệ được ban hành vào năm 1777 dưới thời vua Lê Hiển Tông có quy định: “Mọi trường hợp bị người quyền quý ức hiếp thiệt hạị nặng, cùng các trường hợp oan ức, không biết khám lệ ở nhà môn nào, cho khua chiêng gióng mõ kều oan ”[09, tr710].Khi bàn về chế định kháng cáo trong pháp luật phong kiến Việt Nam thời kì Hậu Lê, tác giả Ngô Thanh Xuyên đã đưa ra ghi nhận rằng khái niệm kháng cáo đã xuất hiện trong pháp luật phong kiến Việt Nam, theo đó: “Nhãn dân, người kiện cáo khi chưa phục tình, tình lí cỏ điều gì bức bách sẽ thực hiện quyền kháng cáo, quyền phúc cáo lên cơ quan tài phán cap trên trực tiếp’’ [52, tr53]. Ở góc độ ngôn ngữ, “kháng” có nghĩa là “chống lại”.
Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học xuất bản năm 2006,kháng cáo là “Chống 7 án, yêu câu Tòa án câp trên xét xử" [54, tr888J. Quan điêm nàyđã đưa ra được bản chất của kháng cáo là “chống án”, tức là chống lại,phản đối phán quyết của Tòa án ỳằ“yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử ”lại.Tuy nhiên, khái niệm này còn mang tính khái quátvà chưa cụ thể; chưa đề cập đến những vấn đề có liên quan như đối tượng, chủ thể của kháng cáo. Tác giả Đinh Văn Quế cho vãng:" Kháng cáo là biêu thị sự không đồng ý của mình đoi với hàn án hoặc quyết định của Tòa án cap sơ thâm và đề nghị (yêu cầu) Tòa án cấp trên xét xử lại ”[34, tr272]. Khái niệm tuyđã đưa ra được những vấn đề có liên quan như chủ thể, đối tượng của kháng cáo nhưng vẫn còn một số điểm chưa hợp lý như: tác giả cho rằng đối tượng của kháng cáo là bản án hoặc quyết định của Tòa án cấp sơ thấm là chưa đầy đủ mà phải là bản án hoặc quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật; chủ thể có quyền kháng cáo trong khái niệm nàychưa xác định cụ thể là ai; thẩm quyền xét xử phúc thẩm thuộc về “Tòa án cấp trên ” là chưa chính xác bởi chỉ Tòa án cấp trên trực tiếp mới có thẩm quyền xét xử phúc thẩm.
Theo Từ điển Luật học của Viện khoa học pháp lý Bộ Tư pháp: “Kháng cáo là hành vi chong án, yêu cầu Tòa án cap trên xét xử phúc thâm đoi với bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật trong trường hợp đương sự không đồng ỷ với toàn bộ bản án hoặc một phần của bản án, quyết định sơ thâm" [47, tr417], Quan điểm này nhìn chung đã nêu được những vấn đề cơ bảncủa khái niệm kháng cáo.Tuy nhiên hiện naykhoa học pháp lý đã không còn ghi nhận cách sử dụng thuật ngữ “chống án”. Bên cạnh đó, điểm g khoản 1 Điều 4 BLTTHS năm 2015 quy định “đương sự” gồm: nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự. Vậy việc gọi chủ thể của kháng cáo là “đương sự” trong khái niệm nàylà chưađầy đũ và hợp lý. 8 Trong Giáo trình Luật tô tụng hình sự Việt Nam của Trường Đại học luật thành phố Hồ Chí Minh đã đưa ra khái niệm kháng cáo là “quyền của những chủ thê theo quy định của pháp luật được đề nghị Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại bản án và quyết định của Tòa án cấp sơ thâm chưa có hiệu lực pháp luật” [44, tr525].Quan điểm này tuyvề cơ bản đã cụ thể hóa được các vấn đề liên quan đến kháng cáo, nhưng việc cho rằng ‘‘Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại bản án và quyết định của Tòa án cấp sơ thấm ” là không hợp lý mà cần được nêu rõ Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án mà Bản án chưa có hiệu lực pháp luật, còn đối với quyết định thì xét lại chứ không phâi là xét xữ lại mới chính xác.
Theo Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội, kháng cáo là “quyền của những người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật đề nghị Tòa án cap trên trực tiếp của Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định sơ thâm chưa có hiệu lực pháp luật” • • • 9 JL 9 9 9 JL JL 9 [43, tr459J. Có thể thấy đây là khái niệm hợp lý nhất, khẳng định rõ đối tượng kháng cáo là bán án, quyết định sơ thẩm cùa Tòa án chưa có hiệu lực pháp luật và Tòa án có thẩm quyền phúc thẩm là Tòa án cấp trên trực tiếp của Tòa án đã ra bản án, quyết định sơ thẩm cũng như đối với bản án là xét xử lại còn quyết định chỉ là xét lại là phù hợp với lý luận và thực tiễn. Nhìn chung, các quan điểm về khái niệm kháng cáo nói trên tuy khác nhau về góc độ tiếp cận nhưng vẫn có tính thống nhất với nhau ở một sổ điếm cơ băn như đều xác định kháng cáo là quyền của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, thể hiện sự không đồng tình cùa mình đối với bản án, quyết định sơ thẩm,. Tuy nhiên, để làm rõ một cách hợp lý và khoa học về khái niệm kháng cáo theo thú tục phúc thẩm, cần xuất phát từ những cơ sớ lý luận sau đây: 9 Thứ nhât, kháng cáo nói chung và kháng cáo trong tô tụng hình sự nói riêng là một trong những quyền cơ bản cùa con người, không chỉ được ghi nhận trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam mà còn được ghi nhận trong các văn kiện pháp lý quốc tế.Khoản 5 Điều 14 Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị quy định: “Bất kỳ người nào bị kết án là phạm tội đều có quyền yêu cầu tòa án cấp cao hơn xem xét lại bản án và hình phạt đối với mình theo quy định của pháp luật”.
Trong pháp luật Việt Nam, quyền kháng cáo là quyền của những người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật thể hiện sự bất đồng của mình thông qua việc yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định sơ thẩm. Như vậy, có thể hiểu kháng cáo là “quyền mà pháp luật dành cho những người tham gia tố tụng được đề nghị Tòa án cấp trên trực tiếp xét lại bản án và quyết định của Tòa án cấp SO' thâm đang còn trong thời hạn kháng cáo ”[47, tr403J. Thứ hai, kháng cáo là quyền luật định cho những người tham gia tố tụng trong giai đoạn xét xử nhưng không phải người tham gia tố tụng nào cũng có quyền kháng cáo. Chủ thể của quyền kháng cáo là những người tham gia tố tụng có quyền và lợi ích bị ảnh hưởng bởi phán quyết của Tòa án, thực hiện quyền kháng cáo để tự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình đối với phán quyết của Tòa án mà theo họ là không hợp lý, thiếu căn cứ và không hợp pháp.
Nói cách khác chỉ những chủ thể là người tham gia tố tụng được pháp luật quy định thì mới có quyền kháng cáo. Thứ ba, cũng như việc thực hiện những hoạt động tố tụng khác, kháng cáo phải được thực hiện một cách hợp pháp theo đúng quy định về thủ tục, thời hạn, giới hạn cũng như các quy định khác của pháp luật. Kháng cáo là cơ sở, là nội dung của xét xử phúc thẩm. Theo đó, kháng cáo là căn cứ đê Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm.
Đúng như Điều 345 BLTTHS năm 2015 quy định: “7ỡứ án cấp phúc 10 thâm xem xét phân nội dung của bản án, quyêt định bị kháng cáo,. Như vậy, trường hợp kháng cáo của người tham gia tố tụng đúng theo trình tự, thủ tục luật định thì Tòa án cấp phúc thẩm sẽ xem xét lại những nội dung bị kháng cáo theo thủ tục phúc thấm.Kháng cáo không được coi là hợp pháp nếu nó không biểu hiện bằng những cách thức cụ thể trong một khoảng thời gian mà pháp luật quy định. Chỉ khi đảm bảo các yêu cầu về tính hợp pháp thì kháng cáo mới được xem là cơ sở để phát sinh thủ tục phúc thẩm. Thứ tư, đối tượng của kháng cáo là bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, pháp luật sẽ quy định một khoảng thời gian để một số người tham gia tố tụng xem xét việc kháng cáo đối với bản án, quyết định sơ thẩm trước khi bản án, quyết định sơ thẩm đócó hiệu lực pháp luật. Khi có kháng cáo Tòa án cấp trên trực tiếp của Tòa án cấp sơ thẩm sẽxét xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định sơ thẩm theo thủ tục phúc thẩm. Thứ năm, kháng cáo có mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo, bị hại và đương sự. Thông qua việc kháng cáo, Tòa án cấp trên trực tiếp có cơ sở để xét xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định sơ thẩm chưa có hiệu 1 • • • • 1 J • • lực pháp luật.
Từ đó kiểm tra tính hợp pháp của bản án, quyết định sơ thẩm đó,đồng thời khắc phục kịp thời các thiếu sót, sai lầm trong việc xét xử của Tòa án cấp dưới.