Chương 1. Thiệu Trị - Thời đại và cuộc đời. Hệ thống tác phẩm và nội dung văn chương của Thiệu Trị qua Đại Nam thực lục Chương 3. Quan điểm lý luận, phê bình - thi pháp văn chương của Thiệu Trị qua Đại Nam thực lục.
11 PHẦN NỘI DUNG Chƣơng 1. THIỆU TRỊ - THỜI ĐẠI VÀ CUỘC ĐỜI 1. Khái quát Mỗi một nhà văn, nhà thơ dù muốn hay không cũng không thể tách rời thời đại và xã hội mà họ sống. Đời sống xã hội nuôi nấng tâm hồn, nhận thức, suy nghĩ của họ, và bản thân họ phản ánh thời đại, nhận thức thông qua tác phẩm - những đứa con tinh thần.
Những đứa con tinh thần ra đời lại chịu quy luật phản ứng dây chuyền này. Nói như thế để thấy rằng, xã hội, nhà văn và tác phẩm không thể tách rời nhau mà luôn gắn bó khăng khít với nhau. Bối cảnh thời đại sẽ là tác nhân không nhỏ trong việc hình thành nhân cách cá nhân con người. Mặt khác, không gian văn hóa thời đại chi phối đến hành xử, thị hiếu và mĩ cảm… của con người.
Tuy nhiên thời đại không phải là yếu tố duy nhất và quyết định mà quá trình hình thành nhân cách, tài năng còn là sự kết hợp của nhiều nhân tố khác - ý thức hệ chi phối đến tư tưởng, không gian văn hoá của gia đình, nền giáo dục và chính nội lực bên trong con người đó. Trở lại với tác giả Thiệu Trị, chúng ta thấy Thiệu Trị sinh ra trong một thời đại tương đối phức tạp về chính trị xã hội, thời đại của sự du nhập các luồng gió mới từ châu Âu đặc biệt là Pháp, Bồ Đào Nha. Nhưng đây cũng là giai đoạn mà văn chương đạt được nhiều đỉnh cao, đặc biệt là góp mặt của nhiều tác giả, tác phẩm văn chương bằng chữ Nôm. Thiệu Trị ham mê sáng tác văn chương, ham mê tìm tòi, nghiên cứu về các tác phẩm Đông Tây kim cổ nhưng bản thân Thiệu Trị lại chủ yếu sáng tác văn chương bằng chữ Hán và đạt đến “tuyệt đỉnh” (Theo Trần Ngọc Vương) trong thể loại này.
Theo chúng tôi, để làm nên một tác giả Thiệu Trị ngoài việc bị ảnh hưởng bối cảnh thời đại thì trong bản thân ông cũng có thiên bẩm nghệ thuật, tài năng sáng tạo cộng với những quan niệm, lý tưởng. Bối cảnh thời đại nhà Nguyễn 1. Tình hình kinh tế - chính trị - xã hội Cuối thế kỷ 18 nửa đầu thế kỷ 19 là giai đoạn mà lịch sử Việt Nam trải qua nhiều biến động, việc tranh giành quyền lực của hai tập đoàn phong kiến Trịnh - Nguyễn kéo dài hàng trăm năm khiến cho lịch sử dân tộc rơi vào vực thẳm, đời sống nhân dân cực khổ. Nhà Tây Sơn vừa lên đã ra tay giết hại rất nhiều người thuộc phe phái Trịnh - Nguyễn, gieo rắc sự thù hằn ngày càng gay gắt.
Chính quyền Tây Sơn dù đã đánh bại chúa Nguyễn, chúa Trịnh, thành lập chính quyền mới, nhưng chiến tranh giữa Tây Sơn và các dư đảng của nhà Nguyễn tiêu biểu là Nguyễn Ánh vẫn tiếp diễn không ngừng. Nguyễn Ánh là cháu nội của vị chúa Nguyễn cuối cùng ở Đàng Trong, sau khi gia tộc bị quân Tây Sơn bắt giết năm 1777, ông phải chạy trốn và tìm cách khôi phục lực lượng để trả thù. Sau 25 năm với nhiều thất bại, phải cầu viện sự giúp đỡ Xiêm La và Pháp, ông lấy được Nam Hà, lật đổ triều Tây Sơn, lên ngôi hoàng đế, thống nhất Việt Nam. Nguyễn Ánh lên ngôi, định đô tại Phú Xuân, lấy niên hiệu là Gia Long, đổi quốc hiệu là Việt Nam.
Thời đại này nước ta có cương thổ rộng lớn nhất, kéo dài từ biên giới Trung Quốc đến vịnh Thái Lan. Sau khi lên ngôi, ông thay thế các cải cách có xu hướng tự do của Tây Sơn bằng nền giáo dục và điều hành xã hội theo xu hướng Nho giáo. Đây là giai đoạn mà Nho gia phát triển mạnh mẽ, khẳng định được vị thế của nó trong nghệ thuật cai trị của Gia Long. Gia Long cũng là người mở đường cho các ảnh hưởng của Pháp ở Việt Nam qua việc nhờ họ xây dựng các thành trì lớn, huấn luyện quân đội.
Dưới triều đại của ông, Việt Nam trở thành một quốc gia có thế lực quân sự hùng mạnh ở Đông Dương, cùng với Xiêm La phân chia ảnh hưởng đối với Chân Lạp. Gia Long có rất nhiều lỗi lầm trong quá khứ như lưu vong ở Xiêm, kêu sự ủng hộ ngoại quốc, bắt tay với Pháp trong nội chiến, trả thù tàn bạo triều 13 Tây Sơn nhưng nhờ chính sách “ngoại giao” với ngoại bang mà ông đã xây dựng một đất nước hùng mạnh về quân đội, ổn định chính trị - xã hội. Trong thời gian trị vì ông thực hiện nhiều công cuộc khai hoang ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, đào kênh thoát nước Thụy Hà và sông Vĩnh Tế tạo thuận lợi cho kinh tế nông nghiệp phát triển. Triều đại của ông đã xây dựng khối lượng đê, kè, cống nhiều nhất so với trước.
Sau nhiều năm chinh chiến trên chiến trường, Gia Long tập hợp được một đội ngũ quan võ hùng hậu, đến lúc lên ngôi ông nhận thấy triều đình rất ít quan văn vì vậy ông bắt đầu tuyển dụng quan văn, khuyến khích quần thần sáng tác thơ văn. Ông bắt đầu mở trường Quốc Tử giám ở Kinh đô để dạy con em triều đình, lập văn miếu ở các trấn, doanh để thờ đức Khổng Tử… Năm 1807, ông mở thêm 6 trường thi Hương, đặt chức Đốc học, Giáo thụ, Huấn đạo để coi việc giáo dục ở các trấn. Tuy trong lòng nhân dân lúc này vẫn hướng vọng về nhà Lê, nhưng tình hình chính trị trong những năm Gia Long về cơ bản là yên ổn. Trong không khí yên bình đó Thiệu Trị được sinh ra, ông sinh năm 1807 khi triều Gia Long chính thức tồn tại được năm năm.
Đến năm Thiệu Trị 12 tuổi thì Gia Long mất. Sang thời Minh Mệnh tình hình chính trị chuyển biến theo một xu thế xấu. Trong nước, có nhiều cuộc nổi dậy chống triều đình. Cụ thể, trong thời Minh Mệnh có đến 250 cuộc nổi dậy như nổi dậy của Phan Bá Vành, Lê Trọng Liên, Lê Duy Lương, Nông Văn Vân, Lê Văn Khôi… Tuy nhiên, những cuộc nổi loạn đó nhanh chóng bị Minh Mệnh dẹp tan.
Minh Mệnh là ông vua năng động, quyết đoán, có nhiều cải cách trên nhiều mặt kinh tế, chính trị, quân sự, ngoại giao. Ông cho tổ chức lại quân đội, cử quan ra chỉ đạo khai hoang ở ven biển Bắc Kỳ và Nam Kỳ, lập nên hai huyện Kim Sơn và Tiền Hải. Năm 1832, ông còn cho mở ngành tơ tằm Đại 14 Nam, bắt các quan lại ở các tỉnh phải xuất lúa giống ở trong kho cho nhân dân vay để làm mùa sau. Ngoài ra, ông còn khuyến khích cải cách kỹ thuật công nghiệp.
Mặc dù có nhiều cố gắng cải cách về kinh tế, nhưng vì đất nước đã trải qua một thời gian hoang tàn khá dài, cộng thêm chiến tranh liên miên nên mọi cố gắng của Minh Mệnh cũng không giúp được nhiều cho đời sống nhân dân, vì thế đời sống nhân dân vẫn còn gặp nhiều khó khăn như kỹ thuật canh tác lạc hậu, thiếu đất đai để trồng trọt lại thêm nạn lũ lụt, hạn hán, vỡ đê. Minh Mệnh là một người am hiểu Nho học, sùng đạo Khổng Mạnh, ông rất quan tâm đến việc học tập đặc biệt là việc dạy dỗ các hoàng tử trong đó có Thiệu Trị. Năm 1822, ông mở lại các kì thi Hội, thi Đình ở kinh đô để tuyển chọn nhân tài. Năm 1836, ông còn cho lập Tứ dịch quán để dạy ngoại ngữ.
Vì vậy, dưới thời Minh Mệnh chế độ Nho học, thi cử phát triển mạnh mẽ. Minh Mệnh cũng là một học giả văn chương, từng làm thơ, soạn sách, khuyến khích quần thần sáng tác và biên soạn sử sách, các sách dâng lên đều được ông khuyến khích ban thưởng. Những khi có thời gian, ông có thói quen đàm đạo văn chương, làm thơ sai các quan hoạ vần. Điều này đã ảnh hưởng đến tư duy, suy nghĩ của Trường Khánh Công (sau này là vua Thiệu Trị) cũng như nhiều hoàng tử khác, họ phần lớn là những nhà thơ nổi tiếng.
Một gia đình đế vương mà có nhiều tác giả nổi tiếng như thế này là một hiện tượng xưa nay chưa từng thấy. Về mặt ngoại giao, Minh Mệnh có chính sách hà khắc hơn Gia Long, ông khước từ tiếp xúc với phương Tây, đưa ra các chiếu chỉ cấm đạo, tàn sát hàng loạt các tín đồ Cơ Đốc giáo, ra sức củng cố chế độ lưu quan ở miền núi, chủ trương mở mang thế lực ra nước ngoài, kiểm soát Chân Lạp. Kết quả là Việt Nam trở thành một quốc gia hùng mạnh và có lãnh thổ rộng nhất so với các đời trước. Dù còn nhiều khó khăn, song về cơ bản tình hình kinh tế, chính trị, xã hội dưới thời Minh Mệnh đã đi vào nề nếp.
15 Thiệu Trị lên ngôi (1841) may mắn được thừa hưởng một cơ nghiệp về cơ bản đã đi vào ổn định. Sau khi lên ngôi, vua cho các quan kê cứu, khảo sát những việc, những lệ từ triều Gia Long (1802 - 1819), Minh Mệnh (1820 - 1840), biên chép lại làm thành tắc lệ, về sau cứ thế mà làm. Mọi định chế về pháp luật, hành chính, học hiệu, điền địa và quân đội đều được Thiệu Trị kế thừa từ thời Gia Long, Minh Mệnh. Mặt khác, nhà vua chú trọng về văn hoá, giáo dục và thi cử.
Năm Thiệu Trị thứ nhất (1841) bắt đầu mở Sử cục để biên tập, hiệu đính và khắc in các bộ sử. Thời đại của ông đánh dấu sự ra đời của nhiều bộ sử có giá trị. Ngoài việc khắc in các tập thơ của Minh Mệnh, của bản thân, ông còn cho in “Tiền biên và Chính biên, bộ Thực lục, sửa Thực lục chính biên về Thánh tổ Nhân hoàng đế” [51, tr. Năm 1844, cuốn Thực lục tiền biên về Liệt Thánh làm xong (tức là phần Thực lục về các đời chúa Nguyễn: từ Gia Dụ đến Hiếu Định).
Ngoài ra, ông còn cho khắc in bộ Ngọc điệp, các bộ sách của các hoàng đế Trung Hoa cũ. Về giáo dục, cũng có nhiều thành tựu đáng kể. Ví dụ như tháng 4 năm 1847, nhà vua bắt đầu cho đặt chức đốc học tỉnh Phú Yên và giáo thụ, huấn đạo các phủ huyện ở những tỉnh duyên biên như Cao Bằng, Lạng Sơn và Thái Nguyên. Vua cho rằng: “Việc dạy học là chính sự trọng đại của triều đình”, “văn phong ngày một chấn khởi, nên mở rộng việc tác thành nhân tài” [51, tr.