CHƯƠNG 4: VĂN HÓA DOANH NHÂN Mục tiêu chính: Sau khi học xong chương 4 sinh viên sẽ nắm được những nội dung chính như sau: - Nắm được những kiến thức chung về doanh nhân và văn hóa doanh nhân; - Hiểu được những yếu tố tác động tới văn hóa doanh nhân và các bộ phận cấu thành của văn hóa doanh nhân; - Phân tích và hiểu rõ được mối quan hệ giữa văn hóa doanh nhân và văn hóa doanh nghiệp. Vai trò của văn hóa doanh nhân đến việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp; - Nắm được hệ thống tiêu chuẩn đánh giá văn hóa doanh nhân. Doanh nhân và văn hóa doanh nhân 1. Một số khái niệm liên quan đến Doanh nhân a.
Thương nhân Thương nhân là từ Hán Việt bao gồm: thương là thương nghiệp, trao đổi và mua bán hàng hóa; nhân là người. Theo Từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học, ủy ban khoa học xã hội Việt Nam giải thích: thương nhân là người mua bán hàng hóa. Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã ghi nhận sự hình thành và phát triển của quá trình lưu thông hàng hóa khi sản xuất phát triển bắt đầu từ chế độ chiếm hữu nô lệ. Hoạt động trao đổi, lưu thông hàng hóa đã dần trở thành một ngành độc lập.
Và từ đó có một tầng lớp dân cư mới xuất hiện với vai trò là các nhà chuyên thực hiện công 178 việc trung gian trao đổi, là người mua đi và bán lại hàng hóa khi nền kinh tế xuất hiện tiền tệ. Hoạt động chủ yếu của tầng lớp người này là mua bán hàng hóa và thường tách rời với hoạt động sản xuất. Khi con đường tơ lụa giữa Ấn Độ, Trung Quốc và Ba Tư phát triển thì nền kinh tế giữa các quốc gia cũng rất phát triển kéo theo hoạt động giao lưu quốc tế về văn hóa cũng rất đa dạng. Từ thế kỷ thứ VI trước công nguyên, thương nhân đã bắt đầu tham gia vào hoạt động sản xuất.
Cho đến nay, xét trên khía cạnh pháp lý “Cá nhân từ 18 tuổi trở lên có hành vi dân sự đầy đủ, pháp nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình có đủ điều kiện để kinh doanh thương mại theo quy định của pháp luật nếu có yêu cầu hoạt động thương mại thì được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và trở thành thương nhân”. Điều 17 Luật Thương mại b. Thương gia Thương gia là thương nhân ở quy mô và tầm vóc lớn hơn. Thương nhân chủ yếu đề cập đến cá nhân của người làm kinh doanh mua bán, nhưng thương gia lại có nghĩa thể hiện quá trình lịch sử của người đó, kinh doanh mang tính gia đình và thường là những thương nhân lớn.
Nhà quản lý Khi có sự hợp tác của một số đông người thì nhu cầu quản lý là tất yếu để họ có thể hoạt động chung. Quản lý là việc điều hành, chỉ đạo, chịu trách nhiệm với một doanh nghiệp hay một tổ chức. Nói cách khác, đứng trên quan điểm hệ thống thì quản lý có nghĩa là tác động vào một hệ thống hay quá trình điều khiển, chỉ đạo sự vận động của nó theo những quy luật nhất định nhằm đạt được mục tiêu của hệ thống mà người quản lý đã vạch ra từ trước. Như vậy, nhà quản lý là người thực hiện chức năng quản lý, mà trong kinh doanh là nhà quản trị doanh nghiệp, là người chịu trách nhiệm điều hành công việc của doanh nghiệp một cách có mục tiêu, tổ chức và phương pháp.
Giám đốc doanh nghiệp Sự ra đời và phát triển của cuộc cách mạng công nghiệp lần I và lần II thúc đẩy sự ra đời của các doanh nghiệp. Theo đó vai trò của việc tập hợp, tổ chức, sử dụng, phân phối các nguồn lực của nhà quản lý trong một tổ chức sản xuất ngày càng trở nên quan trọng. Trường phái quản lý cổ điển mà đại diện là W. Taylor và Henry Ford người Mỹ cho rằng: giám đốc có nghĩa như một ông cai, áp đặt và duy trì kỷ luật lao động trong một hệ thống công việc đã được tiêu chuẩn hóa và chuyên môn hóa cao về thao tác.
Do vậy giám đốc thường có khuynh hướng quản lý theo hướng “cai trị” và “kỹ trị”. Giám đốc là người chỉ huy, giám sát sự vận hành của các công cụ bởi một sức ép gần như duy nhất là lợi nhuận hơn là mục tiêu kinh doanh rõ ràng. Giám đốc doanh nghiệp là từ dùng không phân bố tính chất sở hữu. Một giám đốc có thể là giám đốc doanh nghiệp tư nhân cho đến giám đốc của những doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước.
Bên cạnh đó, hiện nay trên thế giới cũng không có sự phân biệt thuật ngữ giám đốc. Hầu hết giám đốc doanh nghiệp đều được quan niệm là người hoạch định, quản lý điều hành một doanh nghiệp và chịu trách nhiệm về các quyết định của mình. Theo quan niệm của Nhật Bản thì giám đốc là người điều hành mọi hoạt động kinh doanh hàng ngày của công ty và chịu trách nhiệm trước hội đồng quản trị về việc thực hiện các nhiệm vụ và các quyền được giao. Theo quan niệm của Mỹ, giám đốc là người được ủy nhiệm đầy đủ quyền hạn để điều hành hoạt động kinh doanh của công ty và có quyền hành động nhân danh công ty trong mọi trường hợp.
Tóm lại, giám đốc doanh nghiệp là chủ sở hữu doanh nghiệp hoặc là người được chủ sở hữu doanh nghiệp uỷ quyền, là người hoạch định quản lý điều hành một doanh nghiệp và chịu trách nhiệm về các quyết định của mình cho dù doanh nghiệp này thuộc loại hình sở hữu như thế nào. Chủ doanh nghiệp Chủ doanh nghiệp là một khái niệm khá mới ở Việt Nam. Thông thường, chủ doanh nghiệp được hiểu là người tự bỏ vốn ra, tự thuê các nguồn lực để thực hiện các công việc kinh doanh nhằm thu lợi nhuận. Tuy nhiên, theo từ điển Longman, chủ doanh nghiệp là người tổ chức các yếu tố sản xuất, đất đai, lao động, vốn để sản xuất và bán sản phẩm nhằm thu lợi nhuận.
Họ là người tổ chức, tài trợ và quản lý các tổ chức thương mại. Dựa trên các khái niệm về chủ doanh nghiệp có thể khái quát quan niệm về chủ doanh nghiệp như sau: Chủ doanh nghiệp là người tổ chức được một doanh nghiệp bằng nguồn lực của người đó, hoặc bằng nguồn lực huy động hoặc cả hai và tham gia quản trị khai thác nguồn lực trực tiếp hay gián tiếp. Doanh nhân Cho tới nay, ở Việt Nam chưa có một định nghĩa thống nhất bao quát một cách toàn diện nhằm phác hoạ một bức tranh đầy đủ, rõ nét về tầng lớp doanh nhân. Tuy nhiên, trên thế giới đã có rất nhiều quan điểm nhận định thế nào là doanh nhân Tại Việt Nam, từ “doanh nhân” đã đi vào cuộc sống hàng ngày cũng như tồn tại trong ngôn ngữ của các văn bản hành chính, chính trị, thậm chí là các văn bản học thuật.
Song, chưa có một khái niệm chính xác cụ thể nào về doanh nhân, kể cả Từ điển Tiếng Việt. Vì thế mà doanh nhân - nhà doanh nghiệp hay bị đồng nhất với doanh nghiệp, bị nhầm lẫn giữa chủ thể cá nhân với tổ chức có tư cách pháp nhân. Bên cạnh đó, trong nền kinh tế tồn tại nhiều thành phần kinh tế khác nhau như kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân, kinh tế tập thể v. Vì vậy, quan niệm doanh nhân vẫn chưa được nhìn nhận đúng đắn và chính xác trong các quan hệ kinh tế.
Mà trong các thành phần kinh tế sở hữu khác nhau thì quan hệ kinh tế, quan hệ tâm lý giữa các chủ thể tham gia sẽ không giống nhau. 181 Nếu phân tích từ “doanh nhân” thì “doanh” là lãi, “nhân” là người. Như vậy “doanh nhân” là người làm kinh doanh để kiếm lời. Mà muốn có lãi hay lời thì buộc người đó phải sản xuất, buôn bán.
Thế nên, người kinh doanh coi lời lãi là nhu cầu, mục đích và động cơ để hoạt động sản xuất kinh doanh. Có một số nhà kinh tế cho rằng, doanh nhân là những người thực sự làm chủ các quan hệ kinh tế trong các cơ sở sản xuất, các doanh nghiệp tư nhân, từ quan hệ sở hữu đến quan hệ điều hành và quan hệ phân phối. Họ quan niệm doanh nhân là những ông chủ doanh nghiệp tư nhân. “Doanh nhân là người chủ sở hữu cá nhân đối với vốn, tiền bạc, tài sản, trí tuệ và cả quyền lực trong hoạt động sản xuất, buôn bán để đạt được sự gia tăng không ngừng về mặt lợi nhuận, sở hữu tư nhân.
Doanh nhân là người coi lợi nhuận, sở hữu tư nhân gia tăng không ngừng, là định hướng giá trị cơ bản của hoạt động và quan hệ của bản thân, cũng là lợi ích sống còn của chính mình”. Theo quan điểm này thì những giám đốc doanh nghiệp nhà nước không được gọi là doanh nhân nhưng họ tham gia vào các hoạt động kinh doanh như những nhà doanh nghiệp tư nhân, thậm chí còn tham gia vào các quan hệ chính trị, xã hội. Như vậy, định nghĩa này chưa hoàn toàn phù hợp với tình hình của Việt Nam. Vấn đề đặt ra là những chủ thể nào thì được gọi là doanh nhân? Nhà kinh tế Schumpeter đã cho rằng: “Doanh nhân là một tính cách không phải một nghề” và xem doanh nhân như là lực lượng tạo nên bước đột phá trong công nghiệp và thương mại, nhờ đó mà nền kinh tế mới tăng trưởng.
Theo ông Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam: “Doanh nhân là nhà đầu tư, là nhà quản lý, là người chèo lái con thuyền doanh nghiệp mà điểm khác biệt của doanh nhân với những người khác là ở chỗ họ là người dám chấp nhận mạo hiểm, rủi ro khi dấn thân vào con đường kinh doanh”. 182 Như vậy, với sự phát triển đa dạng của nền kinh tế đang tăng trưởng thì hầu như những người tham gia, sở hữu và điều hành doanh nghiệp, tham gia vào việc lấy và việc thực hiện các quyết định liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, tài chính của doanh nghiệp đều có thể được xem là doanh nhân. Có thể nói những cổ đông của doanh nghiệp, những nhà quản trị chuyên nghiệp, những thương nhân đều có thể là những doanh nhân. Song, điều đó không có nghĩa là các cổ đông hay nhà quản trị doanh nghiệp đều là doanh nhân.
Những cổ đông không tham gia điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh thì không được gọi là doanh nhân. Doanh nhân là người làm kinh doanh, là chủ thể lãnh đạo, chịu trách nhiệm và đại diện cho doanh nghiệp trước xã hội và pháp luật.