Chương 1.Cơ sở lý luận của đề tài Chương 2.Tín ngưỡng và lễ hội qua khảo sát thực tế của ngư dân miền biển Hải Phòng-Quảng Ninh Chương 3.Một số đề xuất nhằm gắn văn hóa với tín ngưỡng _lễ hội để phát triển du lịch Nguyễn Thị Lương_VH1101 3 Khóa luận tốt nghiệp CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.khái niệm về tín ngƣỡng Từ xưa đến nay nhân dân việt nam luôn quan niệm rằng bên cạnh cuộc sống vật chất với thân xác còn có cả cuộc sống tinh thần với tâm linh.Từ đó đã hình thành nên một hệ tư tưởng rất sâu bền ở mọi người là hệ tưởng về thần quyền với một hệ thống thần linh mà ai nấy đều tôn trọng, hệ tư tưởng ấy đã dần trở thành tín ngưỡng. Có thể hiểu đơn thuần tín ngưỡng là hệ thống các niềm tin mà con người tin vào để giải thích thế giới và để mang lại sự bình an cho cá nhân và cộng đồng. Hay: tín ngưỡng là niềm tin, sự ngưỡng vọng của con người vào những cái “siêu nhiên” (hay còn gọi là cái”thiêng”) cái đối lập với cái “trần tục” cái hiện hữu mà con người có thể sờ mó , quan sát được.
Niềm tin vào cái thiêng thuộc về bản chất con người , nó ra đời tồn tại và phát triển cùng với loài người, nó là một nhân tố cơ bản tạo nên đời sống tâm linh của con người , cũng giống như đời sống vật chất , đời sống xã hội , đời sống tinh thần… Tóm lại tín ngưỡng theo đại bách khoa toàn thư anh định nghĩa: “một trạng thái tâm lý một mệnh đề nào đó không đủ nhận thức lý trí để đảm bảo nó là chân thực mà vẫn tiếp thu hoặc đồng ý mệnh đề đó”các tín ngưỡng dần dần được hình thành từ thấp đến cao, bái vật giáo , tô tem, vật linh giáo , đa thần giáo, rồi hoàn chỉnh đến các tôn giáo và các thiên tính , với trọn vẹn 3 yếu tố :giáo lý, cơ cấu nhân sự, và nghi lễ phụng từ… Theo (fcroyance,foi,e.belief,faith) trước khi tin vào trí tuệ và sức mạnh của chính mình, con người cần phải tìm một nguồn tin nào đó để có thể sống, từ xa xưa, niềm tin đó không thể là cái gì khác ngoài sức mạnh siêu nhiên.Tín ngưỡng là niềm tin và sự ngưỡng mộ , ngưỡng vọng vào một lực lượng siêu nhiên, thần bí bằng một lực lượng siêu nhiên đó có thể mang hình thức biểu tượng “trời”, “phật”, Nguyễn Thị Lương_VH1101 4 Khóa luận tốt nghiệp “thần thánh” hay một sức mạnh vô hình huyền bí nào đó tác động đến đời sống tâm linh của người ta, được người ta tin có thật và tôn thờ. (từ điển tôn giáo _Mai Thanh Hải_trang 634_635.NXB từ điển bách khoa 2002) Lịch sử cho thấy các loại hình tín ngưỡng khác nhau có sức sống dai dẳng và chịu ảnh hưởng lâu dài mà khó có hệ tưởng nào sánh được, tuy trong hoàn cảnh khó khó khăn, phức tạm, lo sợ, hoài nghi phần đông người ta thông qua cảm thụ sức mạnh của thần thánh mà dần ý thức thần thánh phản ứng hay tác dụng do đó hình thành nên cái người ta gọi là tín ngưỡng. Tùy theo hoàn cảnh, trình độ phát triển kinh tế xã hội của mỗi dân tộc, mỗi địa phương, quốc gia mà niềm tin váo cái thiêng thể hiện ra các hình thức tín ngưỡng cụ thể khác nhau, chẳng hạn như niềm tin vào đức chúa, niềm tin vào đức phật, thần…Các hình thức tín ngưỡng này dù rộng hay hẹp khác nhau, dù phổ quát trên toàn thế giới hay là đặc thù của mỗi dân tộc thì cũng là một thực tế biểu hiện niềm tin vào cái thiêng liêng chung của con người mà thôi.Một số loại hình tín ngƣỡng 1.Tín ngƣỡng phồn thực Ngay từ đầu duy trì và phát triển sự sống đã là một nhu cầu thiết yếu nhất của con người. Đối với văn hóa nông nghiệp, hai việc này lại càng trở nên quan trọng.
Để duy trì sự sống cầu cho mùa màng tươi tốt .Để phát triển sự sống cầu cho con người sinh sôi. Hai hình thức sản xuất lúa gạo (để duy trì cuộc sống ) và sản xuất con người (để kế tục dòng giống )này có bản chất giống nhau. Đó là sự kết hợp của hai yếu tố khác loại (đất và trời, mẹ và cha) Từ một thực tiễn đó cư dân nông nghiệp nam – á đã phát triển theo hai hướng: Những lý tưởng sắc sảo đi tìm quy luật khách quan để lý giải hiện thực, kết quả là tìm được triết lý âm dương.Còn những người trình độ hạn chế thì nhìn thấy ở hiện thực một sức mạnh siêu nhiên, bởi vậy mà họ sùng bái nó như thần, kết quả là xuất hiện tín ngưỡng phồn thực (phồn là nhiều, thực là nảy nở )triết lý âm dương và tín ngưỡng phồn thực chỉ là hai mặt của một vấn đề, ở việt nam tín ngưỡng phồn thực Nguyễn Thị Lương_VH1101 5 Khóa luận tốt nghiệp từng tồn tại suốt chiều dài lịch sử với hai dạng biểu hiên: thờ cơ quan sinh dục và thờ hành vi giao phối. Việc thờ cơ quan sinh dục nam và nữ được gọi là thờ sinh thực khí (sinh=đẻ, thực =nảy nở, khí=công cụ )đây là hình thái đơn giản của tín ngưỡng phồn thực, nó phổ biến ở các nước nông nghiệp.
Tượng đá, hình nam nữ với bộ phận sinh dục phóng to có niên đại hàng nghìn năm trước công nguyên được tìm thấy ở Văn Điển (Hà Nội ), ở thung lũng Sa Pa (Lào Cai ).Ở nhà mồ tây nguyên xưa nay tượng người với bộ phận sinh dục phóng to thường xuyên có mặt.Ở Phú Thọ và nhiều nơi khác có tục thờ cúng mõ (nõn ), nường (nõ =cái nêm, tượng trưng cho sinh thực khí nam, nường =nang, mo nang tượng trưng cho sinh thực khí nữ.Ở hội làng Đồng Kỵ (Bắc Ninh ) có tục rước sinh thực khí bằng gỗ , tan hội chúng được đem đốt rồi chia cho mọi người mang rắc ra ngoài ruộng.Hành động địa phương thuộc Phú Thọ, Bắc Ninh, Hà Tây …trước đây vào dịp hội làng người ta rước tới 18 bộ sinh thực khí và khi đám rước kết thúc mọi người tranh cướp nhau vì tin rằng chúng sẽ đem lại may mắn, no đủ cho cả năm. Việc thờ sinh thực khí còn thể hiện ở việc thờ các cột đá (tự nhiên hoặc được tạo ra) và các loại hốc (hốc cây, hốc đá, các kẽ nứt trên đá) Ở chùa Dạm (Bắc Ninh) có một cột đá hình sinh thực khí nam có trạm nổi hình rồng thời Lý.Ngư phủ ở Sở dầm Hòn Đỏ (Khánh Hòa )thờ một kẽ nứt trên một tảng đá mà dân gian gọi là Lỗ Lường (âm đọc chệch đi của tên gọi sinh thực khí hư)vì nữ thần này được nhân dân gọi là bà Lường. Bên cạnh việc thờ sinh thực khí giống như nhiều dân tộc nông nghiệp khác, cư dân trồng lúa nước với tư duy coi trọng quan hệ còn có tục thờ hành vi giao phối, tạo nên một dạng tín ngưỡng phồn thực độc đáo, đặc biệt phổ biến ở khu vực Đông Nam Á. Trên nắp đồng được tìm thấy ở Đào Thịnh (Yên Bái khoảng 500 năm trước công nguyên ).
Xung quanh hình mặt trời là tượng bốn đôi nam nữ đang giao phối.Ở các nhà mồ Tây Nguyên hiện vẫn dựng tượng nam nữ đang giao phối hồn nhiên với bộ Nguyễn Thị Lương_VH1101 6 Khóa luận tốt nghiệp phận sinh dục phóng to. Không chỉ hình người, mà cả hình động vật đang giao phối cũng rất phổ biến.Ở thân thạp Đào Thịnh khắc hình những con thuyền nối đuôi nhau, khiến cho hai con cá sấu – rồng được gắn ở mũi và lái của chúng chạm nhau trong tư thế giao hoàn.Hình chim, thú, cóc giao phối tìm thấy khắp nơi.Nếu lưu ý rằng cóc tượng trưng cho việc cầu mưa, cầu mùa thì ý nghĩa phồn thực của loại biểu tượng cóc giao phối lại càng rõ nét. Vào dịp hội đền Hùng, ở vùng đất tổ lưu truyền điệu múa “tùng dí” , thanh niên nam nữ múa từng đôi, cầm trong tay những vật biểu trưng cho sinh thực khí của nam và nữ.Ở sở Đầm Hòn Đỏ vừa nói, khi nhiều ngày liên tục không đánh được cá đích thân người cầm dầu sở phải tới cầu xin, lạy ba lạy rồi cầm vật tượng trưng cho sinh thực khí nam đâm vào Lỗ Lường 3 lần. Ở vùng La Sơn, La Cả (Hà Tây) có tục khi rã hội (tan đám) vị bô lão chủ trì đánh 3 hồi trống,3 hồi chiêng trong khoảng thời gian đó đèn đuốc được tắt hết, mọi điều cấm kỵ được lâm thời hủy bỏ, thanh niên nam nữ được tự do.Ý nghĩa của tục này là ở chỗ sự hợp thân của nam và nữ trên đất cỏ được xem như một hành động mang tính ma thuật có tác dụng kích thích thiên nhiên, đất trời( giống như việc rắc tro sinh thực khí ra ruộng) Từ thời xa xưa , chày và cối – bộ công cụ thiết thân của người nông nghiệp Đông Nam Á- đã là vật tượng trưng cho sinh thực khí nam và nữ, còn việc giã gạo tượng trưng cho hành động giao phối.
Không phải ngẫu nhiên mà trong vô vàn cách tách vỏ trấu khỏi hạt gạo, người Đông Nam Á đã chọn cách này, trên các trống đồng khác rất nhiều hình nam nữ giã gạo từng đôi. Không thấy mối liên hệ giữa việc giã gạo với tín ngưỡng phồn thực sẽ không hiểu được tục “giã cối đón dâu” nhà trai bày chày cối trước cổng khi dâu về đến nơi thì nhà trai cầm chày mà giã không vào cối mấy tiếng. Đó là nghi lễ cầu chúc cho đôi vợ chồng trẻ được đông con nhiều cháu.Như vậy tín ngưỡng phồn thực đã được hình thành từ rất lâu và ảnh hưởng đến đời sống tinh thần của cư dân nông nghiệp làm phong phú thêm bản sắc văn hóa dân tộc. Nguyễn Thị Lương_VH1101 7 Khóa luận tốt nghiệp 1.Tín ngƣỡng sùng bái tự nhiên Sùng bái tự nhiên là một trong những vai trò tất yếu trong quá trình hình thành và phát triển con người.
Người việt nam sống bằng nghề lúa nước thì sự gắn bó với tự nhiên ngày càng lâu dài và bền chặt. Đồng thời con người cũng phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau của tự nhiên trong lĩnh vực nhận thức là lối tư duy tổng hợp, và trong hình thức tín ngưỡng là tín ngưỡng đa thần và âm tính của nền văn hóa nông nghiệp đã dẫn tới hậu quả trong quan hệ xã hội là lối sống thiên về tình cảm, trọng nữ và trọng tín ngưỡng là tình trạng các nữ thần chiếm ưu thế.vì vậy cho nên nữ thần của ta không phải là các cô gái trẻ đẹp mà là các mẹ, các mẫu, tục thờ mẫu đã trở thành một tín ngưỡng việt nam điển hình.