Chương I. Chí nam nhi của Nguyễn Công Trứ trong thơ văn và trong nguồn sử liệu, giai thoại. Chương II. Nhà nho tài tử Nguyễn Công Trứ trong thơ văn và trong nguồn sử liệu, giai thoại.
Chương III. Cảm thức về nhân tình thế thái của Nguyễn Công Trứ trong thơ văn và trong nguồn sử liệu, giai thoại. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Đóng góp của luận văn Giải quyết tốt được những nhiệm vụ đề ra, luận văn "Tìm hiểu thơ văn Nguyễn Công Trứ qua nguồn sử liệu và giai thoại" đóng góp một cái nhìn toàn diện về con người, thơ văn Nguyễn Công Trứ theo một lôgic chặt chẽ.
Kết quả nghiên cứu của luận văn giúp cho việc cắt nghĩa thơ văn Nguyễn Công Trứ rõ ràng hơn về những sự việc đề cập trong thơ văn và cả những góc khuất trong đời sống tâm hồn mà nhà thơ không tiện bộc bạch. Bên cạnh đó cũng góp phần định hướng cho giáo viên và học sinh những phương pháp nghiên cứu hiệu quả khi đi tìm hiểu một tác gia hay tác phẩm (phương pháp tiểu sử, phương pháp thống kê phân loại, phương pháp so sánh loại hình. Vì vậy, việc nghiên cứu về "Tiếp nhận thơ văn Nguyễn Công Trứ qua nguồn sử liệu và giai thoại" sẽ có giá trị về mặt lý luận và thực tiễn nhất là ứng dụng tốt phục vụ quá trình dạy học và nghiên cứu về tác giả, gợi mở ra những hướng đi mới trong tương lai ở những đề tài khoa học lớn hơn. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 17 NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CHÍ NAM NHI CỦA NGUYỄN CÔNG TRỨ TRONG THƠ VĂN VÀ TRONG NGUỒN SỬ LIỆU, GIAI THOẠI Nhận xét về Nguyễn Công Trứ, nhà nghiên cứu Trương Tửu có viết: “Nguyễn Công Trứ là một kẻ sĩ hoàn danh đáng trân trọng.
Từ thuở còn là thư sinh cho đến lúc làm quan, ông đều bộc lộ chí khí của kẻ sĩ nhập thế tích cực, lo cho dân cho nước”(Tâm lý và tư tưởng Nguyễn Công Trứ ) Quả thực đúng như những gì nhà phê bình ghi nhận, Nguyễn Công Trứ tuy đỗ đạt muộn, ông làm quan đến gần ba mươi năm, giữ nhiều chức vụ khác nhau, hoạn lộ vô cùng sóng gió, nhưng trên cương vị nào ông cũng để lại những kết quả, những thành tựu, không chỉ đối với triều đình nhà Nguyễn mà còn đối với sự phát triển của lịch sử xã hội Việt Nam. Ông xuất chính theo ngạch văn - quan, nhưng chẳng bao lâu đã trở thành một võ tướng, có nhiều chiến tích đáng trân trọng. Vượt lên thói thường đặt nghĩa vụ và nhân phẩm lên trên tiền bạc, hư danh. Trong hoàn cảnh xã hội phong kiến, vua quan thối nát, tham ô, chuộng lợi, nhưng ông vẫn sống thanh cao như cây thông trên vách đá cheo leo, càng rét lá càng xanh tươi.
Công lao to lớn của ông trong lịch sử dân tộc được tạo ra khi ông được trao chức quan Dinh điền sứ, tổ chức khai hoang lấn biển lập ra hai huyện Kim Sơn – Ninh Bình, Tiền Hải- Thái Bình. Cả cuộc đời, ông đã thực hiện chữ “hành đạo” theo quan niệm của Nho giáo là phò đời, giúp nước.Triết thuyết “hành đạo” được Nguyễn Công Trứ hiện thực hóa trong đời trong cả trong thơ. Chí nam nhi của Nguyễn Công Trứ trong thơ văn 1. Khảo sát ngôn từ về Chí nam nhi trong thơ, hát nói của Nguyễn Công Trứ Có thể khẳng định, bất cứ một nhà nho nào khi được đào tạo trong cửa Khổng sân trình, được vỡ đạo thánh hiền đều mong muốn đem điều sở học thực hiện trong xã hội để giúp xây dựng nền thái bình thịnh trị, quốc thái dân an.
Nguyễn Công Trứ cũng không phải là một trường hợp ngoại lệ, ngay từ thủa thiếu thời ông đã mang tư tưởng nhập thế tích cực. Nhà nghiên cứu Nguyễn Bách khoa từng ghi LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 18 nhận khi nghiên cứu thơ văn Nguyễn Công Trứ: “Có cái quan niệm nào được nhắc đi nhắc lại luôn luôn dưới ngòi bút thi ca của Nguyễn Công Trứ lúc thanh niên, đó phải là quan niệm “chí nam nhi”. Trong đầu ông, chí nam nhi là một quan niệm mơ hồ về sự nghiệp cá nhân của kẻ làm trai, gồm đủ cả: chí anh hùng, sự tang bồng hồ thỉ, khí tiết trượng phu, mộng công hầu khanh tướng và lòng thèm muốn lưu danh thiên cổ. Có lúc tất cả những khái niệm liên đới ấy dồn dập xáo động trong tâm trí ông và chen nhau, đẩy nhau, vấp nhau trong vần điệu thi ca” (Nguyễn Bách Khoa, Tâm lý và tư tưởng Nguyễn Công Trứ, chuyển dẫn theo Nguyễn Công Trứ trong dòng lịch sử, NXB Nghệ An-Trung tâm Ngôn ngữ -Văn hóa Đông Tây, 2008, tr.
Bàn về Chí nam nhi trong thơ Nguyễn Công Trứ , nhà nghiên cứu Trần Nho Thìn trong bài viết “Nguyễn Công Trứ và thời đại chúng ta” (Sđd, tr 27) nhận xét: “Chí nam nhi thực ra không phải là sáng tạo riêng của Nguyễn Công Trứ, nó đã được giới trí thức chịu ảnh hưởng tư tưởng Nho giáo từ thời Lý- Trần. Chúng ta đều biết đã có một Quảng Nghiêm (1122-1190) nói “ Hữu thời trực thướng cô phong đính Hưu hướng Như Lai hành xứ hành” Một Phạm Ngũ Lão với nỗi niềm: “Nam nhi vị liễu công danh trái, Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu (Thuật Hoài) Đó là khao khát khẳng định một cái gì đó của chính mình trong cuộc đời này, một khao khát làm nên sự nghiệp bằng hành động thực tiễn chứ không phải lí thuyết, sách vở. Họ đứng từ góc độ hành động thực tiễn để phát huy chí nam nhi”. Đoạn khác ông viết: “Chí nam nhi của Nguyễn Công Trứ giống với chí nam nhi của các trí thức Lí - Trần, một mặt cũng như tất cả mọi người thời trung đại, ông tin rằng có số mệnh, có trời trong số phận nhưng mặt khác, ông cũng tin vào bản thân và sự nỗ lực của bản thân: “Tất do thiên âu phận ấy là thường, Hữu kì đức ắt trời kia LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 19 chẳng phụ”.
Như vậy, so với tư tưởng thoát li của cuộc sống, phủ nhận vai trò của con người, chí nam nhi của nho gia là tích cực, nó khẳng định vị trí và vai trò của cá nhân đối với cộng đồng, làm cho cuộc sống của con người trở nên có ý nghĩa. Trong hoàn cảnh một xã hội ổn định, giai cấp thống trị đang có vai trò tích cực, biết gắn “trung quân với ái quốc”, thì đấy là “đất dụng võ” của kẻ nam nhi. Vì vậy nó trở thành nỗi niềm tâm sự tốt đẹp đầy tinh thần lạc quan, tin tưởng của những người như Thiền sư Khổng Lộ, Quảng Nghiêm… các võ tướng văn thần như Trần Quốc Tuấn, Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Trãi, Nguyễn Công Trứ… Tư tưởng nhập thế trong thơ ông được biểu hiện qua việc khảo sát ngôn từ sau: Theo khảo cứu của các nhà nghiên cứu trong cuốn “Nguyễn Công Trứ Trong dòng lịch sử”, NXBVH Đông Tây, 2008 thống kê: toàn bộ sự nghiệp văn chương của Nguyễn Công Trứ gồm 54 bài thơ, 67 bài hát nói, 01 bài phú, 02 tuồng hát và 37câu đối. Trong hệ thống tác phẩm đó, chúng ta có thể khẳng định rằng các khái niệm về chí nam nhi, kẻ sĩ, anh hùng, chí khí anh hùng, nợ tang bồng được xuất hiện với tần xuất dày đặc (đặc biệt trong các bài hát nói – thể loại sở trường của Nguyễn Công Trứ).
Điều đó cho thấy trong tiềm thức, vấn đề công danh sự nghiệp đặt ra với ông thật da diết. Trong đó: Những từ, cụm từ chỉ tư tưởng chủ đạo của người anh hùng: “nợ tang bồng”, “nợ công danh”, “nợ phong lưu”, “nợ kiếm cung”, “nợ trần hoàn”, “nợ cầm thư”, “Ơn thuỷ thổ”, “gánh trung hiếu”, “Gánh kiền khôn”“tang bồng hổ thỉ”, “chí tang bồng », « gánh giang hồ », « Túi kinh luân”, “kiếm cung”, “quân thần”, , “Phù thế giáo”, “Cầm chính đạo”, “Trung trinh”, “Báo quốc” “Xe bồ luân”… Những từ, cụm từ chỉ chí của người anh hùng: “chí khí anh hùng”, “chí nam nhi”, “Hồi cuồng lan”, “Hội rồng mây”… Những từ, cụm từ chỉ cuộc đời con người: “Ba vạn sáu nghìn ngày” (thâu tóm trong tầm tay), “Mấy trăm năm », « ba vạn sáu », “nghìn sau”… LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 20 Những từ, cụm từ chỉ hành động, tư thế của người anh hùng: “xẻ núi lấp sông”, “bốn bể”, “vẫy vùng cho hết đất”, “vẫy vùng cho phỉ chí”, “theo việc kiếm cung », “Tay kiếm cung” Những từ, cụm từ chỉ cái tài của người anh hùng: “Tài kinh tế”, “tài kinh bang tế thế”… Những từ, cụm từ được thống kê trên xuất hiện phần lớn trong các bài thơ hát nói – một thể loại sở trường của Nguyễn Công Trứ Trong đó có thể kể những bài: Chí nam nhi, Chí anh hùng, Phận sự làm trai, Nợ công danh, Nợ tang bồng, Nước nhà, Kẻ Sĩ, Cầm kì thi tửu, Người với tạo vật, Nghĩa người đời, Quân tử cố cùng, Con Tạo ghét ghen, Đắc chí ngao du, Thoát vòng danh lợi, Bài ca ngất ngưởng, Hành tàng, Thư kiếm vẫy vùng, Hàn Nho phong vị phú v. Đối với Nguyễn Công Trứ đích cao cả, lớn nhất của đời người là lập công giương danh. Bởi âm hưởng chủ đạo trong ông là một nỗi niềm đau đáu với món “nợ tang bồng”, “nợ công danh”…Đó là món nợ của kẻ làm trai.
Tích xưa kể rằng: Tang bồng: là nói tắt của Tang hồ bồng thỉ. Tang là cây dâu, hồ là cái cung, tang hồ là cung bằng gỗ dâu; bồng là cỏ bồng, thỉ là mũi tên, hồ thỉ là tên bằng cỏ bồng. Tục truyền, ngày xưa ở Trung Quốc hễ đẻ con trai thì dùng loại cung tên này bắn sáu phát ra bốn hướng, lên trời, xuống đất, ngụ ý là sau này trưởng thành người con trai sẽ tung hoành dọc ngang trời đất. Người quân tử đã mang nợ ắt cần phải trả.
Cứ theo những cụm từ đã thống kê trong thơ thì Nguyễn Công Trứ ngay từ khi cất tiếng khóc chào đời ông đã “nợ” quá nhiều: nợ cha mẹ, nợ dân nước, nợ với chính bản tính nam giới của mình. Xác định rõ ràng trách nhiệm của bản thân nên cái triết thuyết “hành đạo” được Nguyễn Công Trứ xây dựng được gọi bằng những ngôn từ mang tính biểu tượng, hàm súc cao như: “chí khí anh hùng”, “chí nam nhi”,…Đó là cái chí của kẻ làm trai cần “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”. và đặc biệt phải thực hiện được “túi kinh luân” - nghĩa bóng chỉ những việc trị nước. Thân làm quan, phụng sự triều đình, phụng sự dân nước nhưng ông luôn tụng niệm những tư tưởng: “Ơn thuỷ thổ, “trung trinh”, “Báo quốc”… Tinh thần tự nhiệm cao cả đó lúc nào LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.