phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài. Chƣơng 2: Xây dựng và sử dụng dạy học khám phá trong dạy học Chƣơng 4: Sinh sản, Sinh học 11, Trung học phổ thông. Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.
Lược sử nghiên cứu 1. Trên thế giới Trên thế giới, đặc biệt ở các nƣớc phƣơng Tây, việc tôn trọng những ý tƣởng sáng tạo của học trò là một đặc điểm xã hội phổ biến. Đây cũng chính là tiền đề để phƣơng pháp dạy học khám phá đƣợc nghiên cứu sớm ở các nƣớc này. Vào những năm 20 ở Anh đã hình thành những “nhà trƣờng mới” trong đó đề ra phát triển năng lực trí tuệ cho học sinh, khuyến khích các biện pháp tổ chức hoạt động do chính học sinh tự quản, tự khám phá kiến thức.
Rubinstein đã đƣa ra những ý tƣởng về phƣơng pháp dạy học khám phá. Tuy nhiên, phƣơng pháp dạy học khám phá chỉ thực sự đƣợc nghiên cứu sâu hơn và đƣa vào áp dụng trong thực tiễn từ những năm 1960, sau công trình nghiên cứu quan trọng “Quá trình giáo dục” (The Process of Education) của Jerome Bruner. Đây đƣợc xem nhƣ một bƣớc ngoặt quan trọng trong lý thuyết về giáo dục. Hƣớng tiếp cận mới này tiếp tục đƣợc các nhhhà nghiên cứu trên thế giới nhƣ Geofrey Petty, Jacke Richards, John Platt và Heidi Platt… phát triển thêm.
Jerome Bruner (1915) – nhà tâm lý học, giáo sƣ trƣờng đại học Harvard, là ngƣời có những đóng góp đặc biệt quan trọng và có tầm ảnh hƣởng lớn trong lĩnh vực giáo dục thế kỷ XX. Chƣơng trình nghiên cứu xã hội “Con ngƣời: Một quá trình nghiên cứu” (Man: A Course of Study (MACOS))của ông vào giữa những năm 1960 đƣợc xem là bƣớc ngoặt quan trong trong sự phát triển chƣơng trình giảng dạy. Theo ông, học là một quá trình mang tính chủ quan mà thông qua đó, ngƣời học hình thành nên các ý tƣởng hoặc khái niệm mới dựa trên cơ sở vốn kiến thức có sẵn của mình. Việc học tập khám phá sảy ra 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com khi các cá nhân sử dụng quá trình tƣ duy để phát hiện ra ý nghĩa của điều gì đó cho bản thân họ.
Trong tác phẩm “Quá trình Giáo dục”, Jerome Bruner đã chỉ ra ba yếu tố cơ bản của phƣơng pháp dạy học khám phá. Thứ nhất, giáo viên nghiên cứu nội dung bài học đến mức độ sâu cần thiết, tìm kiếm những yếu tố tạo tình huống, tạo c ơ hội cho hoạt động khám phá, tìm tòi. Thứ hai, giáo viên thiết kế các hoạt động của học sinh, trên cơ sở đó xác định các hoạt động chỉ đạo, tổ chức của giáo viên. Thứ ba, giáo viên khéo léo đặt ngƣời học vào vị trí của ngƣời khám phá ( khám phá cái mới của bản thân), tổ chức và điều khiển cho quá trình này đƣợc diễn ra một cách thuận lợi để từ đó ngƣời học tự xây dựng đƣợc kiến thức.[31] Ở Pháp sau chiến tranh thế giới thứ hai, ra đời những “Lớp học mới”.
Tại một số trƣờng trung học thí điểm, mọi hoạt động đều tuỳ thuộc vào sáng kiến, hứng thú và nhu cầu của học sinh. Giáo viên là ngƣời giúp đỡ, phối hợp các hoạt động của học sinh, hƣớng vào sự phát triển nhân cách của học sinh. Trong những năm 1970 đến 1980, bộ giáo dục Pháp chủ trƣơng khuyến khích áp dụng các biện pháp giáo dục để tăng cƣờng các hoạt động chủ động, tích cực, tự lực, sáng tạo của học sinh. Định hƣớng giáo dục 10 năm của Pháp (1989) ghi rõ: “Về nguyên tắc, mọi hoạt động giáo dục đều phải lấy học sinh làm trung tâm” [17].
Vào nửa sau của những năm 1950, ở một số nƣớc XHCN trƣớc đây nhƣ Liên Xô, CHDC Đức, Tiệp Khắc, Ba Lan… đã có các nhà nghiên cứu giáo dục nhận thấy phải tích cực hoá quá trình dạy học, trong đó cần có những biện pháp tổ chức học sinh hoạt động khám phá kiến thức. Điển hình cho hƣớng nghiên cứu đó là: B. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Những năm gần đây, việc đổi mới phƣơng pháp theo hƣớng tích cực hoá ngƣời học, với các biện pháp tổ chức học sinh hoạt động tự lực, chủ động khám phá ra kiến thức mới đã trở thành xu hƣớng của nhiều Quốc gia trên thế giới nói chung và khu vực nói riêng. Ở Việt Nam Ở Việt Nam, việc phát huy tính chủ động, tích cực của học sinh nhằm đào tạo những ngƣời lao động sáng tạo cũng đã đƣợc đặt ra khá sớm trong ngành Giáo dục và Đào tạo.
Từ cuối những năm 1960, khẩu hiệu “Biến quá trình đạo tạo thành quá trình tự đào tạo” đã đi vào các trƣờng sƣ phạm. Nhiều nghiên cứu về các biện pháp tổ chức học sinh hoạt động tự lực, chủ động, sáng tạo khám phá ra kiến thức mới đã đƣợc đặt ra. Nhƣng các nghiên cứu mới chỉ hạn chế về mặt lí thuyết. Từ năm 1970 trở đi, các nghiên cứu về các biện pháp tổ chức học sinh hoạt động tự lực khám phá ra kiến thức mới đƣợc quan tâm, nghiên cứu cả về lí thuyết và thực hành, trong đó nổi bật là các công trình nghiên cứu: “Cải tiến phƣơng pháp dạy và học nhằm phát huy trí thông minh của học sinh” của tác giả Nguyễn Sỹ Tỳ (1971); “ Kiểm tra lại kiến thức bằng phiếu kiểm tra” của tác giả Lê Nhân (1974).
Cũng trong thời gian này một số tài liệu nƣớc ngoài đã đƣợc dịch để phục vụ giảng dạy và nghiên cứu trong các trƣờng Sƣ phạm nhƣ: “ Hoạt động độc lập của học sinh trong quá trình dạy học của tác giả E. Sau nghị quyết Trung ƣơng IV khoá VII (tháng 2/1993), nghị quyết Trung ƣơng II khoá VIII (tháng 12/1996), nghị quyết Trung ƣơng VI khoá IX (4/2002) của Đảng, vấn đề đổi mới phƣơng pháp dạy học theo hƣớng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh đã trở thành vấn đề quan trọng, cấp bách của ngành giáo dục trong giai đoạn hiện nay, “Đổi mới nội 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com dung, chương trình, phương pháp giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, tăng cường giáo dục tư duy sáng tạo, năng lực tự học, tự tu dưỡng, tự tạo việc làm. Điểm mấu chốt để phát huy tính tích cực của học sinh và nâng cao chất lƣợng dạy học, đó là giáo viên phải có những biện pháp tổ chức cho học sinh những hoạt động khám phá. Điều này đã đƣợc triển khai mạnh mẽ cả về lí thuyết và ứng dụng.
Nhiều công trình nghiên cứu, nhiều bài báo, nhiều tài liệu đã đƣợc công bố, xuất bản. Tiêu biểu là các công trình nghiên cứu lí thuyết của các tác giả: Nguyễn Kỳ: “Phƣơng pháp giáo dục tích cực” (1994); “Thiết kế bài học theo phƣơng pháp tích cực” (1994). Trần Bá Hoành: “Dạy học lấy ngƣời học làm trung tâm” (1993); “Bản chất của việc dạy học lấy học sinh làm trung tâm”. Các công trình nghiên cứu dƣới nhiều góc độ khác nhau về tính tích cực nhận thức, học tập của học sinh, song chƣa có công trình nào nghiên cứu có hệ thống về cơ sở phƣơng pháp dạy học khám phá và quy trình về phƣơng pháp dạy học khám phá môn Sinh học lớp 11, cụ thể là chƣơng Sinh sản.
Cơ sở lý luận của dạy học khám phá 1. Khái niệm về dạy học khám phá Khám phá (Inquiry) là một thuật ngữ chủ yếu sử dụng trong dạy học các môn khoa học trong trƣờng. Nó dùng để chỉ cách đặt câu hỏi, cách tìm kiến thức hoặc thông tin, tìm hiểu về các hiện tƣợng. Nó là một quá trình có mục đích của việc chiếm lính tri thức, giải quyết vấn đề, đồng thời cũng là cách thức, con đƣờng tìm kiếm những điều kì diệu và các vấn đề khó giải quyết từ đó nhận đƣợc thế giới khách quan.Richard Suchman, cha đẻ của chƣơng trình DHKP đƣợc sử dụng rộng rãi khắp nƣớc Mỹ “khám phá là việc mọi người tự tìm hiểu về môi trường của mình”[14] 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thuật ngữ DHKP (Inquiry teaching) đƣợc xuất hiện và sử dụng với tƣ cách là một phƣơng pháp dạy học tích cực.
Tuy nhiên, về nội dung bao hàm khái niệm của nó cũng nhƣ việc áp dụng phƣơng pháp dạy học này trong thực tế vẫn còn nhiều ý kiến tranh luận khác nhau. Jerome Bruner cho rằng dạy học khám phá là lối tiếp cận dạy học mà qua đó học sinh tƣơng tác với môi trƣờng của họ bằng cách khảo sát, sử dụng các đối tƣợng, giải đáp những thắc mắc bằng tranh luận hay biểu diển thí nghiệm. Đối với chuẩn khoa học quốc gia Hoa Kì (NSEA) thì dạy học khám phá là tổ chức cho học sinh tham gia vào các hoạt động học tập trong đó đặc biệt nhấn mạnh vào hoạt động đặt câu hỏi, phân tích dữ kiện và tƣ duy phê phán. Alan Colburn lại cho rằng dạy học khám phá là tạo nên một lớp học mà trong đó học sinh tham gia tích cực vào các hoạt động mở, lấy học sinh làm trung tâm.
Nhƣ vậy có thể hiểu dạy học khám phá là hệ thống phƣơng pháp dạy học phức hợp mà ở đó dƣới vai trò định hƣớng của ngƣời dạy, ngƣời học chủ động việc học tập của bản thân để tìm kiếm, xây dựng nên những hiểu biết mới và tri thức mới. Những tri thức này giúp cho ngƣời học trả lời các câu hỏi, tìm ra các cách khác nhau để giải quyết vấn đề cần nhận thức một cách hiệu quả nhất. Bản chất của dạy học khám phá Dạy học khám phá, những dấu hiệu dễ nhận thấy là : HS tự chiếm lĩnh tri thức bằng các hoạt động tìm tòi, phát hiện dƣới sự tổ chức của giáo viên. Dạy học khám phá đặt hoạt động của ngƣời học lên vị trí trung tâm.
Trong học tập khám phá học sinh đi qua 3 giai đoạn, 3 hình thức hoạt động học tập: Cần phải thao tác hành động trên các dữ liệu đã có, sau đó hành động trên các hình ảnh về chúng và cuối cùng rút ra đƣợc những khái niệm, các qui tắc chung từ những mô hình đó. Bruner đã chỉ ra các vai trò sử dụng 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com dạy học khám phá: Thúc đẩy tƣ duy, phát triển động lực bên trong hơn là tác động bên ngoài, học cách khám phá và phát triển trí nhớ. Geoffrey Petty cho rằng: “Dạy học khám phá chỉ có thể đƣợc sử dụng nếu ngƣời học có khả năng rút ra đƣợc bài học mới từ kiến thức và kinh nghiêm sẵn có của mình” [25].