phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm 2 chương và 6 tiết. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1. ĐIỀU KIỆN VÀ TIỀN ĐỀ CHO SỰ RA ĐỜI TƢ TƢỞNG I. BERLIN VỀ TỰ DO TRONG TÁC PHẨM BỐN TIỂU LUẬN VỀ TỰ DO 1.
Điều kiện kinh tế - xã hội, văn hóa - chính trị * Điều kiện kinh tế - xã hội Từ những năm 1900 trở đi, nước Anh từ một cường quốc trung tâm hàng đầu có sức mạnh to lớn trở thành một quốc gia phát triển tầm trung với vai trò quốc tế mờ nhạt. Trong thế kỉ XX, nước Anh trải qua sự thay đổi lớn, qua hai cuộc chiến tranh thế giới, đời sống mọi tầng lớp nhân dân lâm vào khó khăn, đặc biệt là giai cấp công nhân. Năm 1900, các cuộc điều tra cho thấy, có từ 15 - 20% dân số sinh sống trong cảnh nghèo nàn, 8 - 10 % dân số sống dưới mức đói nghèo. Trên thực tế luôn luôn có một lượng lớn dân số sống trong cảnh thiếu thốn dưới mức sinh tồn.
Năm 1906, chính phủ tự do được bầu và họ đã đưa ra một số cải cách. Từ đây các bữa ăn miễn phí được cung cấp trong trường học. Từ 1907, y tế học đường được xét duyệt, nền dân chủ xã hội được mở rộng, các tầng lớp nhân dân có được nhiều hơn các quyền tự do. Năm 1908, những người thợ mỏ đã đấu tranh thắng lợi, buộc giới chủ phải giới hạn ngày làm việc 8 tiếng, lương hưu bắt đầu được trao cho những người trên 70 tuổi, tuy nhỏ nhưng nó đã đánh dấu một sự khởi đầu cho việc thực hiện các chính sách xã hội.
Từ năm 1925, lương hưu được trả cho nhưng người đàn ông trên 65 tuổi, phụ nữ trên 60 tuổi, góa phụ cũng được nhận lương hưu. Năm 1909, Bộ Thương Mại đưa ra quy định về tiền lương tối thiểu cho những ngành nghề vốn có mức lương thấp và trong năm này một đạo luật giúp những người thất nghiệp tìm việc làm đã ra đời. Năm 1911, Luật Bảo hiểm quốc gia được thông qua, từ đây những người lao động cùng đóng góp để xây dựng các loại quỹ Bảo hiểm. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Bước vào chiến tranh thế giới lần thứ I, Anh tham chiến nhằm chặn đứng tham vọng tranh giành thuộc địa, chia lại thị trường của Đế quốc Đức.
Sau cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất, trừ Mĩ và Nhật, các nước tư bản chủ nghĩa châu Âu bị suy yếu trầm trọng vì đây là chiến trường chính. Các nước này đều lâm vào khủng hoảng kinh tế 1920 - 1921. Trong cuộc chiến tranh đế quốc này, Anh tuy thắng trận nhưng cũng đã chịu những tổn thất nặng nề. Tại các nước châu Âu, những cuộc cách mạng dân chủ tư sản, cách mạng vô sản đã làm rung chuyển chế độ tư bản, châu Âu vốn từ lâu được coi là trung tâm của chủ nghĩa tư bản bị lâm vào tình thế bất lợi trước so sánh tương quan lực lượng trước và sau chiến tranh.
Giai đoạn này cũng đồng thời chứng kiến nỗ lực của các nước tư bản tìm cách nhanh chóng thanh toán chiến tranh, tổ chức lại trật tự thế giới cho phù hợp tương quan lực lượng mới. Hệ thống Vecxai - Oasinhtơn ra đời phần nào đáp ứng được yêu cầu đó nhưng chưa thỏa mãn tham vọng của các bên. Khủng hoảng kinh tế - chính trị, xã hội khiến cho chủ nghĩa tư bản ở các nước châu Âu nói riêng và thế giới nói chung lâm vào tình trạng bất ổn. Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, Anh là nước thắng trận, hạ gục được Đức, vẫn giữ được vị trí đế quốc có nhiều thuộc địa nhất.
Mặc dù vậy, Anh cũng chịu nhiều hậu quả từ cuộc chiến: mất 70% tàu buôn, ngoại thương chỉ còn ½, từ vị trí chủ nợ, sau chiến tranh Anh trở thành con nợ của Mĩ với 5,6 tỉ USD. Từ cuối năm 1920, cuộc khủng hoảng kinh tế bùng lên, đến đầu 1921 đã trùm lên các ngành công nghiệp, nông nghiệp, thương mại. Sản xuất công nghiệp giảm xuống còn 1/3, xuất khẩu giảm 44%, nhập khẩu giảm 39%. Nhiều xí nghiệp bị phá sản, nạn thất nghiệp tràn lan nhất là các ngành đóng tàu và luyện kim.
Trong những năm 1920, ngành công nghiệp truyền thống như khai thác than sụt giảm, vì vậy đến năm 1921 giới chủ cắt giảm tiền lương của công 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhân, đến năm 1926 lại đề xuất giảm tiền lương và tăng giờ làm việc. Điều này đã khiến cho các cuộc đình công ngày càng lan rộng, phong trào công nhân phát triển mạnh mẽ. Xã hội Anh thời kì này gặp nhiều vấn đề xã hội nan giải, người công nhân phải đối mặt với cuộc sống cực kì khó khăn. Trước thực tế khắc nghiệt đó, các nhà tư tưởng theo phong trào cải cách đã cố gắng tìm ra những giải pháp để giải phóng họ.
Triết lý của chủ nghĩa tự do được quan tâm, đề cập nhiều nhất trong thời kì này. Từ năm 1925, nước Anh bước vào thời kì ổn định nền kinh tế và chính trị. Nhiều ngành công nghiệp truyền thống được khôi phục, các ngành công nghiệp mới được phát triển như hàng không, kĩ thuật điện. Nhưng mãi cho đến năm 1929 thì sản xuất công nghiệp ở Anh mới đạt đươc mức trước chiến tranh.
Tỉ trọng công nghiệp Anh trong tổng sản lượng chung của công nghiệp thế giới giảm rõ rệt. sản xuất nông nghiệp cũng không mấy sáng sủa. Trong những năm khủng hoảng kinh tế 1929 - 1933, mức độ khủng hoảng kinh tế ở Anh không trầm trọng bằng Mĩ vì nền kinh tế ở đây phát triển chậm, lạm phát cao, đồng bảng Anh mất giá 1/3. So với năm 1929, năm 1933, sản lượng công nghiệp giảm hơn 20%, trong đó các nghề sản xuất chủ yếu như gang, thép giảm 1/2, than đá, đóng tàu cũng giảm mạnh.
Khủng hoảng cũng xảy ra trong nông nghiệp, diện tích canh tác bị thu hẹp, nông sản giảm. Tình hình xã hội rối ren, công nhân thất nghiệp nhất là trong các ngành luyện kim, đóng tàu,… chính phủ phải xuất một số lượng tiền lớn để cứu tế, chi cho bảo hiểm thất nghiệp hàng trăm triệu bảng. Nước Anh bước ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1934 nhưng sự phục hồi và phát triển kinh tế yếu ớt trong những năm tiếp theo không chuyển thành sự phồn vinh. * Bối cảnh văn hóa - chính trị Bối cảnh xã hội Tây Âu đầu thế kỷ XX là yếu tố có ảnh hưởng mạnh mẽ đến tư tưởng về tự do của I.
Vào thời kỳ này, xã hội Tây Âu có 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhiều biến động trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội,. Nguyên nhân chính của những biến động đó là do sự bành trướng của khoa học - kỹ thuật và đặc biệt, về mặt lý luận, là sự thống trị của chủ nghĩa duy lý. Xã hội duy lý đã tước mất mọi giá trị đích thực của con người, con người bị duy lý hóa tới mức trở thành một “mắt xích” trong dây chuyền sản xuất tư bản chủ nghĩa cũng như trong chính trị. Con người trong xã hội không ý thức được mình là ai, có ham muốn gì., mà ngược lại, họ trở thành những công cụ, phương tiện hỗ trợ đắc lực cho những mục tiêu chính trị.
Về mặt tôn giáo, con người bị lệ thuộc hoàn toàn vào Thiên Chúa. Ngay cả giáo lý Thiên Chúa giáo cũng bị duy lý hóa để rồi con người phải răm rắp tuân theo những mệnh lệnh của Chúa Trời. Về chính trị, sau chiến tranh thế giới thứ nhất, tình hình tiếp tục xấu đi, hình thức chính quyền của Anh trong mấy năm sau chiến tranh là chính phủ liên hiệp gồm Công đảng, Bảo thủ, Tự do. Tháng 5 năm 1918, Đảng Tự do chính thức bị phân liệt, từ đây vị trí của Đảng Tự do suy giảm không cứu vãn nổi.
Đảng Bảo thủ trở thành ngọn cờ tập hợp giai cấp hữu sản. Tháng 1 năm 1919, Chính phủ chỉ gồm Đảng Bảo thủ và Tự do do Lôi Giooc (thuộc Đảng Tự do) đứng đầu. Công đảng tập hợp giai cấp công nhân xung quanh. Trong bối cảnh đó, Công đảng phát triển nhanh: trong cuộc tuyển cử 1922, được 162 ghế (năm 1918 chỉ được 60 ghế).
Tình hình nước Anh tiếp tục xấu đi do khủng hoảng kinh tế và sự suy yếu địa vị của Anh trên trường quốc tế. Tháng 10 năm 1922, chính phủ của Đảng bảo thủ lên nắm quyền đã thi hành những chính sách đối nội, đối ngoại phản động, nhất là chính sách chống nước Nga Xô Viết. Chính sách này đã gây nên sự bất bình trong lòng dân chúng. Trong cuộc bầu cử quốc hội bất thường năm 1923, Đảng bảo thủ mất uy tín, Công đảng lên nắm quyền với thủ tướng là R.
Từ đây, trên chính trường Anh, vị trí của Công đảng đã lớn mạnh hơn trước, thay thế vị trí 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của Đảng Tự do, giữ vai trò đảng đối lập với đảng cầm quyền. Điều đó chứng tỏ phần nào sự thật bại của chính giới bảo thủ Anh trước trình độ giác ngộ ngày càng cao của nhân dân lao động. Trong khi Anh bị suy giảm thì các nước ngoài châu Âu như Nhật, Mĩ không chịu nhiều hậu quả chiến tranh, vươn lên mạnh mẽ. Vị trí bá chủ của Anh bị lung lay, nhường bước cho Mĩ.
Anh buộc phải nhân nhượng cho Mĩ tại Hội nghị Vecxai và Oasinhtơn. Anh cùng với các nước Đế quốc can thiệp vào nước Nga Xô Viết song bị thất bại. Đế quốc Anh bị mất khá nhiều thuộc địa vì phải nhường cho Mĩ và phải trao trả độc lập cho một số dân tộc phụ thuộc, thuộc địa. Trong thời kì Công đảng nắm quyền, chính phủ của đảng này đã công nhận Liên Xô và có dự định kí kết hiệp ước với Liên Xô.
Sự suy thoái kinh tế đưa đến nạn thất nghiệp thường xuyên (số người thất nghiệp tăng lên 1 triệu người), đời sống nhân dân ngày càng khó khăn đã kích thích tinh thần đấu tranh của họ. Điều này dẫn tới cuộc đấu tranh mạnh mẽ của giai cấp công nhân. Trong những năm 1918 - 1921 có 6,5 triệu người bãi công. Phong trào công nhân không những đưa ra những yêu sách kinh tế mà còn cả những yêu sách chính trị.
Họ đòi chấm dứt can thiệp vào nước Nga Xô Viết, đòi quốc hữu hóa nền kinh tế. Trong những năm từ 1924 đến 1929 ở nước Anh là thời kì cầm quyền của Đảng Bảo thủ. Chính phủ của Đảng Bảo thủ chủ trương khôi phục kinh tế bằng cách đánh vào quyền lợi của người lao động, có lợi cho giới chủ.