mở đầu cho triều đại nhà Mạc. Mạc Đăng Dung giết Cung Hoàng và Thái hậu. Đến năm 1529, Mạc Đăng Dung nhường ngôi cho con là Mạc Đăng Doanh (niên hiệu Đại Chính 1530-1540) và lên làm Thái thượng hoàng. Trong Lịch triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú có viết: “Đăng Doanh là con của Đăng Dung, tính khoan nhân, giản dị, hay giữ gìn pháp độ, ngăn cấm những việc hà khắc, bạo ngược, giảm nhẹ sưu dịch thuế khóa.
Thuở ấy được mùa, mọi nhà đều sung túc, nhân dân no đủ, trong nước gọi thời ấy là thời trị bình”[7, tr. Năm 1537, vua nhà Minh mượn cớ khôi phục nhà Lê đem quân sang đóng gần ải Nam Quan. Nguyễn Văn Thái được Mạc Đăng Dung cử đi sứ sang Trung Quốc xin thần phục. Và đến năm 1540, Mạc Đăng Dung đầu hàng quân Minh khi chúng tiến đánh.
Mạc Phúc Hải lên kế vị (niên hiệu Quảng Hòa 1541-1546) Đăng Doanh mất. Phúc Hải “chỉ thích du hí, lúc ở nhà thì đam mê con hát, đi ra thì tìm thú chọi gà”(Lịch triều hiến chương loại chí-Phan Huy Chú)[7, tr. Năm 1532, một cựu thần nhà Lê là An Thanh hầu Nguyễn Kim lập Duy Ninh con Chiêu Tông lên ngôi, tức Trang Tông, rồi khởi quân về Nghệ An đánh chiếm Tây Đô năm 1543. Đất nước bấy giờ chia làm hai: Nam và Bắc triều từ Thanh Hóa trở vào thuộc nhà Lê gọi là Nam triều; từ Sơn Nam trở ra gọi là Bắc triều thuộc nhà Mạc.
Hai phe đánh nhau triền miên nhiều năm liền. Đến triều Mạc Phúc Nguyên (niên hiệu Vĩnh Định 1546), lợi dụng chúa còn nhỏ tuổi, bọn quyền thần trong triều thao túng, mọi quyền hành rơi vào tay là Khiêm vương Kính Điển. Vì vậy, Thái tể Lê Bá Ly đem một vạn tư quân phối hợp cùng với Thượng thư Đô Ngự sử Nguyễn Thiếp đầu hàng tập đoàn Lê-Trịnh, khiến Phúc Nguyên phải rời bỏ kinh thành, sau đó bị bệnh chết. Năm 1592, Trịnh Tùng chiếm thành Thăng Long, bắt giết Mạc Mậu Hợp (niên hiệu Thuần Phúc), rước vua Lê về Đông Đô.
Cuộc nội chiến chấm dứt chưa được bao lâu thì lại xảy ra sự phân tranh Trịnh- Nguyễn. Một lần nữa, đất nước bị chia cắt thành hai miền Đàng Ngoài- Đàng Trong. Từ khi Mạc Đăng Dung tiếm ngôi nhà Lê (1527) cho đến khi Mạc Mậu Hợp bị giết là gần 66 năm. Khách quan mà nói trong thời điểm này triều Mạc có xây dựng được một trật tự xã hội ổn định, có kỷ cương và pháp luật nghiêm minh.
Và chính Mạc Đăng Dung là người đã có công trong việc thiết lập một triều đại mới khi triều đại cũ đã suy vong và liên tục củng cố lực lượng để bảo vệ đất nước. Bên cạnh đó, phải nhìn nhận rằng nhà Mạc có đưa ra nhiều chính sách có ý nghĩa tiến bộ nhằm thúc đẩy sự tiến bộ xã hội, tranh thủ sự ủng hộ của các cựu thần nhà Lê và nhân dân như khuyến khích phát triển nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp (hình thành chế độ cấp phát ruộng đất hợp lý, đúc tiền đồng, tiền sắt; nghệ thuật điêu khắc, đồ gốm; mở rộng buôn bán với Nhật Bản, Triều Tiên…), quan tâm đến giáo dục và việc trọng dụng, đào tạo nhân tài cho đất nước (xây trường, tổ chức các kỳ thi…), nhiều nhân vật kiệt xuất có tâm huyết với đời lần lượt xuất hiện như Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Thiến, Nguyễn Quyện, Giáp Hải…. Tuy nhiên, theo quan niệm chính thống và không chính thống về một triều đại, Mạc Đăng Dung vẫn bị một số thần tử trung thành với nhà Lê chống đối mạnh mẽ. Trong Việt Sử kỷ yếu, Trần Xuân Sinh có viết: “Thượng thư bộ lễ Lê Tuấn Mậu bị cưỡng ép vào chầu, dấu hòn đá trong tay áo, ném vào đầu Đăng Dung, rồi đành chịu giết chết.
Đô ngự sử Vũ Duệ, Tham chính sứ Nguyễn Huy Tưởng, Quan sát sứ Nguyễn Tự Cường….đều không chịu khuất, chửi vào mặt Đăng Dung, rồi nhảy xuống sông mà chết, hoặc hướng về Lam Sơn lạy rồi tự tử” [48, tr. Các nhà sử gia cũng bày tỏ quan điểm gay gắt với nhà Mạc, Lê Quý Đôn xếp các vua Mạc vào loại “nghịch thần”. Và sự kiện cắt đất đầu hàng nhà Minh vào năm 1540 của Mạc Đăng Dung cũng tạo ra nhiều luồng ý kiến. Trong Lịch sử triều Mạc, Đinh Khắc Thuần có trích lời phê phán kịch liệt của Trần Trọng Kim về Mạc Đăng Dung: “Đối với vua là nghịch thần, đối với nước là phản quốc, đối với cách ăn ở của loài người, là không có nhân phẩm; một người như thế ai mà kính phục”.
Còn trong Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm, tác giả Đinh Gia Khánh bày tỏ thái độ phê phán mạnh mẽ hơn: “….việc Mạc Đăng Dung đã cắt đất, thần phục một cách nhục nhã và hơn nữa đối với nhà Minh thì về danh nghĩa không dám xưng là quốc vương đủ cho thấy giai cấp phong kiến đã đốn mạt như thế nào rồi”[22,tr.7] Nhưng từ sau năm 1985, nhân kỉ niệm 400 năm ngày mất và 500 năm ngày sinh của Nguyễn Bỉnh Khiêm, nhiều cuộc Hội thảo khoa học đã diễn ra tại quê hương Hải Phòng của nhà thơ nhằm mục đích đánh giá lại nhà Mạc và Mạc Đăng Dung. Ngoài ra, các nhà nghiên cứu cũng đưa ra nhiều ý kiến sâu sắc về thái độ ứng xử của Nguyễn Bỉnh Khiêm đối với nhà Mạc. Trong bài viết Cần hiểu đúng Nguyễn Bỉnh Khiêm và nhà Mạc,Trần Khuê nhận định: Việc giành lấy ngôi vua từ tay một triều đại, một dòng họ đã suy tàn là hợp qui luật, việc trá hàng nhẫn nhục để giữ yên cõi bờ và bảo toàn chủ quyền là khôn khéo. Còn tội “cắt đất” dâng cho kẻ thù rõ ràng là không có chứng cứ chính xác.
Chờ đến khi có nhà nghiên cứu nào đưa ra được chứng cứ lịch sử khác, tôi có thể khẳng định rằng: Nhà Mạc không mắc tội phản quốc.44] Trong bài Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm trong bối cảnh văn hóa thế kỉ XVI, tác giả Trần Quốc Vượng có lời bình sắc sảo và thú vị: “Tất cả những ứng xử của nhà Mạc với Minh cũng chỉ nằm trong một chiến lược ngoại giao hằng xuyên của Việt nhỏ với Hoa lớn “thần phục giả vờ, độc lập thật sự”.78] Chính nhờ việc nhìn nhận lại mặt tích cực của triều Mạc của các nhà nghiên cứu mà người viết mới có cơ sở để phân tích quan niệm xuất xử của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ông là một người cẩn thận, suy xét sâu sắc thế sự, cho nên không thể là người hời hợt đi phụng sự cho một triều đại mang tiếng cướp ngôi. Về xã hội Do chiến tranh xảy ra liên miên trong vòng một thế kỷ giữa các tập đoàn phong kiến đã ảnh hưởng đến cuộc sống của mọi tầng lớp trong xã hội. Bọn quan lại và địa chủ địa phương ra sức nhũng nhiễu bóc lột dân lành.
Còn nhân dân thì sống trong cảnh lầm than, khốn khổ chẳng những vì chiến loạn mà còn vì nạn đê vỡ, hạn hán hàng năm, trộm cướp, phiến loạn, thuế má tăng cao. Tuy thời Mạc Đăng Dung, xã hội có bình ổn một thời gian, có kỷ cương và pháp luật nhưng dấu tích chiến tranh vẫn ám ảnh trong lòng người thời đó. Đến khi hai thế lực Nam triều-Bắc triều được hình thành thì cuộc chiến tranh bùng nổ trên một vùng đất đai rộng lớn từ Thăng Long đến Quảng Bình. Chết chóc, chia lìa, đau thương, đói kém hiện diện trong đời sống nhân dân trong khoảng thời gian khá dài, khiến lòng người lo lắng khôn nguôi.3 Về kinh tế Nông nghiệp càng lúc càng suy kém vì đất đai bị tàn phá trong chiến tranh, vả lại do chế độ quân điền đời các vua Lê quá khe khắt nên ngành nông nghiệp không phát triển, tạo điều kiện cho bọn quan lại cường hào thời đó cướp đoạt ruộng đất của dân.
Về công nghiệp (nghề tơ lụa, thêu thùa, vàng ngọc, đồ đồng, đồ gốm, nghề khai mỏ.) cũng phát triển nhưng chỉ có tính cách gia đình không có tác dụng gì đối với ngành công nghiệp khác mà chỉ phục vụ cho đời sống xa hoa của vua quan. Thương nghiệp không phát triển vì các thứ thuế, việc buôn bán trong nước thì trì trệ, còn với các nước phương Tây thì bị hạn chế do bị chính sách bế quan tỏa cảng. Chỉ khi nhà Mạc có một số thay đổi về chính sách thì bộ mặt kinh tế thời đó mới khởi sắc. Về ruộng đất, năm 1543, triều Mạc có quy định mới về chế độ quân điền thể hiện sự tôn trọng truyền thống cộng đồng làng xã hơn và đem lại quyền lợi riêng cho nông dân, ruộng quan và ruộng chùa của các làng xã, ngoài những ruộng đất cấp cho binh sĩ, “còn bao nhiêu ruộng sẽ theo số người trong xã mà chia đồng đều”(Lê Quí Đôn –Toàn tập, tập III, tr 280).
Về công thương nghiệp, triều Mạc không áp dụng đường lối ức thương quá nặng nề của triều Lê. Thương nhân được phép đi lại buôn bán trao đổi hàng hóa thuận lợi hơn. Nghề gốm sứ, các thợ thủ công đã được chạm khắc cả tên họ của mình vào sản phẩm. Nói chung, chính những tiền đề về chính trị, về xã hội và kinh tế trên đã ảnh hưởng rất lớn đến quan niệm nhân sinh của Nguyễn Bỉnh Khiêm.
Và một phần nào đó trả lời nguyên nhân vì sao một nho sĩ tài danh như Nguyễn Bỉnh Khiêm “xuất” cũng muộn mà “xử” lại càng muộn hơn. Cuộc đời, sự nghiệp văn chương và tư tưởng chính trị của Nguyễn Bỉnh Khiêm 1. Tiểu sử Nguyễn Bỉnh Khiêm sinh năm Tân Hợi (1491) năm Hồng Đức thứ 22 triều Lê Thánh Tông, người làng Trung Am, huyện Vĩnh Lại, tỉnh Hải Dương (nay là huyện Vĩnh Bảo, ngoại thành Hải Phòng). Ông húy là Văn Đạt, tự Hanh Phủ, hiệu là Bạch Vân cư sĩ.
Xuất thân trong gia đình có truyền thống văn hóa, tổ phụ là Văn Tĩnh được ấm phong Thiếu bảo Tư quận công. Tổ mẫu là Phạm Thị Trinh Huệ được ấm phong Chinh phu nhân. Ông ngoại là Thượng thư bộ Hộ Nhữ Văn Lan. Phụ thân là Văn Định, hiệu Cù Xuyên tiên sinh, học rộng đức cao, được phong Thái bảo Nghiêm quận công, được sung chức Thái học sinh.
Thân mẫu họ Nhữ được phong Từ Thục phu nhân. Bà thông kinh sử, giỏi văn chương, tinh thông thuật số. Chính dòng dõi gia đình và sự giáo dục của người mẹ đã ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển toàn diện trong nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Bỉnh Khiêm sinh ra thông minh, từ nhỏ được mẹ dạy chính văn trong kinh truyện, thơ quốc âm.