Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Văn học mang tên "Tìm hiểu nội dung và nghệ thuật vè Nam Bộ" do sinh viên Phạm Văn Khoa thực hiện dưới sự hướng dẫn của ThS. Tăng Tấn Lộc tại Khoa Khoa học Cơ bản, Trường Đại học Võ Trường Toản (tháng 05 năm 2013). Đề tài xuất phát từ thực trạng mảng văn học dân gian Nam Bộ nói chung và thể loại vè nói riêng chưa nhận được sự quan tâm đúng mức từ giới nghiên cứu học thuật, vốn trước đây thường chú trọng khảo sát văn học dân gian khu vực miền Bắc. Tác giả dẫn chứng nhận định của học giả Nguyễn Văn Hầu trong Văn học Miền Nam lục tỉnh: nhiều công trình văn học sử tiêu biểu như Việt Nam văn học sử yếu (Dương Quảng Hàm), Đại Việt văn học lịch sử (Nguyễn Sĩ Đạo), Việt Nam văn học sử trích yếu (Nghiêm Toản), hay Khởi thảo văn học sử Việt Nam (Thanh Lãng) đều không bàn xét hoặc xem nhẹ vị trí của thể loại vè. Bên cạnh đó, bối cảnh đời sống hiện đại hóa, cơ giới hóa cùng sự du nhập của các trào lưu văn hóa ngoại lai đang đặt các loại hình văn hóa diễn xướng dân gian truyền thống trước nguy cơ mai một và thất truyền.
Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể qua bốn nội dung:
- Góp phần sưu tầm, gìn giữ các loại hình văn hóa dân gian Nam Bộ đang có nguy cơ bị mai một trong đời sống xã hội hiện đại.
- Thâm nhập, khám phá vẻ đẹp của văn hóa dân gian Nam Bộ, cụ thể là thể loại vè qua phương thức diễn xướng truyền thống.
- Xây dựng bộ sưu tập tư liệu văn học dân gian Nam Bộ về vè, phục vụ công tác tra cứu và nghiên cứu văn học dân tộc.
- Làm sáng tỏ vẻ đẹp ngôn ngữ cùng đời sống tâm tư, tình cảm và nếp sinh hoạt của cư dân vùng châu thổ đồng bằng sông Cửu Long.
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là các bài vè dân gian ra đời và lưu truyền tại vùng đất Nam Bộ. Phạm vi khảo sát văn bản tập trung chủ yếu vào nguồn ngữ liệu trong công trình Vè Nam Bộ của Huỳnh Ngọc Trảng (Nhà xuất bản Tổng hợp Đồng Nai, 2006), kết hợp đối chiếu với các tư liệu điền dã, chuyên khảo văn học dân gian tại một số địa phương như Sóc Trăng, Châu Đốc, Trà Vinh.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận vận dụng hệ thống khái niệm và khung lý thuyết về thể loại vè từ các công trình nghiên cứu văn học dân gian tiêu biểu tại Việt Nam. Về định nghĩa thể loại, văn bản đối chiếu khái niệm từ Từ điển Đại Nam quấc âm tự vị ("chuyện khen chê đặt có ca vần"), định nghĩa của nhóm tác giả Hoàng Tiến Tựu, Nguyễn Hữu Sơn, Phan Thị Đào, Vũ Quang Trọng (Một vài vấn đề về văn học dân gian), cùng quan điểm của Phan Văn Thiết và Nguyễn Văn Hầu về việc vè là "lợi khí tranh đấu của hạng bình dân" nhằm hình thành áp lực dư luận xã hội. Khóa luận tiếp thu luận điểm của Cao Huy Đỉnh và Ninh Viết Giao khi nhìn nhận vè như một kho tri thức "bách khoa thư" thực tiễn, phản ánh cả tính chất cách trí dân gian lẫn tinh thần nghệ thuật. Về phân loại thể loại, tác giả chọn tiêu chí phân loại theo đề tài để chia vè thành hai mảng lớn: vè thế sự (vè sinh hoạt, kể muôn vật, đời sống làng xóm, vè than thân) và vè lịch sử (vè kể chuyện nước).
Văn bản sử dụng bốn phương pháp nghiên cứu chính:
- Phương pháp thống kê: Thu thập, rà soát và tuyển chọn các văn bản vè Nam Bộ có độ xác thực cao từ các tuyển tập uy tín, phục vụ việc phân loại và mô hình hóa ngữ liệu.
- Phương pháp so sánh: Đối chiếu đặc trưng thi pháp, ngôn ngữ, hình thức diễn xướng và nội dung của vè Nam Bộ với các sáng tác vè ở miền Bắc và miền Trung nhằm làm nổi bật sắc thái phương ngữ cùng tính cách con người Nam Bộ.
- Phương pháp phân tích: Đi sâu làm rõ nguyên nhân xã hội, hoàn cảnh lịch sử nảy sinh các tác phẩm, qua đó phân tích nội dung tư tưởng và giá trị nghệ thuật ngôn từ của từng bài vè cụ thể.
- Phương pháp liên ngành: Kết hợp tri thức văn học dân gian với địa lý tự nhiên, lịch sử khẩn hoang và phong tục tập quán xã hội học Nam Bộ để luận giải bối cảnh ra đời của các bài vè.
Nguồn dữ liệu của công trình bao gồm các ấn phẩm khảo cứu văn hóa dân gian Nam Bộ: Văn học Miền Nam lục tỉnh (Nguyễn Văn Hầu, 2012), Vè Nam Bộ (Huỳnh Ngọc Trảng, 2006), Nói thơ, nói vè, thơ rơi Nam Bộ (Lư Nhất Vũ, Lê Giang, Nguyễn Ngọc Quang, 2011), Tư tưởng tiến bộ - triết lý nhân sinh thực tiễn của nhân dân và vai trò của vè, truyện kể trong văn học dân gian (Vũ Tố Hảo, Hà Châu, 2012), cùng các tài liệu địa phương khảo sát tại Châu Đốc, Sóc Trăng, Trà Vinh.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lí luận
Chương 1 xây dựng hệ thống khái niệm nền tảng về thể loại vè trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam. Tác giả tổng hợp các nguồn tư liệu để đưa ra định nghĩa: vè là thể loại tự sự dân gian bằng vần, giàu tính thời sự, phản ánh các sự kiện người thực việc thực trong đời sống xã hội, thể hiện thái độ khen chê dứt khoát của tác giả dân gian, đồng thời có chức năng mua vui, giảng giải luân lý và định hướng dư luận cộng đồng. Về nguồn gốc, thuật ngữ vè bắt nguồn từ hiện tượng "vần vè" (lời nói có vần điệu). Vè đóng vai trò như một dạng "khẩu báo" (báo chí truyền miệng) ghi chép và bình luận các biến cố tại địa phương. Thể loại này đặc biệt phát triển rực rỡ vào giai đoạn cận đại (thế kỷ XVIII, XIX và đầu thế kỷ XX), gắn liền với phong trào đấu tranh chống áp bức phong kiến và các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
Khóa luận xác lập bốn đặc trưng thi pháp cơ bản của vè:
- Vè là thể loại tự sự dân gian bằng vần: Tác phẩm mang tính truyện rõ nét, có cốt truyện từ đơn giản (liệt kê sự vật) đến phức tạp (kể về biến cố lịch sử, nhân vật anh hùng), có nhân vật tự sự và người kể chuyện can dự trực tiếp, sử dụng ngôn từ nôm na, bình dân để phản ánh sự việc với thái độ thiên vị rõ ràng (khen ngợi hoặc đả kích gay gắt).
- Vè giàu tính chất trữ tình: Tính trữ tình thể hiện sâu sắc qua nghệ thuật diễn xướng bằng cử chỉ, điệu bộ, cảm xúc của nghệ nhân và đậm nét nhất trong các bài vè than thân, thể hiện nỗi đau và sự đồng cảm với các số phận bất hạnh. Trong thể loại này, khâu sáng tác và khâu biểu diễn thường tách rời nhau.
- Vè nổi bật tính thời sự: Đề tài hướng tới các biến cố đang hoặc vừa mới xảy ra. Do tính chất thời sự, tuổi thọ của nhiều bài vè thường ngắn ngủi, dễ bị lãng quên khi sự kiện lắng xuống, ngoại trừ các bài vè lịch sử gắn liền với sự kiện trọng đại.
- Vè mang tính địa phương: Địa bàn phổ biến thường gắn với không gian cụ thể của một ấp, xã, huyện, ghi lại đích danh tên người, ngày tháng và địa danh xảy ra biến cố.
| Tiêu chí phân loại |
Phân nhóm cụ thể |
Đặc điểm và phạm vi phản ánh |
| Theo thể thơ |
Thể 4 chữ (nói lối), lục bát, song thất lục bát, hát dặm |
Cấu trúc vần lưng, vần chân, nhịp điệu dồn dập, thích hợp với lối kể truyền khẩu nhanh. |
| Theo đề tài: Vè thế sự |
Vè muôn vật (cách trí), vè làng xóm, vè giáo huấn, vè than thân |
Phản ánh sinh hoạt hàng ngày, tệ nạn xã hội, kinh nghiệm tự nhiên, nỗi bất công của tầng lớp nghèo khó. |
| Theo đề tài: Vè lịch sử |
Vè kể chuyện nước, phong trào nông dân, vè chống thực dân Pháp |
Ghi lại các cuộc khởi nghĩa, nhân vật lịch sử; có phạm vi ảnh hưởng rộng lớn và sức sống lâu bền trong nhân dân. |
Chương 2: Nội dung vè Nam Bộ
Chương 2 là phần trọng tâm, khảo sát toàn diện nội dung các bài vè Nam Bộ theo ba mảng chủ đề chính:
1. Vè kể về muôn vật:
Phản ánh bức tranh thiên nhiên và sản vật của vùng đất Nam Bộ mới được khai phá hơn 300 năm, với địa bàn 19 tỉnh thành (phân chia thành Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ), hệ thống hơn 4.000 kênh rạch dài 5.700 km cùng bờ biển trải dài.
- Nông nghiệp lúa nước và hoa màu: Các bài Vè lúa miền Tây, Vè làm ruộng, Vè các thứ lúa miêu tả quá trình lao động khai phá đất bưng biền và các giống lúa đặc trưng (lúa nàng già, lúa nàng Điền).
- Trái cây và rau cỏ đặc sản: Vè trái cây, Vè rau phản ánh các sản vật gắn liền với đời sống miệt vườn như chuối già, xoài, mít ruột đỏ, bưởi Năm Roi, rau vấp cá, rau má đồng.
- Thế giới tôm cá và động vật: Vè cá, Vè cá biển, Vè cá tôm, Vè chim chóc, Vè cầm thú, Vè rắn thống kê phong phú các loài thủy sản nước ngọt và nước mặn (cá tra, cá sặt, cá chốt, cá thác lác, tôm cỏ, tôm càng, tôm bạc). Văn bản chỉ ra tính đa dạng của văn học dân gian qua việc đối chiếu ba dị bản vè cá của nghệ nhân ông Bùi, ông Rễ (TP. Hồ Chí Minh) và ông Hứa (Bến Tre).
- Ẩm thực và hàng hải: Vè bánh, Vè các món ăn tự hào giới thiệu đặc sản địa phương (mắm Châu Đốc, nem nướng Thủ Đức, bánh phồng Sa Đéc, gạo thơm Cần Đước); các bài Vè nhật trình hàng hải đi vào, Vè lưu thông đường ghe ghi lại mạng lưới giao thương thủy lợi nối liền Chợ Lớn với các tỉnh miền Tây.
- Vè đồng dao và nói dóc: Các bài vè trò chơi trẻ em (Bắc kim thang, Ông đi qua) và lối nói dóc, nói ngược (Vè nói 1) mang tính chất mua vui, rèn luyện tư duy cho thiếu nhi.
2. Vè thế sự:
Tập trung phản ánh quan hệ xã hội, tâm lý và nếp sống của cư dân khẩn hoang Nam Bộ mang bản tính trọng nghĩa khinh tài, thẳng thắn và tinh thần tương thân tương ái.
- Phê phán thói hư tật xấu và tệ nạn xã hội: Lên án thói lười biếng (Vè làm biếng so sánh với Vè chàng lười ở Bắc Bộ); phê phán nạn chửa hoang (Vè chửa hoang); đả kích sâu cay thói cờ bạc qua bài Vè các thiếm đánh bài giờ (kể chi tiết bi kịch của cô Thông X từ chỗ được chồng chiều chuộng sa vào tứ sắc, me, phé, rồi nói dối, cầm cố trang sức và bán rẻ phẩm hạnh); châm biếm tệ nghiện ngập trong Vè uống rượu, Vè say rượu.
- Bức tranh sinh hoạt, phong tục: Ghi lại cảnh lao động của người chăn vịt (Vè chăn vịt sử dụng các điển tích như Tào Tháo, Địch Thanh, Tề Thiên), thợ đi biển (Vè đi biển), cảnh chợ phiên (Vè chợ lục Tỉnh), phong tục Tết Nguyên Đán (Vè chợ tết, Vè tết), nghi thức đám cưới gồm sáu lễ truyền thống với sính lễ số chẵn (Vè đám cưới), cùng phong tục tang ma.
- Lên án cường hào và phản ánh tai ương xã hội: Đả kích thói dâm ô, hà lạm của công chức địa phương qua Vè ông xã, Vè tổng quyền; miêu tả chân thực thảm họa thiên tai hạn hán năm Mậu Ngũ 1858 (Vè hạn hán, Vè nắng hạn), trận bão năm Giáp Thìn (Vè bão năm thìn), nạn dịch (Vè dịch cúm), và cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1930 tại Đồng Tháp Mười (Vè kinh tế).
- Vè than thân của người lao động: Các bài Vè nghèo, Vè ở tù, Vè làm mướn, Vè ở mướn vạch trần chế độ sưu cao thuế nặng, nạn bắt lính, sự bóc lột tàn nhẫn của tầng lớp địa chủ, qua đó làm sáng tỏ ý thức phản kháng và phẩm giá "đói cho sạch, rách cho thơm" của người nghèo.
3. Vè kể chuyện nước:
Khắc họa các phong trào kháng chiến chống thực dân Pháp nửa sau thế kỷ XIX tại Nam Bộ:
- Vè đánh Tây (Hịch Quản Định): Ra đời trong phong trào khởi nghĩa Trương Định tại Gò Công, phản ánh quyết tâm chống giặc tới cùng của nhân dân sau khi triều đình ký Hiệp ước Nhâm Tuất 1862 ra lệnh bãi binh.
- Vè Quản Thành: Ghi lại cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa (Láng Linh - An Giang, 1867-1873) do Quản cơ Trần Văn Thành lãnh đạo; nhắc đến sự phối hợp chiến đấu của Thiên Hộ Dương (Võ Duy Dương) và Trương Định.
- Vè Cần vương: Văn bản xuất phát từ đạo binh Binh Gia Nghị của Quản cơ Thành, giương cao ngọn cờ trung quân ái quốc, kêu gọi nhân dân giữ vững đạo lý dân tộc và thẳng thừng kết tội những kẻ quy hàng tay sai.
Chương 3: Nghệ thuật vè Nam Bộ
Theo cấu trúc mục lục được công bố trong văn bản, Chương 3 tập trung làm rõ các đặc trưng nghệ thuật hình thức của vè Nam Bộ qua ba phương diện:
- Cách gieo vần: Khảo sát các hình thức gieo vần linh hoạt, chuỗi vần liền, vần lưng kết hợp vần chân trong các bài vè thể bốn chữ hoặc biến thể lục bát, giúp lời kể lưu loát, dễ truyền khẩu.
- Cách ngắt nhịp: Phân tích nhịp điệu dồn dập, gãy gọn, phổ biến là nhịp 2/2 ở thể bốn chữ hoặc nhịp 2/2/2, 4/4 ở thể lục bát, tạo âm hưởng dứt khoát như lời nói thường.
- Nghệ thuật diễn xướng: Trình bày phương thức thể hiện đặc trưng của vè Nam Bộ thông qua các hình thức "nói vè", hát như nói, kết hợp điệu bộ, gõ nhịp phách, hoặc gắn kết với lối "nói thơ Bạc Liêu", "nói thơ sắc bùa Phú Lễ", và lối "nói thơ Vân Tiên". Khóa luận nhấn mạnh nghệ thuật diễn xướng chính là yếu tố cốt lõi tạo nên linh hồn và sự phân biệt rõ nét giữa vè với ca dao, dân ca.
Kết quả và đóng góp
Công trình đạt được các kết quả nghiên cứu cụ thể dựa trên việc khảo sát tư liệu thực tế:
- Hệ thống hóa diện mạo vè Nam Bộ: Phân loại và khảo sát hệ thống tác phẩm phong phú gồm vè cách trí (lúa gạo, trái cây, hàng chục loài tôm cá, chim thú), vè sinh hoạt - thế sự, và vè lịch sử chống Pháp gắn liền với không gian địa lý 19 tỉnh thành Nam Bộ.
- Làm rõ tính chân thực lịch sử: Trích dẫn các bài vè phản ánh xác thực các mốc thời gian và sự kiện lịch sử có thật như cuộc tấn công của Pháp tại bán đảo Sơn Trà năm 1858, cuộc khởi nghĩa Trương Định (1862-1864), khởi nghĩa Bảy Thưa của Quản cơ Trần Văn Thành (1867-1873), trận bão năm Giáp Thìn, hay cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1930 tại Đồng Tháp Mười.
- Xác định giá trị nhân văn của vè than thân: Phân tích các bài vè ở mướn, làm mướn để chứng minh rằng tư tưởng cốt lõi của vè than thân Nam Bộ không chỉ dừng lại ở sự than vãn số phận mà còn là ý thức bảo vệ nhân phẩm và thái độ phản kháng sự áp bức bóc lột.
- Khẳng định vai trò của diễn xướng: Đóng góp luận điểm học thuật làm rõ sự thiếu khuyết của các công trình đi trước (như Nguyễn Văn Hầu) khi chưa đánh giá đúng tầm quan trọng của nghệ thuật diễn xướng trong việc định hình thi pháp thể loại vè.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Căn cứ vào phạm vi nghiên cứu do tác giả tự xác định, khóa luận chủ yếu dựa trên nguồn tư liệu văn bản đã được công bố trong tập sách Vè Nam Bộ của Huỳnh Ngọc Trảng (2006) và một số ấn phẩm sưu tầm địa phương, chưa có điều kiện triển khai khảo sát điền dã thực tế trên toàn bộ địa bàn 19 tỉnh thành Nam Bộ. Việc phân tích nghệ thuật diễn xướng ở một số mảng còn phụ thuộc vào mô tả tài liệu thứ cấp.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng phạm vi điền dã sưu tầm các biến thể vè dân gian còn lưu truyền trong trí nhớ của các nghệ nhân cao tuổi tại vùng sâu vùng xa Tây Nam Bộ; khảo sát sâu hơn sự giao thoa giữa nghệ thuật "nói vè" với nghệ thuật đờn ca tài tử và các điệu nói thơ truyền thống Nam Bộ.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên, giảng viên và học viên cao học thuộc các chuyên ngành Ngữ văn, Văn hóa học, Văn học dân gian Việt Nam và Lịch sử văn hóa Nam Bộ.
Những nội dung có giá trị tra cứu cao bao gồm:
- Bảng khảo sát ngữ liệu vè muôn vật và địa danh đường thủy Nam Bộ tại Chương 2.
- Phương pháp phân tích văn bản vè gắn liền với sự kiện lịch sử (phong trào kháng chiến của Trương Định, Quản cơ Trần Văn Thành).
- Tổng hợp các định nghĩa học thuật và các đặc trưng thi pháp của thể loại vè tại Chương 1.
Câu hỏi thường gặp
1. Vì sao tác giả cho rằng các tài liệu văn học sử trước đây chưa nhìn nhận đúng vị trí của thể loại vè?
Tác giả viện dẫn nhận định của học giả Nguyễn Văn Hầu để chỉ ra rằng các bộ văn học sử kinh điển xuất bản trước đây (như của Dương Quảng Hàm, Nguyễn Sĩ Đạo, Nghiêm Toản, Thanh Lãng) hầu như không bàn xét đến vè do quan niệm sai lầm, xem nhẹ tính thẩm mỹ của vè so với ca dao, tục ngữ, đồng thời giới nghiên cứu thời kỳ đầu tập trung chủ yếu vào văn học dân gian miền Bắc.
2. Vè Nam Bộ mang những đặc trưng thi pháp cơ bản nào theo phân tích của khóa luận?
Theo Chương 1, vè Nam Bộ sở hữu bốn đặc trưng cốt lõi: là thể loại tự sự dân gian bằng vần có cốt truyện và nhân vật; giàu tính trữ tình thông qua cảm xúc và nghệ thuật diễn xướng; nổi bật tính thời sự như một dạng "khẩu báo" phản ánh người thực việc thực; và mang đậm tính địa phương gắn liền với địa danh, thời gian cụ thể.
3. Khóa luận đối chiếu biến thể của các nghệ nhân nào khi phân tích mảng vè kể về tôm cá?
Trong mục khảo sát vè tôm cá (Chương 2), tác giả đã dẫn chứng và đối chiếu sự khác biệt trong cách đặt vè, ghép vần miêu tả các loài cá (cá chạch, cá sặt, cá đao, cá kèo, cá thu, cá thác lác, cá chốt, cá ngát) giữa ba nghệ nhân: bản kể của ông Bùi (TP. Hồ Chí Minh), ông Hứa (Bến Tre) và ông Rễ (TP. Hồ Chí Minh).
4. Mảng vè lịch sử ("Vè kể chuyện nước") phản ánh những nhân vật và phong trào kháng chiến chống Pháp tiêu biểu nào?
Chương 2 tập trung phân tích ba văn bản tiêu biểu: bài Vè đánh Tây (Hịch Quản Định) gắn với cuộc kháng chiến của Bình Tây đại tướng Trương Định (1862-1864); bài Vè Quản Thành và bài Vè Cần vương gắn liền với căn cứ Bảy Thưa và đạo binh Binh Gia Nghị của Quản cơ Trần Văn Thành tại An Giang (1867-1873), có nhắc đến tướng quân Võ Duy Dương (Thiên Hộ Dương).
5. Vè thế sự phản ánh những biến cố kinh tế - xã hội và thiên tai lịch sử nào tại Nam Bộ?
Văn bản ghi nhận các bài vè phản ánh biến cố có thật trong lịch sử: sự kiện thực dân Pháp tấn công bán đảo Sơn Trà kết hợp hạn hán năm Mậu Ngũ 1858 (Vè hạn hán), trận bão năm Giáp Thìn tàn phá nhà cửa (Vè bão năm thìn), nạn dịch cúm (Vè dịch cúm), và tác động nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1930 đến đời sống người dân vùng Đồng Tháp Mười (Vè kinh tế).
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Văn Khoa đã phục dựng một bức tranh tương đối hoàn chỉnh và chân thực về diện mạo vè dân gian Nam Bộ trên cả hai phương diện nội dung tư tưởng và đặc trưng thi pháp thể loại. Thông qua hệ thống ngữ liệu phong phú, công trình làm nổi bật tính chất "khẩu báo", tinh thần khẩn hoang quật khởi cùng nếp sinh hoạt văn hóa mộc mạc, trọng nghĩa khinh tài của cư dân vùng đất phương Nam. Đây là tài liệu chuyên khảo có giá trị tư liệu xác thực, đóng góp thiết thực cho công tác bảo tồn di sản văn hóa dân gian và hỗ trợ nghiên cứu văn học dân tộc.