mở đầu, có kết thúc; cũng có những tiểu thuyết có cấu trúc lỏng lẻo, lắp ghép, kết thúc mở - kết thúc bỏ ngỏ, không hoàn kết. Tất cả các dạng thức trên đều nhằm phân tích, lý giải những vấn đề phức tạp và bí ẩn của con người, cuộc sống đương đại. Cốt truyện tiểu thuyết từ những năm đổi mới đến nay, một mặt kế thừa những đặc trưng của cốt truyện truyền thống mặt khác đã tiếp cận một cách có chọn lọc những tinh hoa của tiểu thuyết hiện đại thế giới. Nghệ thuật đồng hiện, những độc thoại nội tâm, dòng ý thức, lắp ghép, nghệ thuật Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ gián cách, đa giọng điệu.
đã được tiểu thuyết thời kỳ này vận dụng một cách linh hoạt. Nhiều tác giả đã đổi mới tư duy, tìm một hướng đi mới trong sáng tạo thể loại: Ma Văn Kháng, Tạ Duy Anh, Dương Hướng, Hồ Anh Thái, Bảo Ninh. Ở các tiểu thuyết Chim én bay, Ăn mày dĩ vãng.tác giả đã sử dụng cấu trúc đồng hiện trong tác phẩm. Ở đó, quá khứ và hiện tại được đan xen trong cốt truyện.
Tiểu thuyết được viết một cách tự nhiên, không bị ràng buộc bởi thi pháp truyền thống. Có nhiều tiểu thuyết giai đoạn này được tạo dựng từ các mảnh cốt truyện, các mảnh tâm trạng không theo trình tự thời gian mà theo ý đồ sáng tạo của tác giả. Làm nên tác phẩm không thể thiếu nhân vật. Nhân vật văn học thể hiện quan niệm của nhà văn về con người.
Tiểu thuyết ngoài khả năng tái hiện bức tranh toàn cảnh xã hội còn đi sâu khám phá số phận con người. Nếu như văn học giai đoạn 1945 -1975 nhìn con người dưới góc độ cộng đồng dám xả thân vì nghĩa lớn, tìm thấy ý nghĩa cuộc đời trong sự gắn bó với cộng đồng. Đến văn học thời kỳ đổi mới lại là giai đoạn chuyển biến từ tư duy sử thi sang tư duy tiểu thuyết, từ cảm hứng lịch sử dân tộc sang cảm hứng thế sự đời tư. Vì thế, tiểu thuyết quan tâm đến số phận con người trước những va đập của chiến tranh.
Nhiều cuốn tiểu thuyết đã hướng tới miêu tả số phận những con người bình thường với những bi kịch của đời họ. Trong văn học đổi mới vấn đề con người cá nhân được các nhà văn quan tâm hàng đầu. Đó không phải là con người của chủ nghĩa cá nhân, của cái tôi cực đoan, không chịu sự tác động của xã hội như trước kia. Mà ở đây, số phận cá nhân được giải quyết một cách thoả đáng trong mối liên hệ mật thiết với cộng đồng, xã hội.
Đằng sau mỗi cá thể là những vấn đề mang ý nghĩa của thời đại. Tiểu thuyết thời kỳ này, đề cập đến khát vọng sống, về hạnh phúc cá nhân, về tình yêu đôi lứa. Các tác giả đã khai thác con người tự nhiên trước nhu cầu của hạnh phúc đời thường, của cuộc sống riêng tư. Khi con người trở về với cuộc sống đời thường, trong hàng loạt tác phẩm của Lê Lựu, Chu Lai, Ma Văn Kháng, Dương Hướng, Nguyễn Khắc Trường.
các nhà văn đã thể hiện được sự gắn bó giữa sự nghiệp chung với hạnh phúc riêng, giữa con người cá nhân và con người xã hội. Các cây bút tiểu Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ thuyết ấy đã đi sâu khám phá thế giới nội tâm của con người. Ở đó, các tác giả đã đi sâu vào thế giới bên trong đầy bí ẩn và phức tạp của con người. Tiểu thuyết từ sau đổi mới đã quan niệm con người cá nhân như một nhân cách kiểu mới.
Các nhà văn đã nhận diện con người đích thực với nhiều kiểu dáng nhân vật, biểu hiện phong phú và đa dạng, có sự kết hợp hài hoà giữa con người tự nhiên và con người xã hội. Ngôn ngữ là phương tiện, chất liệu để xây dựng nên tác phẩm văn học. Ngôn ngữ tiểu thuyết là ngôn ngữ gần với đời sống, ẩn chứa những đặc trưng của thể loại: Tính văn xuôi, tính tổng hợp, tính đa thanh. Xoá bỏ khoảng cách sử thi, tiểu thuyết miêu tả hiện thực như cái hiện tại đương thời của người trần thuật, với cách nhìn nhân vật như những con người bình thường.
Do yêu cầu cá thể hoá cao độ ngôn ngữ nhân vật nên tiểu thuyết thâu nạp các dạng thức khác nhau của nhiều tầng lớp trong xã hội. Nhà văn được giải phóng khỏi sự lệ thuộc vào một ngôn ngữ duy nhất mà có thể hoán vị ngôn ngữ của nhà văn và ngôn ngữ nhân vật. Miêu tả cuộc đời như nó vốn có, ngôn ngữ tiểu thuyết không chỉ được soi sáng bởi ngôn ngữ tác giả mà còn được soi sáng bởi ngôn ngữ nhân vật. Tính đối thoại nội tại là một yếu tố cơ bản trong ngôn ngữ tiểu thuyết.
Ngôn ngữ tiểu thuyết không bao giờ thoả mãn với một ý thức, một tiếng nói mà luôn mang tính đa thanh. Ngôn ngữ người kể chuyện, ngôn ngữ nhân vật tạo nên giá trị nghệ thuât của tác phẩm qua đối thoại. Nhờ đối thoại mà các vấn đề trong tác phẩm được xem xét, thể hiện dưới những điểm nhìn khác nhau. Ngôn ngữ đối thoại trong tác phẩm thường tạo ra những tình huống bất ngờ và cảm giác thực của đời sống qua lăng kính chủ quan của nhà văn.
Bên cạnh đối thoại, độc thoại nội tâm trở thành một thủ pháp nghệ thuật có hiệu quả trong quá trình tự ý thức của nhân vật, đi sâu vào thế giới nội tâm bí ẩn của nhân vật. Bên cạnh đó là bút pháp trào lộng, giễu nhại. Dường như càng về sau sự xuất hiện của bút pháp này càng nhiều trong tiểu thuyết đương đại. Có thể nói, Thời xa vắng (Lê Lựu), Thiên sứ (Phạm Thị Hoà), Thượng đế thì cười (Nguyễn Khải).
là những tác phẩm sử dụng bút pháp trào lộng, giễu nhại thành công. Góp phần làm nên gương mặt của tiểu thuyết đương đại cũng phải kể đến bút pháp phúng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ dụ, huyền thoại. Đây là bút pháp nghệ thuật được rất nhiều nhà tiểu thuyết thời kỳ này sử dụng. Sự có mặt của bút pháp này vừa giúp nhà văn đi sâu hơn vào thế giới hiện thực vừa tạo ra sự lạ hoá để thu hút người đọc đem đến cho họ nhiều cảm xúc mới mẻ về một hiện thực đầy nghiệt ngã và phức tạp qua những huyền thoại giàu chất tưởng tượng.
Từ đó, người đọc có cái nhìn đa dạng, nhiều chiều về đời sống hiện thực. Nhìn từ góc độ khác, tiểu thuyết thời kỳ này đã tiếp cận vấn đề đạo đức một cách tối đa. Từ khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, đời sống xã hội biến đổi nhanh chóng, vấn đề đạo đức của con người đang bị xuống cấp. Với thiên chức của mình – là ngọn nguồn nuôi dưỡng, là phương tiện giáo dục con người, văn chương đã góp phần thức tỉnh lương tri, nâng đỡ tâm hồn, hướng con người tới Chân – Thiện – Mỹ.
Và lẽ dĩ nhiên, không thể dửng dưng đứng ngoài cuộc, tiểu thuyết sau 1975 thâm nhập vào cuộc sống con người. Trên hành trình tìm kiếm đạo đức, nhân cách mới cho con người hôm nay và mai sau thì việc đặt con người trong các mối quan hệ đạo đức xã hội là điều cần thiết. Tiểu thuyết hôm nay đã hướng vào việc phản ánh mặt trái của những con người phi nhân tính, đánh mất đạo lý. Thấp thoáng ở đó, người đọc tìm thấy những mảnh đời, những số phận được tái tạo mang chiều sâu triết lý nhân sinh cụ thể mà phổ quát.
Tiểu thuyết thời kỳ đổi mới hoà nhập để phản ánh chân thực, gần gũi những vấn đề mà các nhà văn trăn trở. Ở đó, các tác giả đặt ra nhu cầu về ý thức, trách nhiệm lương tri trước những biến động ghê gớm của các chuẩn mực giá trị đạo đức, góp phần làm cuộc sống hoàn thiện, tốt đẹp hơn. Hàng loạt các tác phẩm như: Thời xa vắng, Chuyện làng cuội, Hai nhà, Thời loạn của (Lê Lựu); Mùa lá rụng trong vườn (Ma Văn Kháng); Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường). Cùng với đó là sự góp mặt của truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Huy Thiệp.Từ đó, giúp người đọc nhận thấy đời sống xã hội không còn là một chiều, giản đơn, dễ hiểu mà chúng luôn biến chuyển phức tạp, nhiều chiều.
Bằng trách nhiệm của người cầm bút, các nhà văn đã đưa ngòi bút của mình len lỏi tới những ngõ ngách của đời sống xã hội để viết lên những mặt tiêu cực, những mảnh đời đau khổ, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ những cảnh đời éo le, những tấn bi hài kịch của con người. Thực tế xã hội Việt Nam những năm sau đổi mới có nhiều phức tạp, nhiều biến động. Con người bị cuốn theo cuộc sống xô bồ, hỗn độn. Trong đó có một bộ phận không nhỏ bị chi phối bởi sức mạnh của đồng tiền, vì lợi ích cá nhân, gia đình, dòng tộc.
Tiểu thuyết thời kỳ đổi mới thể hiện sự nhạy bén về tư duy nghệ thuật trong việc nhận thức thực trạng suy thoái, sự băng hoại về đạo đức, nhân cách con người. Nhờ vậy, tiểu thuyết đã đáp ứng được những yêu cầu của văn học giai đoạn đổi mới. Như vậy với những đổi mới, cách tân trên, ta có thể khẳng định rằng tiểu thuyết đã thực sự trở thành nhân vật chính trên sân khấu văn học hiện đại. Sở dĩ chúng tôi muốn luận giải một cách khái lược về tiểu thuyết Việt Nam đương đại là bởi nhà văn Lê Lựu luôn nằm trong guồng quay hối hả đó.
Với sự miệt mài, dẻo dai cày xới trên cánh đồng văn chương, chữ nghĩa, ông đã gặt hái được nhiều thành quả đáng kính phục. Đúng như lời nhận xét của nhà phê bình Bùi Việt Thắng: “Nếu như nhà văn Nguyễn Minh Châu được tấn phong là “người mở đường tinh anh” cho đổi mới văn học Việt Nam sau 1975 thì Lê Lựu tôi sẽ gọi ông là “người lính xung kích” trong trận đánh mở đường ngoạn mục đổi mới văn chương đương đại Việt Nam. Người lính xung kích thường hi sinh nhiều hơn đồng đội của mình. Lê Lựu là như thế!” (Lê Lựu, người lính xung kích trong trận đánh mở đường ngoạn mục).
Đội ngũ nhà văn viết tiểu thuyết. Xuất phát từ yêu cầu của công cuộc đổi mới, ở thời kỳ này các nhà tiểu thuyết đã ý thức được vai trò, sứ mệnh của mình nên họ ra sức sáng tạo để khẳng định mình.