Chương 1 ĐẠI CƯƠNG VÈ TIÉNG VIỆT Mờ đầu Việt Nam là một quốc gia nhiều dân tộc. Theo số liệu thống kê, nước ta có 54 dân tộc. Trong đó dân tộc Việt (cỏn gọi là dàn tộc Kinh) có số dân CU' đông đúc nhất. Các dân tộc khác có số lượng ít hơn, nhưng tắt cả đều đã sinh sống lâu đời trên đất nước Việt Nam và hợp thành đại gia đình các dân tộc Việt Nam.
Mỗi dân tộc có một tiếng nói riêng. Không có dân tộc nào lại không có tiếng nói. Mỗi tiếng nói dân tộc là một trong n h rn g nét đặc trưng của dân tộc đó. Người Mường nói tiếng Mường, người Thái nói tiếng Thái, người Chăm nói tiếng Chăm, người Ê - đê nói tiếng Ể - đẻ.
Ngôn ngữ của dân tộc trước hết dùng để giao tiếp trong nội bộ các dân tộc, đồng thời ngôn ngữ mỗi dân tộc còn là chất liệu, là phương tiện để sáng tạo nên những giá trị văn hóa, những câu ca, những truyện kể, những câu thành ngữ, tục ngữ và nói chung là các tác phẩm văn chương cùa từng dân tộc. Tiếng Việt là ngôn ngữ cùa dân tộc Việt (dân tộc Kinh). Nhưng đã từ lâu, do những điều kiện về địa lí, về k'nh tế, về lịch sử - xã hội, các dân tộc chung sống trên lãnh thổ Việt Nam luôn cỏ những mối quan hệ gắn bc với nhau (có khi còn hoà huyết trong một gia đình) giao lưu thường xuyêr với nhau. Và tiếng Việt đã được dùng làm phương tiện chung để giao tiếp giữa những người thuộc dân tộc Việt với những người thuộc các dân tộc khác, và cả những người thuộc các dân tộc khác với nhau.
Tiếng Việt đã trờ thành tiếng phổ thông của tất cả các dân tộc chung sống trên lãnh thổ Việt Nam. Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay, nước ta đã giành được độc lập, tiếng Việt cỏn đảm nhận một vai trò mới và cỏ một vị trí mới. 11 Tiếng Việt (và cả chữ Việt - chữ Quốc ngữ) trờ thành ngôn ngữ quốc gia chinh thức. Nó vẫn tiếp tục.
là ngôn ngữ của dân tộc Việt, là tiếng nói phổ thông của tất cả các dân tộc sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam, nhưng nó còn đỏng vai trò là ngôn ngữ quốc gia được sử dụng chinh thức ờ tất cả các lĩnh vực của cuộc sống xã hội. Trong nhà trường, tiếng Việt được dùng làm công cụ để dạy và học ờ tất cả các cấp học (từ mầm non, mẫu giáo đến bậc cao học) ờ tất cà các ngành học, ờ tất cả các vùng miền và đối với tất cả các dân tộc. Trong lĩnh vực khoa học công nghệ, tiếng Việt là phương tiện để nghiên cứu, truyền bá, trao đổi và lưu trữ các kết quả, các thành tựu. ở các lĩnh vực khác như bác chí, truyền thông đại chúng, kinh tế, quân sự tổ chức và quản |[ hành chính từ trung ương đến cấp CO' sở đều dùng tiếng Việt làm ngôn ngữ quốc gia chính thức.
Kẻ cả lĩnh vực ngoại giao, tiếng Việt cũng được dùng làm ngôn ngữ chính thức của Nhà nước Việt Nam. Tiếng Việt đã vươn lên và trờ thành một ngôn ngữ tiên tiến, hiện đại đảm nhận vai trò của một ngôn ngữ quốc gia. Đối với học sinh, sinh viên nhất là sinh viên ngành Ngữ văn, thi tiếng Việt cần được nhìn nhận từ hai phương diện chính yếu: - Tiếng Việt là tài sản quý báu của dân tộc, là chất liệu quý giá của nghệ thuật văn chương. Muốn tìm hiểu văn chương, khám phá các giá trị của văn chương, hơn nữa muốn bồi dưỡng năng lực cảm xúc và thẩm định văn chương, sáng tạo văn chương không thể không có những kiến thức và kỹ năng về tiếng Việt, c ỏ thể nói ờ phương diện này, tiếng Việt là ngôn ngữ - đối tượng của khoa học Ngữ văn.
- Tiếng Việt là công cụ để học tập, để tiếp nhận, nâng-cac kiến thức, trao đổi kiến thức. Ngôn ngữ nói chung và tiếng Việt nói riêng vốn có bản chất là công cụ của nhận thức, tư duy và phương tiện để giao tiếp trong xã hội. Mọi thành tựu tư duy, nhận thức của nhân loại và của dân tộc đều được lưu trữ và truyền đạt bằng ngôn ngữ (nói cũng như viết). Muốn tiếp nhận những thành tựu đó, muốn nâng cao và phát triển chúng mà đó chính 12 là một trong những mục đích cao cả của việc học tập thi cũng phải dùng đến ngôn ngữ, đến tiếng nói.
Nói cách khác, trong nhà trường cùa ta hiện nay, chinh tiếng Việt lả công cụ cùa các hoạt động dạy và học. c ỏ nắm vững thứ công cụ nảy (tiếng Việt) mới có thể nắm vững những kiến thức và kỹ năng trong các môn học. Ở phương diện này, tiếng Việt lả ngôn ngữ - công cụ cùa học sinh, sinh viên. Cần có những hiểu biết về tiếng Việt để nâng cao nhận thức và cảm xúc thẩm mĩ, và để nắm vững tiếng Việt, sử dụng tốt tiếng Việt trong học tập, làm việc.
Trong chương trình Ngữ văn cùa các trường Cao đẳng Sư phạm, chúng ta bắt đầu bằng một sổ tri thức đại cương, toàn cục về tiếng Việt: nguồn gốc, quan hệ họ hàng, sự phát triển lịch sử, đặc điểm loại hình và chữ viết của tiếng Việt. Sau đó sẽ đi vào các bộ phận hợp thành của nỏ: ngữ àm, từ vựng, ngữ pháp và các phong cách chức năng. NGUÒN GỐC VÀ S ự PHÁT TRIỂN LỊCH s ử CỦA TIÉNG VIỆT 1. Giàn yếu về quan hệ nguồn góc trong ngôn ngữ Trong lịch sử phát triển của ngôn ngữ, ở vào một thừi điểm nhất định, một ngôn ngữ có thể dần dần chia tách thành nhiều ngôn ngữ.
Các ngôn ngữ đó càng ngày càng xa cách nhau và trờ thánh các ngôn ngữ độc lập, nhưng vẫn còn lưu giữ được các vết tích giống nhau do được tách ra từ cùng một ngôn ngữ gốc. Ngôn ngữ gốc được gọi là ngôn ngữ mẹ, các ngôn ngữ cùng một ngôn ngữ mẹ tạo thành một họ ngôn ngữ hay một ngữ hệ Quan hệ giữa các ngôn ngữ cùng một họ và quan hệ giữa chúng vả ngôn ngữ mẹ gọi là quan hệ nguồn gốc. Ngôn ngữ học ngày nay đâ xác định được nhiều họ ngôn ngữ trên thế giới và phân loại các ngôn ngữ theo mối quan hệ họ hàng, nguồn gốc đó. Tiêu chi xác định - Tiêu chí ngữ âm.
Khi chia tách thành các ngôn ngữ, mặt ngữ ảm của ngôn ngữ mẹ cũng dần dần biến đổi trong các ngôn ngữ cùng họ, nhưng là 13 sự biến đổi có quy luật, theo những mối quan hệ hệ thống. Ngay ở một ngôn ngữ, trải qua quá trình phát triển lịch sử, mặt ngữ âm có những biến đổi, nhưng luôn biến đổi theo một quy luật nhất định. Chẳng hạn, tiếng Việt cổ có phụ âm kép ml-, hiện nay âm này đã nhất loạt chuyển thành âm nh- trong phương ngữ Bắc Bộ, và thành âm I- trong phương ngữ Bắc Trung Bộ và Nam Bộ. So sánh: Tiếng Việt cổ Tiếng Bắc Bộ Tiếng Trung Bộ, Nam Bộ mlói nhời lời mlỡ nhỡ lỡ mlải nhài Lài mlát nhát Lát Khi một ngõn ngữ mẹ chia tách thành các ngôn ngữ khác nhau thi ờ các ngôn ngữ khác nhau đó vẫn tim thấy những sự tương ứng, những mổi quan hệ có tính quy luật trong sự phân hoá ngữ âm.
Ví dụ tiếng Việt và tiếng Mường là hai ngôn ngữ độc lập ngày nay nhưng cùng một gốc, nên nhiều từ tương ứng về nghĩa có sự khác biệt đều đặn về ngữ âm, như cặp /t / và / tl / trong các từ sau: Việt: trứng, Irèo, trà, tre,. Mường: nấng, tlèo, tlả, tie,. hoặc cặp /y/ và /k/ trong các từ sau: Việt: gà, gạo, góc, gái,. Mường: ka, kắu, kôk, kắy,.
hoặc cặp /m / và /b / trong các từ sau: Việt: mắm, muối, măng, may,. Mường: bằm, bói, băng, băi,. 14 - Tiêu chi từ vựng-ngữ nghĩa. Quan trọng nhất là lớp từ cơ bản, nghĩa là lớp từ đã hình thành từ xa xưa, biểu hiện những nội dung, những đối tượng, những khái niệm thiểt yếu nhất trong cuộc sống cùa con người.
Ví dụ: các từ gọi tên các bộ phận cơ thể người, các từ chì các hoạt động sinh sống của con người, các từ chỉ người trong gia đình, các từ chỉ các vật thể và hiện tượng trong thiên nhiên, các từ chỉ màu sắc, các từ chỉ tên các con vật, .Các từ này cần thiết cho nhận thức, tư duy và giao tiếp đối với mọi người, ở mọi nơi, mọi lúc. Cần so sánh, đối chiếu những từ như vậy cả về mặt âm thanh và ý nghĩa để rút ra những sự giống nhau và khác nhau theo quy luật của chúng. Vi dụ: Việt Mường Chứt Môn Khơ-me nước dak dak dak tuk tóc thak usuk sok sof tay thai si tai day Ở ví dụ này, các từ cùng một hàng ngang thuộc về các ngôn ngữ ngày nay là khác nhau, nhưng chúng vẫn có quan hệ tương đương về nghĩa và cá về âm thanh. Chẳng hạn, ỡ hảng thứ nhất, các từ đều có nghĩa là nước, đều có cấu tạo âm thanh tương ứng: là một âm tiết gồm âm đầu, âm chính, âm cuối.
Cần tránh dựa vào các từ cảm thán, các từ tượng thanh (dễ cỏ sự trùng âm ngẫu nhiên vì các từ này đều cấu tạo theo nguyên tắc mô phòng âm thanh tự nhiên), các thuật ngữ khoa học, hoặc các từ biểu hiện những khái niệm cùa cuộc sống hiện đại, văn minh (các từ này do vay mượn nên rất dễ giống nhau). - Tiêu chi ngữ pháp: Các hiện tượng ngữ pháp, các phạm trù ngữ pháp, các hình thức ngữ pháp,. Các sự tương ứng về ngữ pháp rất có giá trị để xác định quan hệ nguồn gốc, vì lĩnh vực ngữ pháp thường ổn định, có tính bảo thù và các ngôn ngữ ít có sự vay mượn về ngữ pháp. Vi 15 dụ tiếng Anh vả tiếng Đức có quan hệ họ hàng gần gũi nên cỏ những sự tương ứng về hình thức ngữ pháp như: Tiếng Anh Tiếng Đức sing - sang - sung sing - sang - gesungen drink - drank - drunk trink - trank - getrunken sink - sank - sunk sink - sank - gesunken /i/ - Ix l - / a / /1/ - /a/ - lu l Như thế trong sự phân loại các ngôn ngữ theo nguồn gốc và xác định nguồn gốc của các ngôn ngữ luôn luôn sử dụng phương pháp so sánh lịch sử.
M ột số ngữ hệ (họ ngôn ngữ) trên thế giới Mỗi ngữ hệ bao gồm một số dòng ngôn ngữ, mỗi dòng ngôn ngữ lại bao gồm một số nhánh ngôn ngữ và mỗi nhánh bao gồm một số ngôn ngữ.