CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Xác định khái niệm xưng hô “Xưng hô (hay xưng gọi) là thuật ngữ dùng để “tự gọi tên mình” (xưng) và “gọi tên người khác” (hô) khi nói với nhau để biểu thị tính chất của mối quan hệ.” [6,61] Nói cách khác xưng là một hành động tự gọi mình là gì đó khi nói chuyện hay giao tiếp với người khác, hô là một hành động gọi người khác là gì đó khi nói chuyện hay giao tiếp với mình. Có giao tiếp là bắt buộc phải có xưng hô. Xưng hô có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc thiết lập quan hệ liên cá nhân và xác định thái độ, tình cảm giữa các vai giao tiếp.
Hành động xưng hô chỉ diễn ra trong cuộc thoại và một người có thể (và thường) thực hiện cả hai hành động: Xưng (tự qui chiếu đến mình) và hô (qui chiếu đến người đối thoại). Các vấn đề văn hoá và ngôn ngữ liên quan đến đề tài 1. Mối liên quan giữa văn hoá và ngôn ngữ Trong quá trình phát triển, mỗi dân tộc đều sáng tạo nên một nền văn hoá và một ngôn ngữ của riêng mình. Văn hóa của một dân tộc là cái riêng, cái duy nhất của dân tộc đó.
Nền văn hoá của một dân tộc tuy trừu tượng, vô hình nhưng lại rất cụ thể, trường tồn và gắn liền với dân tộc đó. Nó lắng đọng trong mỗi con người và thể hiện ra ngoài trong cách tư duy, cách nhìn nhận thế giới khách quan, trong lối sống, phong cách ứng xử, trong giao tiếp, sự nhận diện bản thân, hành động cảm xúc…của mỗi con người. Các cá nhân trong cùng một cộng đồng có cách tư duy và ứng xử giống nhau. Các dân tộc khác nhau có 15 cách tư duy và ứng xử khác nhau.
Sự giống và khác nhau trong phong cách ứng xử và lối tư duy của mỗi dân tộc được dân tộc khác nhận biết chủ yếu qua ngôn ngữ. Ngôn ngữ của một dân tộc là phương tiện phục vụ và phản ánh đầy đủ và đúng đắn nền văn hoá của dân tộc, đồng thời tàng trữ và lưu truyền các giá trị văn hoá của dân tộc đó. Qua ngôn ngữ nói, con người thực hiện những cuộc giao tiếp thành công. Qua ngôn ngữ viết, con người có thể chuyển tải những thông tin đến với nhau và lưu truyền văn hoá từ đời này sang đời khác.
Khi tham gia hoạt động giao lưu văn hoá, người biết bản ngữ sẽ có chìa khoá mở cửa gia tài văn hoá và sẽ thuận lợi trong việc hiểu văn hoá của người bản ngữ nơi mà họ đến. Muốn đi sâu vào nghiên cứu ngôn ngữ phải có hiểu biết về văn hóa và muốn nghiên cứu sâu về văn hóa của một vùng phải sử dụng ngôn ngữ của vùng đó thành thạo. Ngôn ngữ còn có tác động đến sự phát triển của văn hoá dân tộc và ngược lại, sự phát triển của văn hoá dân tộc sẽ thúc đẩy sự tiến bộ trong ngôn ngữ. Sự biến đổi và phát triển ngôn ngữ luôn đi song song với biến đổi và phát triển văn hóa.
Do vậy, ngôn ngữ và văn hoá có mối quan hệ hữu cơ với nhau. Mối quan hệ này có thể được biểu hiện ra bên ngoài thành những phương tiện vật chất cụ thể, nhưng cũng có thể biểu hiện qua một mối quan hệ bên trong, được hình thành từ một trong những chức năng quan trọng nhất của ngôn ngữ, đó là chức năng tư duy. Không có ngôn ngữ, con người không thể tư duy, mọi hoạt động tư duy của con người đều được thực hiện bằng ngôn ngữ. Người ta nói rằng ngôn ngữ và văn tự là kết tinh của văn hóa dân tộc.
Nhờ ngôn ngữ và văn tự mà văn hoá được lưu truyền và phát triển từ thế hệ này sang thế hệ khác. Ngôn ngữ không phải chỉ là âm thanh hay chữ viết. Ngôn ngữ là những âm thanh và chữ viết có ý nghĩa. Ý 16 nghĩa của ngôn ngữ không phải là những gì chung chung và bất biến, ý nghĩa bao giờ cũng gắn liền với một ngữ cảnh trong đó có một người nói/viết, một hoặc nhiều người nghe/đọc, trong một không khí nhất định và với những quan hệ xã hội, tình cảm và mục đích giao tiếp nhất định.
Và nếu ý nghĩa bao giờ cũng gắn liền với ngữ cảnh thì, theo D. Hymes, “Chìa khóa để hiểu ngôn ngữ trong ngữ cảnh là phải bắt đầu không phải với ngôn ngữ mà là với ngữ cảnh”[68,xix]. Ngữ cảnh, hiểu theo nghĩa rộng, chính là văn hóa. Theo Ănghen, “nhờ có lao động và đồng thời với lao động là ngôn ngữ” mà con người trở thành “con người xã hội” và từ đó con người tạo tiếp những tiền đề chủ quan và khách quan để làm hình thành cho mình đối tượng văn hoá.
Tuy nhiên, văn hoá là một thiết chế xã hội, ngôn ngữ cũng là một thiết chế xã hội, giá trị nhận thức có được về chúng bao giờ cũng bị quy định bởi tính ước lệ vốn được tạo ra bởi một cộng đồng xã hội xác định, gắn với một trạng thái không gian và thời gian xác định. Ðiều này càng được thể hiện rõ ràng trong trường hợp tiếp xúc văn hóa mà hai bên (khác dân tộc, khác quốc gia) có bối cảnh văn hóa khác nhau. Thông thường thì trình độ sử dụng một ngoại ngữ (khả năng nghe, nói, đọc, viết; mà nghe là quan trọng nhất) được quyết định bằng hai yếu tố: Sự am hiểu về ngoại ngữ đó và sự hiểu biết về kiến thức văn hóa trong bối cảnh của ngoại ngữ đó. Khi một người đã nắm được đầy đủ những kiến thức ngôn ngữ mà vẫn không giải thích thỏa đáng được ngoại ngữ là vì họ không có đủ kiến thức về bối cảnh của ngôn ngữ đó.
Những khác biệt về văn hoá luôn gây khó khăn trong giao tiếp cho những người không phải là bản ngữ. Do sự khác biệt về óc thẩm mỹ, cách suy tư, quan niệm giá trị, đặc trưng tâm lý và tập quán của từng dân tộc, cách giải thích và diễn đạt cùng một sự 17 vật cũng sẽ khác nhau cho nên có khó khăn hoặc có khi dẫn tới sự hiểu lầm trong tiếp xúc. Vì thế, “học một nền văn hoá thứ hai thường là một phần trong việc học ngôn ngữ thứ hai”[64,242]. Với kiến thức ngôn ngữ, con người có thể giao tiếp với nhau, nhưng không có kiến thức văn hoá, sự giao tiếp sẽ không phải lúc nào cũng thành công, bởi vì rất dễ có sự hiểu lầm.
Điều này có thể xảy ra khi từ được dùng có những nghĩa khác nhau. Khác biệt về ngữ nghĩa gây ít nhiều khó khăn trong giao tiếp đối với những người thuộc những nền văn hoá khác nhau. Sapir cho rằng: “Ngôn ngữ được định sẵn. Người nói một ngôn ngữ thì thuộc một chủng tộc hay một nhóm người có những đặc trưng cơ hữu khác với nhóm người khác.
Cá nhân trong một cộng đồng học nghĩa của từ - thể hiện qua ngôn ngữ trong tiếng mẹ đẻ - qua cách nghĩ của một nhóm người trong xã hội nơi họ sinh trưởng. Trong thực tế, người sử dụng cùng một ngôn ngữ vẫn có thể hiểu lầm nhau nếu họ thuộc những nền văn hoá khác nhau nhưng nếu sở hữu chung một ngôn ngữ thì sẽ có thuận lợi hơn trong hiểu biết về văn hoá lẫn nhau. Ví dụ hai chủng tộc có nền văn hoá tương tự nhau, nhưng ngôn ngữ rất khác nhau, chẳng hạn như Trung quốc và Việt Nam lại dễ hiểu nhau. Điều này cho thấy rằng ngôn ngữ và văn hoá có liên quan chặt chẽ với nhau.
Văn hoá là những gì mà xã hội nghĩ và thực hiện, còn ngôn ngữ là phương tiện để diễn đạt ý tưởng. Nếu thiếu một yếu tố, việc hiểu biết yếu tố còn lại sẽ trở nên khó khăn. Thực tế cuộc sống cho thấy ngôn ngữ và văn hoá không nhất thiết phải có mối tương liên với nhau, nhưng nội dung của ngôn ngữ có quan hệ mật thiết đến văn hoá. Rõ ràng, yếu tố văn hoá có vai trò rất quan trọng trong giao tiếp ngôn ngữ.
Như vậy, quá trình học một thứ tiếng nước ngoài cần thiết phải bao gồm 2 nội dung cơ bản: học các kiến thức về ngôn ngữ đó 18 đồng thời thực hành để hình thành và phát triển đến thuần thục thói quen sử dụng các kiến thức ngôn ngữ, vật liệu ngôn ngữ để thể hiện tư tưởng, tình cảm trong các tình huống giao tiếp khác nhau. Trong việc học ngoại ngữ, chắc chắn người học phải học những quy luật văn phạm, cấu trúc, từ vựng… của ngôn ngữ. Khi giao tiếng bằng tiếng nước ngoài, người sử dụng không chỉ cần chú ý về mặt ngữ pháp mà còn phải tìm hiểu cả nét đặc trưng văn hóa thể hiện trong ngôn ngữ đó. Phá vỡ quy luật ngữ pháp làm cho người đối thoại không hiểu trong một số trường hợp, nhưng sẽ nghiêm trọng hơn nếu họ phá vỡ quy luật sử dụng trong xã hội của ngôn ngữ đó.
Vì vậy, để có thể sử dụng thành thạo, học viên khi học một tiếng nước ngoài cần phải được học các hiện tượng văn hoá nước ngoài, coi việc nắm vững nền văn hoá, nắm bắt thế giới tinh thần của cộng đồng nói thứ tiếng mình học thông qua sự hiểu biết các giá trị văn hoá đã được hình thành trong ngoại ngữ đó là mục đích chính của việc học ngoại ngữ. Người học một ngôn ngữ phải biết nói gì trong những tình huống gặp phải, nói như thế nào và những gì không nên nói, tức là khi học người học cũng còn phải học cả quy luật sử dụng trong xã hội của ngôn ngữ đó. Khả năng này biểu hiện năng lực giao tiếp bằng ngôn ngữ đã học được của người học. Trong khi giao tiếp với người bản ngữ, nếu người học không biết hay phá vỡ quy luật sử dụng trong xã hội sẽ bị người bản ngữ hiểu lầm thành một nghĩa khác, khác với ý của người nói muốn nói.
Sự hiều sai nghĩa này không vì sự khác biệt về ngôn ngữ mà là do sự khác biệt về văn hoá. Những trường hợp hiểu sai nghĩa này thường xảy ra đối với người học ngôn ngữ thứ hai vì nó liên hệ với cảm xúc trong người học, vì không chỉ ngôn ngữ khác nhau từ cộng đồng này sang cộng đồng khác mà quy ước xã hội trong những 19 nền văn hoá khác nhau cũng khác nhau. Lỗi xảy ra là do người nói chỉ lo chuyển tải ngôn ngữ mà không tính đến sự khác biệt về văn hóa giữa hai ngôn ngữ.