Chương 1 Buổi đầu của lịch sử Triều Tiên Triều Tiên là một trong những quốc gia cổ xứa nhât trên thế giới. Tên của Triều Tiên bắt nguồn từ triều dại Koryỏ (Cao Ly) đã cai trị vùng đất này như là một vương quốc thông nhất từ năm 936 đến năm 1392. Tên khác của Triều Tiên, Chosốn (Triều Tiên cổ), được biết một cách phổ biến ở phương Tây là "Vùng đất buểi sáng yên tĩnh", bắt nguồn từ vương quốc m à‘triều đại nhà Yi (Lý) thiết lập năm 1392 và cai trị cho tới năm 1910. Đât đai, K hí hậu, và Con người Bốì cảnh địa lý Bán đảo Triều Tiên nhô ra hướng nam từ đại lục châu Á hướng về quần đảo Nhật Bản dài khoảng 999,2km, rộng 215,6km ở điểm hẹp nhất và 241,3km ở điểm rộng nhất.
Bán đảo Triều Tiên nằm giữa 33° và 43° vĩ độ Bắc, và từ 124° tới 131° kinh độ.765km2 một chút, hơi lớn hơn bang Minnesota, và nhỏ hơn vương quốc Anh một chút. Nó được biển Nhcật Bản (biển Đông), sông Hoàng Hà (biển Tây) và eo biển Triều Tiên bao quanh. Triều Tiên cũng có ba nước bao quanh: Liên bang Xô Viết ở bên kia hạ nguồn sông Tumen (Đcậu Mãn giang), Nhật Bản đối diện với biển Nhật Bản và eo biển Triều Tiên, Vcà Trung Quốc đối diện với biển Vàng về phía Tây và sông Yalu (Áp Lục giang) và Tumen (Đậu 11 Giới thiệu Lịch sử và Văn hóa Bán đảo Triều Tiên Mãn giang) về phía bắc. Một vị trí địa lý như thế đã có những hàm ý văn hóa và chính trị sâu xa suốt nhiều thời kỳ.
Trong khi giữ vai trò cầu nối cho sự truyền đạt văn hóa từ châu Á tới Nhật Bản, chính bán đảo Triều Tiên đã trở thành một đốì tượng cạnh tranh giữa Trung Quốc, Nhật Bản và Nga trong cuối thế kỷ thứ XIX và dầu thế kỷ thứ XX. trung quốc Thượng HàB^ BIỂN ĐÔNG V nR: £• TRUNGQUỐC Yanei/. f)( Okinana THÁI BÌNH DƯƠNG HONTÌ I. KONG í ^ÀILOAN V, BIỂN NAM TRUNG Bản đồ 1.
TRIỀU TIÊN Ở GIỮA ĐÔNG Á 12 Giới thiệu Lịch sử và Văn hóa Bán đảo Triều Tiên Đất đai Triều Tiên là quốc gia có nhiều đồi núi. Khoảng 66% khu vực đât đai gồm có đá gơ nai (một loại đá thô biến chất) và đá granit. Những khu vực này được kết hợp với hoạt động núi lửa thời tiền sử, đáy biển bị đẩy lên đã tạo nên phong cảnh lởm chởm của Triều Tiên mà chúng ta biết ngày nay. vẻ đẹp thô kệch nhưng ngoạn mục của vùng đất này đã khiến người Triều Tiên gọi quê hương của mình là kìímsu kangsan, hay "các con sông và những ngọn núi được thêu dệt bằng tơ lụa".
Dãy núi Changbaek và các nhánh của nó trải ra một khu vực rất rộng gồm cả phía đông nam Mãn Châu (Manchuria) và phía bắc Triều Tiên. Ngọn núi cao nhất trong dãy núi này là núi Paektu (núi Đầu Trắng cao 2.742m), trên đỉnh của ngọn núi là một hồ lớn trên miệng núi lửa đã tắt, núi Paektu là nguồn của cả sông Yalu (Áp lục giang) lẫn sông Turnen (Đậu Mãn giang). Phía nam của dãy núi Changbaek là bôn dãy núi lởm chởm chiếm phần lớn các vùng phía bắc của bán đảo. Nối liền bốn dãy núi này, các cao nguyên Kaema và Pujón tạo thành "mái nhà" của Triều Tiên.
Dãy núi T'aebaek tạo thành xương sông của bán đảo, từ mép phía nam của cao nguyên Pujón, chạy dài hâu hêt cả chiều dài của bán đảo, song song với bờ biên phía đông. Nằm ở trong dãy nùi này là các ngọn núi ngoạn niục như núi Kủmgang (núi Kim cương, cao 1.706,1m) và nủi T'aebaek (cao 1. Từ dãy núi T'aebaek, nhiều dãy núi mở rộng các chi nhánh về hướng tây. Một trong những dãy núi này là dãy Sobaek ở phía tây nam Triều Tiên, núi Chiri (cap 1.
13 Giới thiệu Lịch sử và Văn hóa Bán đảo Triều Tiên Trong khi bờ biển phía đông (trừ phần đông bắc) thường có dải đâ't ven bờ bằng phẳng với các khu vực bờ biển cực kỳ hẹp, các bờ biển phía tây và phía nam có đặc điểm là các vùng đất thâp và các dải đất ven bò' cực kỳ lồi lõm gồ ghề có nhiều vịnh và lạch. Một vài vịnh, bến tàu, và các khu vực bờ biển rộng hơn nằm dọc theo bờ biển đông bắc. Phần lớn trong sô" 3400 hòn đảo của Triều Tiên nằm ở gần bờ biển phía tây và phía nam. Trong số các hòn đảo chính có đảo Kojedo (Cự Tế đảo) ở ngoài khơi bờ biển đông nam, đảo Chindo và Wando ở ngoài khơi bờ biển tây nam, đảo Kanghwado và Yongjongdo gần đảo Inch'on (Nhân Xuyên) trên bờ biển trung tây.
Hòn đảo lớn nhâ't Triều Tiên, Chejudo (Tế Châu đảo) nằm cách xa bờ biển phía nam khoảng 160,9km. Vị trí cao nhất của hòn đảo là núi Halla (1.949,8m), một ngọn núi lửa đã tắt. Đảo Ullũngdo (Uất lăng đảo) và Tokto nằm về phía biển Nhật Bản. Gần như bô"n con sông lớn chảy về hướng tây vào biển Vàng: sông Yalu (Áp Lục giang), sông Ch'õngch'õn (Thanh Xu vén giang) và súng Taedong (Đại Đồng giang) ở pina bac; sóng Imjin (Lãm lán giang) và sông Han (Hàn giang) ở trung tâm; và sông Kũm ở phía tây nam.
Sông Turnen (Turnan - Đậu Khẩu giang) và sông Sõngch'õn (Thành Xuyên giang) ở phía bắc chảy vào biển Nhật Bản; sông Naktong (Lạc Đông giang) và Sõmịin ở phía nam chảy về hướng nam vào eo biên Triều Tiên. Triều Tiên chỉ có khoảng 22% đâ"t đai có thể trồng trọt được và đa số đất trồng trọt được nằm ở các vùng phía tây và phía nam. Các đồng bằng lớn nằm ở vùng tây bắc dọc theo con sông Ch'õngch'õn và sông Taedong; các đồng bằng ở vùng trung tây dọc theo sông Imjin (Lâm tân 14 Giới thiệu Lịch sử và Văn hóa Bán đảo Triều Tiên giang)/ sông Han (Hàn giang) và sông Kum; các đồng bằng ở vùng phía nam dọc theo sông Naktong và sông Sömjin. Khí hậu Triều Tiên ôn hòa, có bốn mùa rõ rệt.
Mùa xuân thường bắt đầu vào đầu tháng ba, kèm theo là các làn gió ấm từ phía nam và kéo dài cho tới giữa tháng sáu có lượng mưa nhẹ đều đặn. Mùa hè, mùa nóng và ẩm ướt, bắt đầu vào cuôì tháng sáu vì mùa mưa thường kéo dài cho tới cuối tháng bảy. Trong mùa mưa, nhiệt độ vẫn còn tương đối mát mẻ, nhưng theo sau thời kỳ đó nhiệt độ có thể lên cao tới 35°c ở miền nam và 29,4°c ở miền bắc. Lượng mưa hàng năm thay đổi từ khoảng 0,94mm ở miền bắc tới hơn 2,364mm ở miền nam.
Mùa thu được một thi sĩ cổ đại cho là "mùa của bầu trời cao và các con ngựa mập mạp", mùa thu thường bắt đầu khoảng giữa tháng chm và chấm dứt cuối tháng mười một. Mùa thu là mùa có nhiều màu sắc nhất và nó cũng là thời gian bận rộn nhất của tất cả nông dân Triều Tiên. Mùa đông bắt đầu khoảng giữa tháng chạp và kéo dài cho tới cuối tháng hai. Tháng giêng là tháng lạnh nhât, nhiệt độ giảm xuông tới -14,4°c ở miền bắc.
Do ảnh hưởng của các biển chung quanh, khí hậu mùa đông ở miền nam không khắc nghiệt. Nhiệt độ trung bình tháng giêng ở Seoul là -4,4°c và ở Pusan là 2,3°c. Dù đôi khi mưa tụyết to ở miền bắc, nhưng mưa tuyêt thường nhẹ ở nửa bán đảo phía nam và các khu vực cực bắc chỉ có mưa tuyêt rât nhẹ hay không có mưa tuyết. Họ động vật và hệ thực vật của Triều Tiên bao gồm các loài cận nhiệt đới, ôn hòa và giá rét, khí hậu bán nhiệt đới chiêm ưu thê trên hòn đảo Cheju.
về mặt dân tộc học, người Triều Tiên thuộc về gia đình các chủng tộc Turkic, Tungusic và Mông Cô. Dù con người thuộc thời kỳ dồ dá cũ bắt nguồn từ Triều 15 Giới thiệu Lịch sử và Văn hóa Bán đảo Triều Tiên Tiên, nhưng người ta tin rằng các dân tộc thuộc thời kỳ đồ đá mới, trong tiến trình lịch sử lâu dài, được hợp nhất lại với nhau giống như họ đã kết hợp với các nhóm sắc tộc mới đến Triều Tiên sau này, cuối cùng trở thành các tổ tiên của người Triều Tiên hiện nay. Trong số các dãn tộc thời kỳ đồ đá mới và những người đến trễ có các bộ lạc Tungusic như Kaema (Koma), Ye (Uế), Maek (Mạch) và Puyõ (Phù dư), đã di cư tới bán đảo này từ vùng núi Altai cũng như từ phía đông bắc Trung Quốc qua Siberia, Mông Cổ và Mãn Châu, đem theo các nền văn hóa thời kỳ đồ đá mới, ngôn ngữ Ural - Altai chap dính và đa âm tiết, tôn giáo Saman và một nền văn hóa đồ gốm đặc biệt. Các nền vãn hóa Tiền sử Thời kỳ tiền sử của Triều Tiên trải dài hàng ngàn thế kỷ từ khoảng năm 50.000 TCN tới 300 TCN Một số người tin rằng thời kỳ tiền sử đã bắt đầu cách nay hơn 400.
Thời kỳ tiền lịch sử này gồm có thời kỳ đồ đa cũ, thơi kỳ đồ đá mơi, thơi kỳ đồ đồng và thời kỳ đồ Sell, mni thơi kỳ đều có mót mô hình văn hóa xã hội đặc biệt của riêng nó. Nền v ăn h óa thời kỳ đồ đá CÜ Một loạt khai quật khảo cổ dược thực hiện ở Triều Tiên sau năm 1963 đã đưa ra nhiều bằng chứng cho thấy nền văn hóa thời kỳ đồ đá cũ của Triều Tiên phát triển ở góc dông bac của bán đảo và trải dài về hướng nam. Nhiều dịa diêm văn hóa thời kỳ đồ dá cũ, có từ năm 50.000 TCN đã được khai quật. Bằng chứng cho thấy ở thời kỳ đồ đá cũ đầu tiên, con người sống hầu hết trong cắc hang đá dọc theo dải đất ven bờ và các bờ sông, sau đó xây dựng hồ" sâu có hình 16 Giới thiệu Lịch sử và Văn hóa Bán đảo Triều Tiên dáng tròn làm chỗ ở.
Trong số các hang động của thời kỳ đồ đá cũ có hang dộng Kõmũnmoru và hang động Chồmmal. Các công cụ bằng đá thô sơ được tìm thấy từ các địa điểm này như rìu, các dao bầu bằng thạch anh, dao, những dụng cụ có mũi nhọn, cái nạo có cạnh và cây lao móc. Khám phá các hóa thạch của linh cẩu, voi, tê giác và khỉ không còn được tìm thấy ở Triều Tiên cho biết rằng khí hậu trong thời kỳ đồ đá cũ ấm hơn khí hậu ngày nay. Lò sưởi được khám phá một địa điểm nhà ở dẫn tới kết luận là lửa được con người thời kỳ đồ đá cũ sử dụng vừa để nấu ăn vừa để sưởi ấm.
Một trong những tầng đất trên của địa điểm Sốkchang-ni được ước tính là 30.690 năm, và than được đào lên từ lò sưởi ở địa điểm này đã tồn tại từ 20.