mở đầu của thơ hiện đại đúng nghĩa” [17, tr. Ba bài viết trên cho thấy các tác giả đã tiếp cận vấn đề từ nhiều góc độ khác nhau, góp phần làm phong phú thêm những kiến giải về khuynh hướng thơ tượng trưng Việt Nam. Giai đoạn từ sau năm 1975, viết về mối quan hệ giữa văn học Pháp và văn học Việt Nam không chỉ có những bài báo, tiểu luận mà còn có những chuyên luận được đầu tư công phu, khoa học như Văn học hiện đại - Văn học Việt Nam, giao lưu, gặp gỡ (1994) của Trần Thị Mai Nhi và Phác thảo quan hệ văn học Pháp với văn học hiện đại Việt Nam (1998) của Hoàng Nhân. Cả hai chuyên luận tuy có cách giải quyết vấn đề khác nhau nhưng cùng chung mục đích khẳng định văn học hiện đại Việt Nam đã tiếp biến văn học Pháp, trong đó có thơ tượng trưng.
Theo Trần Thị Mai Nhi: "Hàn Mặc Tử, Bích Khê, Thế Lữ và nhiều nhà Thơ mới Việt Nam không hoàn toàn là những người theo chủ nghĩa lãng mạn mà đã bước tới ngưỡng cửa của thơ hiện đại, đã tới gần chủ nghĩa tượng trưng của Baudelaire. Gần Baudelaire ở chỗ đến cả những khách thể xấu, ác như sọ người, xác thịt, xương khô, máu xương, máu trào, tinh huyết, như người say rượu, kẻ ăn mày đều cũng có thể có chất thơ. Không phải chỉ thiên đường, mà cả địa ngục đều có thi vị" [100, tr. Các nhà Thơ mới đã tiếp thu quan niệm thẩm mỹ của C.
Baudelaire, biến cái Ác, cái xấu xa, phi đạo đức thành cái Đẹp. Họ còn bị ám ảnh kiểu tư duy "tương hợp" của C. Baudelaire: "Huy Cận không chỉ thấy sự hòa hợp giữa hương thơm và màu sắc. Xuân Diệu thấy "khúc nhạc thơm".
Bích Khê thấy điệu nhạc "mát như xuân mà ngọt tợ hương" [100, tr. Trần Thị Mai Nhi còn ghi nhận không ít nhà Thơ mới đã tiếp thu lối viết tiềm thức, trực giác, phi lý tính của A. Rimbaud, hay học tập S. Mallarmé sáng tạo ra thứ ngôn ngữ như những câu thần chú.
Hoàng Nhân thì cho rằng: Trong quá trình va chạm với văn hóa, văn học Pháp, các nhà thơ hiện đại Việt Nam đã tiếp thu "có tính chất tổng hợp các khuynh hướng văn học cuối thế kỉ XIX đến thế kỉ XX như chủ nghĩa tượng trưng, nghệ thuật vị nghệ thuật, chủ nghĩa ấn tượng, chủ nghĩa siêu thực. Các nhà thơ như Vũ Đình Liên, Nguyễn Xuân Sanh, Xuân Diệu ít nhiều đều chịu ảnh hưởng thơ tượng trưng; đặc biệt Xuân Diệu. "Với Baudelaire, tôi (Xuân Diệu - ND) đi toàn vẹn vào tính chất hiện đại của thơ" [99, tr. Mặc dù không luận bàn sâu khuynh hướng thơ tượng trưng Việt Nam nhưng Hoàng Nhân đã cung cấp những tri thức quan trọng giúp độc giả hình dung ra con đường du nhập của các trường phái văn học Pháp vào Việt Nam.
17 Trong các công trình nghiên cứu về Thơ mới được đánh giá cao, theo chúng tôi ngoài cuốn Thi nhân Việt Nam (Hoài Thanh - Hoài Chân) phải kể đến Mắt thơ (2000) của Đỗ Lai Thúy. Bằng lối phê bình phong cách học và thi pháp học, Đỗ Lai Thúy mang đến một góc nhìn khác về phong trào Thơ mới nói chung và sự tiếp nhận thơ tượng trưng Pháp của các nhà Thơ mới nói riêng. Trước đây, nhiều người thường đánh đồng Thơ mới với thơ lãng mạn nhưng thực tế không phải như vậy, "Thơ mới là một vận động của tư duy thơ Việt Nam từ Lãng mạn (với những thi sĩ lớp đầu như Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Phạm Huy Thông.) đến nửa Tượng trưng (lớp trung gồm Xuân Diệu, Huy Cận, Vũ Hoàng Chương.) và tượng trưng (Đinh Hùng, Bích Khê), rồi chớm sang Siêu thực (Hàn Mặc Tử)" [137, tr. Mặc dù tiếp thu các trường phái văn học Pháp song "Thơ mới chưa thể có một sự phân hóa triệt để thành các trường phái như ở phương Tây.
Các yếu tố (lãng mạn, tượng trưng, siêu thực) thì đậm, mà chủ nghĩa (Lãng mạn, Tượng trưng, Siêu thực) thì nhạt, có khi mới định hướng mà chưa định hình. Hơn nữa, các trường thơ này không xuất hiện nối tiếp nhau, nhất là vào những năm cuối, mà gối tiếp nhau, đôi khi đồng thời, xoắn luyến, kiểu con chị chưa đi, con dì đã lớn. Nhận diện các trường thơ ta khó là vì vậy" [137, tr. Từ những nhận định mang tính khái quát, soi chiếu vào một số gương mặt tiêu biểu của phong trào Thơ mới, Đỗ Lai Thúy nhận ra "nếu Xuân Diệu, và nhất là Huy Cận, là dòng lãng mạn được cườm vào những yếu tố tượng trưng, còn Đinh Hùng, Bích Khê chủ yếu là tượng trưng, thì Hàn Mặc Tử là sự hòa sắc của cả lãng mạn lẫn tượng trưng, thậm chí siêu thực nữa" [137, tr.
Xuân Thu Nhã Tập cũng hiện diện "với tư cách là một trường hợp thơ Tượng trưng". Tuy các tác phẩm mà nhóm này để lại cho đời không nhiều nhưng có những bài thơ được xem là tuyệt tác và thấm đẫm màu sắc tượng trưng chủ nghĩa, nhất là thi phẩm "Màu thời gian (1939 - 1940) của họ Đoàn là tượng đài đầu tiên và tiêu biểu cho nàng thơ Tượng trưng của Việt Nam" [137, tr. Năm 2000, Nguyễn Đăng Mạnh cho in cuốn Giáo trình Lịch sử văn học Việt Nam 1930 - 1945, trong đó có nghiên cứu về phong trào Thơ mới. Theo Nguyễn Đăng Mạnh: Từ 1936 đến 1939, "Thơ mới phát triển phong phú với nhiều phong cách đa dạng (.
Nó vận dụng một cách phổ biến kinh nghiệm của thơ tượng trưng của Pháp, đặc biệt là của Baudelaire, Verlaine. Xét ra đây cũng là sự gặp gỡ thú vị giữa Đông và Tây, kim và cổ" [90, tr. Điều này thể hiện rõ trong thơ Xuân Diệu,"ông chịu khó thâu tóm tinh hoa của Đông Tây kim cổ để tạo nên sức mạnh cho thơ mình" [90, tr. Tiếp biến thơ tượng trưng nhưng Xuân Diệu có chọn lọc.
"Ông chịu ảnh hưởng 18 sâu sắc thơ Baudelaire, Verlaine (.) nhưng Xuân Diệu không chịu được những nhà thơ tượng trưng cực đoan như Mallarmé, Valéry, với những vần thơ quá bí hiểm. Vì trước sau Xuân Diệu vẫn là nhà thơ của niềm khát khao giao cảm với đời. Ông rất cần đại chúng hiểu mình, yêu mình, nhớ mình" [90, tr. Ngược lại, "Nguyễn Xuân Sanh thì tìm đến lối thơ bí hiểm học theo ông thầy Mallarmé" [90, tr.
Không dừng lại khảo cứu các hiện tượng thơ riêng lẻ như nhiều nhà lý luận, phê bình từng làm; Mã Giang Lân đã ra mắt chuyên luận Tiến trình thơ hiện đại Việt Nam (2001) kéo dài một thế kỉ. Ở chuyên luận này, tác giả tập trung lý giải sự vận động của thơ Việt Nam qua năm giai đoạn (nửa đầu thế kỉ XX, 1945 - 1954, 1954 - 1964, 1964 - 1975, và sau năm 1975) trên một số vấn đề cơ bản như: mối quan hệ giữa văn học và đời sống, sự chuyển biến của các nhà thơ, khuynh hướng thơ, sự phát triển các thể loại, truyền thống và cách tân.; trong đó có bàn đến sự tiếp nhận thơ tượng trưng Pháp ở hai giai đoạn trước năm 1945 và sau năm 1975. Giai đoạn trước năm 1945, Mã Giang Lân tán đồng ý kiến của những người đi trước khi cho rằng: "Những yếu tố tượng trưng siêu thực đã thể hiện rõ, đậm đặc trong thơ Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Bích Khê (.) và tạo nên nét khác biệt giữa nhóm các nhà thơ này với các nhà lãng mạn cùng thời" [79, tr. Càng về sau (1940 - 1945), các nhà Thơ mới càng "coi trọng học tập các nền thơ lớn trên thế giới, đặc biệt là thơ Pháp với các tên tuổi như S.131] nhằm mục đích đưa nền thơ dân tộc lên ngang tầm với thế giới.
Tuy nhiên, những ước muốn tốt đẹp đó "chỉ đưa đến tìm tòi những cảm giác lạ, những hình ảnh kì quái, những cách diễn đạt rối rắm chỉ gây ra "dị ứng" ở người đọc" [79, tr. Dẫu vậy, không thể phủ nhận, thơ tượng trưng có một sức sống khá bền bỉ. "Trong những năm gần đây, ở Việt Nam xuất hiện một số tập thơ theo xu hướng này như Ba sáu bài tình (Lê Đạt - Dương Tường), Ngựa biển, Người đi tìm mặt (Hoàng Hưng), Bến lạ, Ô mai (Đặng Đình Hưng), Bóng chữ (Lê Đạt). Đặc biệt, "nhiều nhà thơ trẻ hiện nay đã có ý thức đưa thơ đến vô thức, tiềm thức, tâm linh, vận dụng những yếu tố tượng trưng siêu thực.
tạo cho thơ khả năng biểu hiện những cảm giác mơ hồ thuộc tầng sâu của tâm hồn con người" [79, tr. Mã Giang Lân đã chỉ ra những ưu/ nhược điểm của khuynh hương thơ tượng trưng, siêu thực; từ đó, đưa ra lời khuyên: "Chúng ta không nên nặng lòng với chúng nhưng cũng phải thực sự cầu thị, khách quan tiếp thu những phần nào có thể có ích để làm phong phú thơ, để đưa thơ đến những miền xa, miền sâu tạo cho thơ một tiếng nói kì diệu nối xưa và nay, nối hư và thực. 19 Trong Những thế giới nghệ thuật thơ (2001), Trần Đình Sử có những kiến giải thú vị về thơ tượng trưng, cũng như sự ảnh hưởng của nó đối với Thơ mới. Ông cho rằng: "Thơ tượng trưng là một hiện tượng khác hẳn thơ cổ điển và đặc biệt là thơ lãng mạn, đồng thời có ảnh hưởng sâu rộng tới thơ ca toàn thế giới" [121, tr.60], trong đó có Việt Nam, cụ thể là phong trào Thơ mới.
"Vào hậu kì phong trào này xuất hiện một ít tác giả có màu sắc tượng trưng như Bích Khê, Đinh Hùng" [121, tr.59], còn "Thơ mới chủ yếu là thơ lãng mạn" [121, tr. Các nhà Thơ mới tuy đã tiếp xúc với thi phái tượng trưng Pháp nhưng "chỉ học một vài thủ pháp" nên họ không phải là những thi sĩ tượng trưng chính hiệu. "Bởi lẽ, họ chưa thể có cảm xúc suy đồi (. Nhà Thơ mới lúc đó chưa nhìn thấu được mặt trái của xã hội tư sản để có thể như Bôđơle nhìn thấy đĩ thỏa, rắn độc, bò cạp, đầu lâu, xác thối.
Họ chưa thất vọng sâu sắc để nhìn đâu cũng thấy trống rỗng như Manlacmê" [121, tr. Những thi sĩ như Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, theo Trần Đình Sử, "trước sau vẫn là lãng mạn". Đến Bích Khê đã có bước chuyển biến, thi nhân "muốn vượt lên một chặng đường mới của thơ" bằng cách tiếp thu các quan niệm nghệ thuật hiện đại của châu Âu. "Bích Khê muốn tạo ra một thứ vàng ròng, thuần túy từ câu, chữ, từ trang giấy, từ các yếu tố, tâm hồn (.
Tuy vậy, đó là tìm tòi trong hình thức nhạc điệu, câu chữ, thể hiện ít nhiều vô thức nhưng hồn thơ Bích Khê căn bản vẫn là thơ lãng mạn" [121, tr.