Luận Án Tiến Sĩ Về Khuynh Hướng Thơ Tượng Trưng Trong Văn Học Việt Nam Hiện Đại

Luận án tiến sĩ văn học Việt Nam phân tích khuynh hướng thơ tượng trưng trong nền văn học hiện đại, làm rõ đặc điểm và giá trị nghệ thuật.

Trường đại học

Đại học Huế

Chuyên ngành

Văn học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2016

156
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1.1. Lý do chọn đề tài

1.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1. Đối tượng nghiên cứu

1.3.2. Phạm vi nghiên cứu

1.4. Phương pháp nghiên cứu

1.5. Đóng góp khoa học của luận án

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

1.1.1. Giai đoạn trước năm 1945

1.1.2. Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1975

2. CHƯƠNG 2: THƠ TƯỢNG TRƯNG - MỘT CHI LƯU TRONG THƠ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI

3. CHƯƠNG 3: KHUYNH HƯỚNG THƠ TƯỢNG TRƯNG VIỆT NAM HIỆN ĐẠI NHÌN TỪ QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ THƠ, THẾ GIỚI VÀ CON NGƯỜI

4. CHƯƠNG 4: KHUYNH HƯỚNG THƠ TƯỢNG TRƯNG VIỆT NAM HIỆN ĐẠI NHÌN TỪ BIỂU TƯỢNG, NGÔN NGỮ VÀ NHẠC ĐIỆU

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Thơ tượng trưng và sự hình thành trong văn học Việt Nam

Thơ tượng trưng xuất hiện từ thế kỷ XIX tại Pháp, tạo nên một làn sóng mạnh mẽ trong văn đàn. Văn học Việt Nam hiện đại đã tiếp nhận và biến đổi khuynh hướng văn học này, tạo nên một dòng chảy riêng. Khám phá văn học về thơ tượng trưng cho thấy sự ảnh hưởng sâu sắc từ phương Tây, đồng thời kết hợp với truyền thống thi ca dân tộc. Văn học hiện đại Việt Nam đã chứng kiến sự phát triển của tác phẩm thơ mang đậm dấu ấn tượng trưng, từ Bích Khê đến Xuân Diệu. Nghệ thuật thơ tượng trưng không chỉ là sự kế thừa mà còn là sự sáng tạo, làm phong phú thêm diện mạo thơ ca Việt Nam.

1.1. Nguồn gốc và sự lan tỏa của thơ tượng trưng

Thơ tượng trưng bắt nguồn từ Pháp, nơi nó được coi là một trào lưu văn học tiên phong. Văn học Việt Nam đã tiếp nhận dòng thơ này vào những năm 40 của thế kỷ XX, tạo nên một khuynh hướng văn học mới. Khám phá văn học về sự lan tỏa của thơ tượng trưng cho thấy nó không chỉ ảnh hưởng đến thơ ca mà còn đến các loại hình nghệ thuật khác như âm nhạc và hội họa. Văn học hiện đại Việt Nam đã chứng kiến sự hòa nhập của tác phẩm thơ tượng trưng với các trào lưu khác như lãng mạn và siêu thực. Nghệ thuật thơ tượng trưng đã góp phần làm thay đổi hệ hình tư duy thơ ca dân tộc.

1.2. Sự tiếp biến và phát triển trong thơ Việt Nam

Thơ tượng trưng đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển trong Văn học Việt Nam, từ thời kỳ đầu tiếp nhận đến sự hòa nhập với các trào lưu khác. Khám phá văn học về sự tiếp biến này cho thấy các nhà thơ như Xuân Diệu, Huy Cận, và Hàn Mặc Tử đã kết hợp khuynh hướng văn học tượng trưng với phong cách riêng của mình. Văn học hiện đại Việt Nam đã chứng kiến sự đa dạng trong tác phẩm thơ, từ những bài thơ thuần túy tượng trưng đến những tác phẩm kết hợp với lãng mạn và siêu thực. Nghệ thuật thơ tượng trưng đã góp phần làm phong phú thêm ngôn ngữ và biểu tượng trong thơ ca Việt Nam.

II. Đặc trưng thẩm mỹ và thi học của thơ tượng trưng

Thơ tượng trưng mang đậm dấu ấn của chủ đề thơ bí ẩn và sâu sắc, khám phá những góc khuất của tâm hồn con người. Văn học Việt Nam đã tiếp nhận và phát triển khuynh hướng văn học này, tạo nên những tác phẩm thơ độc đáo. Khám phá văn học về biểu tượng trong thơ cho thấy sự sáng tạo trong việc sử dụng ngôn ngữ và hình ảnh. Văn học hiện đại Việt Nam đã chứng kiến sự phát triển của nghệ thuật thơ tượng trưng, từ việc sử dụng nhạc điệu đến cách xây dựng biểu tượng. Tác giả thơ tượng trưng như Bích Khê và Xuân Diệu đã để lại dấu ấn sâu sắc trong lịch sử thơ ca Việt Nam.

2.1. Chủ đề và biểu tượng trong thơ tượng trưng

Chủ đề thơ trong thơ tượng trưng thường xoay quanh những vấn đề bí ẩn và sâu sắc của tâm hồn con người. Văn học Việt Nam đã tiếp nhận và phát triển khuynh hướng văn học này, tạo nên những tác phẩm thơ độc đáo. Khám phá văn học về biểu tượng trong thơ cho thấy sự sáng tạo trong việc sử dụng ngôn ngữ và hình ảnh. Văn học hiện đại Việt Nam đã chứng kiến sự phát triển của nghệ thuật thơ tượng trưng, từ việc sử dụng nhạc điệu đến cách xây dựng biểu tượng. Tác giả thơ tượng trưng như Bích Khê và Xuân Diệu đã để lại dấu ấn sâu sắc trong lịch sử thơ ca Việt Nam.

2.2. Ngôn ngữ và nhạc điệu trong thơ tượng trưng

Ngôn ngữnhạc điệu là hai yếu tố quan trọng trong thơ tượng trưng, tạo nên sự hấp dẫn và độc đáo cho tác phẩm thơ. Văn học Việt Nam đã tiếp nhận và phát triển khuynh hướng văn học này, tạo nên những bài thơ giàu tính nhạc và hình ảnh. Khám phá văn học về nghệ thuật thơ tượng trưng cho thấy sự sáng tạo trong việc sử dụng ngôn ngữ và nhạc điệu. Văn học hiện đại Việt Nam đã chứng kiến sự phát triển của tác giả thơ tượng trưng, từ việc sử dụng nhạc điệu đến cách xây dựng biểu tượng. Biểu tượng trong thơ đã góp phần làm phong phú thêm ngôn ngữ và hình ảnh trong thơ ca Việt Nam.

III. Ảnh hưởng và đóng góp của thơ tượng trưng trong văn học Việt Nam

Thơ tượng trưng đã có ảnh hưởng sâu sắc đến Văn học Việt Nam, đặc biệt là trong việc thay đổi hệ hình tư duy thơ ca. Khám phá văn học về khuynh hướng văn học này cho thấy sự đóng góp của các tác giả thơ tượng trưng như Bích Khê, Xuân Diệu, và Hàn Mặc Tử. Văn học hiện đại Việt Nam đã chứng kiến sự phát triển của tác phẩm thơ mang đậm dấu ấn tượng trưng, từ những bài thơ thuần túy tượng trưng đến những tác phẩm kết hợp với lãng mạn và siêu thực. Nghệ thuật thơ tượng trưng đã góp phần làm phong phú thêm ngôn ngữ và biểu tượng trong thơ ca Việt Nam.

3.1. Ảnh hưởng đến các nhà thơ Việt Nam

Thơ tượng trưng đã ảnh hưởng sâu sắc đến các tác giả thơ tượng trưng trong Văn học Việt Nam, từ Bích Khê đến Xuân Diệu. Khám phá văn học về khuynh hướng văn học này cho thấy sự đa dạng trong cách tiếp nhận và sáng tạo của các nhà thơ. Văn học hiện đại Việt Nam đã chứng kiến sự phát triển của tác phẩm thơ mang đậm dấu ấn tượng trưng, từ những bài thơ thuần túy tượng trưng đến những tác phẩm kết hợp với lãng mạn và siêu thực. Nghệ thuật thơ tượng trưng đã góp phần làm phong phú thêm ngôn ngữ và biểu tượng trong thơ ca Việt Nam.

3.2. Đóng góp vào sự phát triển của thơ ca Việt Nam

Thơ tượng trưng đã có những đóng góp quan trọng vào sự phát triển của Văn học Việt Nam, đặc biệt là trong việc thay đổi hệ hình tư duy thơ ca. Khám phá văn học về khuynh hướng văn học này cho thấy sự đa dạng trong tác phẩm thơ, từ những bài thơ thuần túy tượng trưng đến những tác phẩm kết hợp với lãng mạn và siêu thực. Văn học hiện đại Việt Nam đã chứng kiến sự phát triển của nghệ thuật thơ tượng trưng, từ việc sử dụng nhạc điệu đến cách xây dựng biểu tượng. Tác giả thơ tượng trưng như Bích Khê và Xuân Diệu đã để lại dấu ấn sâu sắc trong lịch sử thơ ca Việt Nam.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ văn học việt nam khuynh hướng thơ tượng trưng việt nam hiện đại

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu của thơ hiện đại đúng nghĩa” [17, tr. Ba bài viết trên cho thấy các tác giả đã tiếp cận vấn đề từ nhiều góc độ khác nhau, góp phần làm phong phú thêm những kiến giải về khuynh hướng thơ tượng trưng Việt Nam. Giai đoạn từ sau năm 1975, viết về mối quan hệ giữa văn học Pháp và văn học Việt Nam không chỉ có những bài báo, tiểu luận mà còn có những chuyên luận được đầu tư công phu, khoa học như Văn học hiện đại - Văn học Việt Nam, giao lưu, gặp gỡ (1994) của Trần Thị Mai Nhi và Phác thảo quan hệ văn học Pháp với văn học hiện đại Việt Nam (1998) của Hoàng Nhân. Cả hai chuyên luận tuy có cách giải quyết vấn đề khác nhau nhưng cùng chung mục đích khẳng định văn học hiện đại Việt Nam đã tiếp biến văn học Pháp, trong đó có thơ tượng trưng.

Theo Trần Thị Mai Nhi: "Hàn Mặc Tử, Bích Khê, Thế Lữ và nhiều nhà Thơ mới Việt Nam không hoàn toàn là những người theo chủ nghĩa lãng mạn mà đã bước tới ngưỡng cửa của thơ hiện đại, đã tới gần chủ nghĩa tượng trưng của Baudelaire. Gần Baudelaire ở chỗ đến cả những khách thể xấu, ác như sọ người, xác thịt, xương khô, máu xương, máu trào, tinh huyết, như người say rượu, kẻ ăn mày đều cũng có thể có chất thơ. Không phải chỉ thiên đường, mà cả địa ngục đều có thi vị" [100, tr. Các nhà Thơ mới đã tiếp thu quan niệm thẩm mỹ của C.

Baudelaire, biến cái Ác, cái xấu xa, phi đạo đức thành cái Đẹp. Họ còn bị ám ảnh kiểu tư duy "tương hợp" của C. Baudelaire: "Huy Cận không chỉ thấy sự hòa hợp giữa hương thơm và màu sắc. Xuân Diệu thấy "khúc nhạc thơm".

Bích Khê thấy điệu nhạc "mát như xuân mà ngọt tợ hương" [100, tr. Trần Thị Mai Nhi còn ghi nhận không ít nhà Thơ mới đã tiếp thu lối viết tiềm thức, trực giác, phi lý tính của A. Rimbaud, hay học tập S. Mallarmé sáng tạo ra thứ ngôn ngữ như những câu thần chú.

Hoàng Nhân thì cho rằng: Trong quá trình va chạm với văn hóa, văn học Pháp, các nhà thơ hiện đại Việt Nam đã tiếp thu "có tính chất tổng hợp các khuynh hướng văn học cuối thế kỉ XIX đến thế kỉ XX như chủ nghĩa tượng trưng, nghệ thuật vị nghệ thuật, chủ nghĩa ấn tượng, chủ nghĩa siêu thực. Các nhà thơ như Vũ Đình Liên, Nguyễn Xuân Sanh, Xuân Diệu ít nhiều đều chịu ảnh hưởng thơ tượng trưng; đặc biệt Xuân Diệu. "Với Baudelaire, tôi (Xuân Diệu - ND) đi toàn vẹn vào tính chất hiện đại của thơ" [99, tr. Mặc dù không luận bàn sâu khuynh hướng thơ tượng trưng Việt Nam nhưng Hoàng Nhân đã cung cấp những tri thức quan trọng giúp độc giả hình dung ra con đường du nhập của các trường phái văn học Pháp vào Việt Nam.

17 Trong các công trình nghiên cứu về Thơ mới được đánh giá cao, theo chúng tôi ngoài cuốn Thi nhân Việt Nam (Hoài Thanh - Hoài Chân) phải kể đến Mắt thơ (2000) của Đỗ Lai Thúy. Bằng lối phê bình phong cách học và thi pháp học, Đỗ Lai Thúy mang đến một góc nhìn khác về phong trào Thơ mới nói chung và sự tiếp nhận thơ tượng trưng Pháp của các nhà Thơ mới nói riêng. Trước đây, nhiều người thường đánh đồng Thơ mới với thơ lãng mạn nhưng thực tế không phải như vậy, "Thơ mới là một vận động của tư duy thơ Việt Nam từ Lãng mạn (với những thi sĩ lớp đầu như Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Phạm Huy Thông.) đến nửa Tượng trưng (lớp trung gồm Xuân Diệu, Huy Cận, Vũ Hoàng Chương.) và tượng trưng (Đinh Hùng, Bích Khê), rồi chớm sang Siêu thực (Hàn Mặc Tử)" [137, tr. Mặc dù tiếp thu các trường phái văn học Pháp song "Thơ mới chưa thể có một sự phân hóa triệt để thành các trường phái như ở phương Tây.

Các yếu tố (lãng mạn, tượng trưng, siêu thực) thì đậm, mà chủ nghĩa (Lãng mạn, Tượng trưng, Siêu thực) thì nhạt, có khi mới định hướng mà chưa định hình. Hơn nữa, các trường thơ này không xuất hiện nối tiếp nhau, nhất là vào những năm cuối, mà gối tiếp nhau, đôi khi đồng thời, xoắn luyến, kiểu con chị chưa đi, con dì đã lớn. Nhận diện các trường thơ ta khó là vì vậy" [137, tr. Từ những nhận định mang tính khái quát, soi chiếu vào một số gương mặt tiêu biểu của phong trào Thơ mới, Đỗ Lai Thúy nhận ra "nếu Xuân Diệu, và nhất là Huy Cận, là dòng lãng mạn được cườm vào những yếu tố tượng trưng, còn Đinh Hùng, Bích Khê chủ yếu là tượng trưng, thì Hàn Mặc Tử là sự hòa sắc của cả lãng mạn lẫn tượng trưng, thậm chí siêu thực nữa" [137, tr.

Xuân Thu Nhã Tập cũng hiện diện "với tư cách là một trường hợp thơ Tượng trưng". Tuy các tác phẩm mà nhóm này để lại cho đời không nhiều nhưng có những bài thơ được xem là tuyệt tác và thấm đẫm màu sắc tượng trưng chủ nghĩa, nhất là thi phẩm "Màu thời gian (1939 - 1940) của họ Đoàn là tượng đài đầu tiên và tiêu biểu cho nàng thơ Tượng trưng của Việt Nam" [137, tr. Năm 2000, Nguyễn Đăng Mạnh cho in cuốn Giáo trình Lịch sử văn học Việt Nam 1930 - 1945, trong đó có nghiên cứu về phong trào Thơ mới. Theo Nguyễn Đăng Mạnh: Từ 1936 đến 1939, "Thơ mới phát triển phong phú với nhiều phong cách đa dạng (.

Nó vận dụng một cách phổ biến kinh nghiệm của thơ tượng trưng của Pháp, đặc biệt là của Baudelaire, Verlaine. Xét ra đây cũng là sự gặp gỡ thú vị giữa Đông và Tây, kim và cổ" [90, tr. Điều này thể hiện rõ trong thơ Xuân Diệu,"ông chịu khó thâu tóm tinh hoa của Đông Tây kim cổ để tạo nên sức mạnh cho thơ mình" [90, tr. Tiếp biến thơ tượng trưng nhưng Xuân Diệu có chọn lọc.

"Ông chịu ảnh hưởng 18 sâu sắc thơ Baudelaire, Verlaine (.) nhưng Xuân Diệu không chịu được những nhà thơ tượng trưng cực đoan như Mallarmé, Valéry, với những vần thơ quá bí hiểm. Vì trước sau Xuân Diệu vẫn là nhà thơ của niềm khát khao giao cảm với đời. Ông rất cần đại chúng hiểu mình, yêu mình, nhớ mình" [90, tr. Ngược lại, "Nguyễn Xuân Sanh thì tìm đến lối thơ bí hiểm học theo ông thầy Mallarmé" [90, tr.

Không dừng lại khảo cứu các hiện tượng thơ riêng lẻ như nhiều nhà lý luận, phê bình từng làm; Mã Giang Lân đã ra mắt chuyên luận Tiến trình thơ hiện đại Việt Nam (2001) kéo dài một thế kỉ. Ở chuyên luận này, tác giả tập trung lý giải sự vận động của thơ Việt Nam qua năm giai đoạn (nửa đầu thế kỉ XX, 1945 - 1954, 1954 - 1964, 1964 - 1975, và sau năm 1975) trên một số vấn đề cơ bản như: mối quan hệ giữa văn học và đời sống, sự chuyển biến của các nhà thơ, khuynh hướng thơ, sự phát triển các thể loại, truyền thống và cách tân.; trong đó có bàn đến sự tiếp nhận thơ tượng trưng Pháp ở hai giai đoạn trước năm 1945 và sau năm 1975. Giai đoạn trước năm 1945, Mã Giang Lân tán đồng ý kiến của những người đi trước khi cho rằng: "Những yếu tố tượng trưng siêu thực đã thể hiện rõ, đậm đặc trong thơ Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Bích Khê (.) và tạo nên nét khác biệt giữa nhóm các nhà thơ này với các nhà lãng mạn cùng thời" [79, tr. Càng về sau (1940 - 1945), các nhà Thơ mới càng "coi trọng học tập các nền thơ lớn trên thế giới, đặc biệt là thơ Pháp với các tên tuổi như S.131] nhằm mục đích đưa nền thơ dân tộc lên ngang tầm với thế giới.

Tuy nhiên, những ước muốn tốt đẹp đó "chỉ đưa đến tìm tòi những cảm giác lạ, những hình ảnh kì quái, những cách diễn đạt rối rắm chỉ gây ra "dị ứng" ở người đọc" [79, tr. Dẫu vậy, không thể phủ nhận, thơ tượng trưng có một sức sống khá bền bỉ. "Trong những năm gần đây, ở Việt Nam xuất hiện một số tập thơ theo xu hướng này như Ba sáu bài tình (Lê Đạt - Dương Tường), Ngựa biển, Người đi tìm mặt (Hoàng Hưng), Bến lạ, Ô mai (Đặng Đình Hưng), Bóng chữ (Lê Đạt). Đặc biệt, "nhiều nhà thơ trẻ hiện nay đã có ý thức đưa thơ đến vô thức, tiềm thức, tâm linh, vận dụng những yếu tố tượng trưng siêu thực.

tạo cho thơ khả năng biểu hiện những cảm giác mơ hồ thuộc tầng sâu của tâm hồn con người" [79, tr. Mã Giang Lân đã chỉ ra những ưu/ nhược điểm của khuynh hương thơ tượng trưng, siêu thực; từ đó, đưa ra lời khuyên: "Chúng ta không nên nặng lòng với chúng nhưng cũng phải thực sự cầu thị, khách quan tiếp thu những phần nào có thể có ích để làm phong phú thơ, để đưa thơ đến những miền xa, miền sâu tạo cho thơ một tiếng nói kì diệu nối xưa và nay, nối hư và thực. 19 Trong Những thế giới nghệ thuật thơ (2001), Trần Đình Sử có những kiến giải thú vị về thơ tượng trưng, cũng như sự ảnh hưởng của nó đối với Thơ mới. Ông cho rằng: "Thơ tượng trưng là một hiện tượng khác hẳn thơ cổ điển và đặc biệt là thơ lãng mạn, đồng thời có ảnh hưởng sâu rộng tới thơ ca toàn thế giới" [121, tr.60], trong đó có Việt Nam, cụ thể là phong trào Thơ mới.

"Vào hậu kì phong trào này xuất hiện một ít tác giả có màu sắc tượng trưng như Bích Khê, Đinh Hùng" [121, tr.59], còn "Thơ mới chủ yếu là thơ lãng mạn" [121, tr. Các nhà Thơ mới tuy đã tiếp xúc với thi phái tượng trưng Pháp nhưng "chỉ học một vài thủ pháp" nên họ không phải là những thi sĩ tượng trưng chính hiệu. "Bởi lẽ, họ chưa thể có cảm xúc suy đồi (. Nhà Thơ mới lúc đó chưa nhìn thấu được mặt trái của xã hội tư sản để có thể như Bôđơle nhìn thấy đĩ thỏa, rắn độc, bò cạp, đầu lâu, xác thối.

Họ chưa thất vọng sâu sắc để nhìn đâu cũng thấy trống rỗng như Manlacmê" [121, tr. Những thi sĩ như Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, theo Trần Đình Sử, "trước sau vẫn là lãng mạn". Đến Bích Khê đã có bước chuyển biến, thi nhân "muốn vượt lên một chặng đường mới của thơ" bằng cách tiếp thu các quan niệm nghệ thuật hiện đại của châu Âu. "Bích Khê muốn tạo ra một thứ vàng ròng, thuần túy từ câu, chữ, từ trang giấy, từ các yếu tố, tâm hồn (.

Tuy vậy, đó là tìm tòi trong hình thức nhạc điệu, câu chữ, thể hiện ít nhiều vô thức nhưng hồn thơ Bích Khê căn bản vẫn là thơ lãng mạn" [121, tr.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Khám Phá Khuynh Hướng Thơ Tượng Trưng Trong Văn Học Việt Nam Hiện Đại" mang đến cái nhìn sâu sắc về sự phát triển và ảnh hưởng của khuynh hướng thơ tượng trưng trong văn học Việt Nam hiện đại. Tác giả phân tích các đặc điểm nổi bật của thể loại này, từ cách sử dụng hình ảnh, biểu tượng đến cảm xúc mà nó truyền tải. Độc giả sẽ tìm thấy những lợi ích từ việc hiểu rõ hơn về khuynh hướng này, giúp nâng cao khả năng cảm thụ văn học và mở rộng kiến thức về các tác phẩm tiêu biểu.

Để mở rộng thêm kiến thức, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận án tiến sĩ hồi ký tự truyện hiện đại việt nam từ góc nhìn diễn ngôn thể loại, nơi khám phá các thể loại văn học hiện đại khác. Bên cạnh đó, Luận văn thạc sĩ ngôn ngữ học ngôn ngữ biểu thị các cung bậc tình cảm và ảo mộng tình yêu trong mê hồn ca và đường vào tình sử của đinh hùng sẽ giúp bạn hiểu thêm về cách thể hiện cảm xúc trong thơ ca. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ tính đối thoại trong truyện ngắn nguyễn minh châu sau 1975 cũng là một tài liệu thú vị để khám phá thêm về các phương pháp biểu đạt trong văn học hiện đại. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về văn học Việt Nam.