CHƯƠNG I: TỔNG QUAN 1.1 Tổng quan về chi Euodia 1.1 Giới thiệu về chi Euodia Chi Euodia trong tiếng Việt được gọi là chi Ba chạc, thuộc họ Cam (Rutaceae), là các loài cây bụi và cây gỗ nhỏ có tinh dầu. Có khoảng 120 loài phân bố ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, từ Đông Madagascar đến vùng Nam Á, Đông – Nam Á xuống Australia và một số đảo ở Thái Bình Dương [3]. Chi Euodia ở Việt Nam là một chi với số lượng loài không lớn của họ Cam, chỉ có khoảng 7 loài [2, 3]. Đặc điểm: Các loài thuộc chi này thường là dạng cây nhỏ, cây gỗ hoặc cây bụi, không có gai, cao 1 – 3m, có khi hơn (4 – 5m).
Cành non có lông, sau đó nhẵn. Lá kép 1 lá chét hay lá kép 3, lá và lá chét đều mọc đối, mép nguyên, thường có tuyến nhỏ, rõ và nhiều. Cụm hoa dạng chuỳ. Đài gồm 4 lá đài.
Tràng gồm 4 cánh hoa, tiền khai hoa van hay lợp. Tuyến mật nhỏ. Hoa đực có 4 nhị, bộ nhụy thoái hoá dạng que ngắn, thường xẻ 4 thuỳ, ít khi không xẻ thùy. Hoa cái có bộ nhụy gồm 4 lá noãn rời nhau, mỗi lá noãn có 2 noãn đính bên, bầu nhẵn hay có lông, nhị thoái hoá có bao phấn hoặc không có bao phấn (ở dạng vảy), vòi nhụy dính nhau (1 vòi nhụy), đầu nhụy dạng phồng có 4 thùy; không có cuống bầu.
Quả nang, khi chín mở theo khe lưng bụng; khi các nang mở các hạt dính lại trên các mảnh nang; mỗi phân quả có 1 hạt; vỏ quả ngoài có điểm dầu nhỏ, vỏ quả trong sau khi khô thành “đấu mỏng” hoặc hoá gỗ. Hạt tròn, vỏ ngoài mượt, màu nâu hay xanh đen; nội nhũ nạc; phôi thẳng; lá mầm hình trứng dẹp. Toàn cây có tinh dầu thơm. Mùa hoa tháng 4 – 5, mùa quả tháng 6 – 7 [5].
Phân bố: Euodia là loài cây bụi ưa sáng, chịu được hạn và có thể sống trên nhiều loại đất khác nhau. Trên thế giới, cây Ba chạc phân bố rộng rãi ở vùng nhiệt đới, chủ yếu ở các nước như Trung Quốc, Việt Nam, Lào, Campuchia, Myanmar, Thái Lan, Philippin. Ở Việt Nam, cây mọc hoang, rất phổ biến trên khắp nước ta từ miền Bắc đến miền Nam. Cây thường được gặp ở các vùng đồi, rừng thứ sinh, rừng thưa, hoặc trong các bụi cây ở vùng đồng bằng [6, 7].2 Các loài thuộc chi Ba chạc (Euodia) có ở Việt Nam Theo các tác giả Võ Văn Chi [2], Phạm Hoàng Hộ [3], và Đỗ Tất Lợi [4] thì ở Việt Nam chi Ba chạc có mặt khoảng 6 - 7 loài.
Danh sách các loài thuộc chi này được trình bày ở bảng 1.1, như sau: 4 Bảng 1.1: Các loài thuộc chi Euodia và phân bố của chúng TT Các loài thuộc Tên tiếng Phân bố chi Euodia Việt 1 Euodia Dấu dầu lá Chủ yếu gặp tại các tỉnh callophylla hẹp phía thuộc khu vực Tây Guillaum. Nguyên: Kon Tum, Gia Lai (Mang Yang), Đắc Nông, Đà Lạt… 2 Euodia lepta Ba chạc, Chè Mọc phổ biến khắp nơi (Spreng) đắng, Chè ở Việt Nam. 3 Euodia Dấu dầu háo Mọc trên núi cao, có thể oreophilla ẩm ở độ cao 2400 m, có thể Guillaum. thấy ở Đắc Lắc (Chư Yang Sin), Lâm Đồng ( Lang Bian),… 4 Euodia Dấu dầu lá Thường thấy các tỉnh simplicifolia đơn miền trung: Thanh Hóa, Ridl.
ex Guillaum 7 Euodia Ngô thù du Chủ yếu Hà Giang, Lạng rutaecarpa Sơn Hình 1.1: Hình ảnh loài Euodia lepta và Euodia simplicifoli ở Việt Nam 5 Chi này rất gần với chi Tetradium bởi đặc điểm quả nang, lá mọc đối. Tuy nhiên nó khác với chi Tetradium bởi số lượng lá chét chỉ từ 1-3, còn ở Tetradium có lá kép lông chim và có nhiều hơn 3 lá chét; chi Tetradium có khoảng 10 loài.2 Tìm hiểu cây Ngô Thù du (Tetradium ruticarpum (A.) Tên gọi: Ngô thù du (NTD) còn gọi là Ngô thù, Thù du, là quả chín phơi khô của cây có tên khoa học là Tetradium ruticarpum (A. thuộc họ Cam (Rutaceae) [1]. Ở nước ta, cây thuốc được phát hiện ở tỉnh Hà Giang có tên là Xà lạp hay Ngô thù.
Mô tả: Cây nhỏ, rụng lá, cao 1 – 3 m, thân cành màu nâu tím, khi non có lông mềm, sau nhẵn, có nhiều lỗ bì. Lá kép lông chim lẻ, mọc đối, dài 30 – 40 cm, gồm 5 – 7 lá chết hình trứng hoặc bầu dục, dài 5 – 15 cm, rộng 2,5 – 5 cm, gần như không cuống, gốc thuôn, đầu nhọn, mép nguyên, hai mặt có lông mịn, dày hơn ở mặt dưới, khi soi lá thấy rõ những túi tinh dầu.2: Hình ảnh thân lá, hoa và quả của cây Ngô thù du Cụm hoa mọc ở đầu cành thành hình xim ngù, có cuống mập; hoa nhỏ, nhiều, màu trắng hoặc vàng nhạt. Hoa đơn tính khác gốc; đa số những hoa nhỏ tụ thành từng tán hay đặc biệt thành chùm. Cuống hoa trông to thô có nhiều lông, màu nâu mềm.
Hoa màu vàng trắng, hoa cái lớn hơn hoa đực. Quả hình cầu hoặc hình cầu dẹt, đường kính 0,2 – 0,5 cm, mặt ngoài màu lục vàng thẫm đến màu nâu, thô, xù xì. Có nhiều điểm chấm dầu nhô lên hoặc trũng xuống. Đỉnh quả có kẽ nứt hình sao 5 cánh, chia quả thành 5 mảnh.
Gốc quả còn sót lại cuống phủ lông tơ vàng. Chất cứng, giòn. Mặt cắt ngang quả thấy rõ 5 ô, mỗi ô chứa 1 – 2 hạt màu vàng nhạt. Mùi thơm ngát, vị cay, đắng.
Toàn cây có tinh dầu thơm hắc. Mùa hoa: tháng 6 – 8; mùa quả: tháng 9 – 11 [6]. 6 Phân bố, sinh thái: Ngô thù du là loài có nguồn gốc ở vùng ôn đới ấm cận Hymalaya thuộc Ấn Độ và Trung Quốc. Hiện nay, cây phân bố tự nhiên ở vùng Nam và Tây Nam Trung Quốc, Bắc Ấn Độ.
Cây còn được trồng rải rác trong nhân dân ở các tỉnh Quảng Tây và Vân Nam – Trung Quốc. Theo Đông y, Ngô thù du có vị cay, đắng, tính nóng, hơi có độc, vào 4 kinh: tỳ, vị, can, thận, có tác dụng ôn trung, tán hàn, giang nghịch, giải uất. Tuy nhiên, Viện Dược liệu đã nhiều lần điều ta ở những khu vực này vào những năm 1999, 2000, mà chưa phát hiện được. Nhân dân ở một số vùng thuộc huyện Quản Bạ và Yên Ninh (Hà Giang) cũng cho biết Ngô thù du mọc tự nhiên ở vùng rừng núi đá vôi giáp biên giới và họ đã thu hái dược liệu vào khoảng thàng 10, tháng 11 đưa xuống chợ bán.
Ngô thù du thuộc loại cây gỗ nhỏ, ưa sáng và có thể chịu bóng tối tốt ở thời kì cây còn nhỏ. Cây thích nghi với vùng khí hậu tương đối ôn hòa nhiệt độ trung bình năm khoảng 21 – 22oC. Cây rụng lá vào mùa đông và có thể chịu đựng tốt khi nhiệt độ xuống dưới 0oC. Cây tái sinh tự nhiên và được gieo trồng chủ yếu bằng hạt.
Bộ phận dùng: Quả thu hái vào tháng 9 – 10, lúc đang có màu xanh hay hơi vàng chưa tách vỏ đem phơi nắng hoặc sấy khô. Khi dùng, lấy nước ấm 60 – 70oC đổ vào hạt khuấy đến khi nước nguội. Làm như vậy 2 – 3 lần rồi sấy khô, giã dập, dùng sống. Người ta làm giảm bớt tính mạnh của quả bằng cách thêm nước cam thảo và sau khi sấy khô, có thể tẩm muối.
Bảo quản nơi khô ráo, đậy kín để giữ mùi thơm. Có thể chế biến Ngô thù du theo y học cổ truyền như sau: - Ngâm rửa: Lấy quả Ngô thù du ngâm nước sôi hoặc nước ấm 60 – 70oC đến khi nguội, gạn nước, làm vài lần như vậy rồi sấy khô. - Chế cam thảo: Ngô thù du (10kg), cam thảo (0,5kg). Nấu lấy nước cam thảo khi nước còn nóng cho Ngô thù du vào ngâm đến khi quả nứt ra (nếu chưa nứt quả, đun thêm 5 phút ), lấy ra phơi hoặc sấy khô – cũng có thể đun Ngô thù du và cam thảo với nước ngay từ đầu, đến khi quả nứt.
- Sao: Dùng lửa nhỏ sao Ngô thù du đến khi quả nứt ra, có màu đen cháy hoặc sao đến khi quả phồng lên, màu hơi nâu. - Chích rượu: Ngô thù du (10kg), rượu (2kg). Ngâm Ngô thù du vào rượu trong 6 đến 12h, lấy ra để ráo rượu, sao tới khô. 7 - Tẩm giấm: Ngô thù du (10kg), giấm (2kg).
Ngâm Ngô thù du vào giấm trong 6 đến 12h, đổ ra, để se, rồi phơi khô [6]. Tác dụng dược lý: Theo y học cổ truyền, Ngô thù du có vị cay, đắng, tính nhiệt, có độc ít. Qui kinh Can, Tỳ, Vị, Đại trường, Thận (Lôi Công Bào Chế Dược Tính Giải). Có tác dụng Tán hàn hành khí, táo thấp chỉ thống, sơ can hạ khí, ôn trung chỉ tả, dùng ngoài, thuốc có tác dụng dẫn hỏa đi xuống.
Ôn trung, chỉ thống, hạ khí, trục phong tà, khai tấu lý (Bản Kinh), Kiện tì, thông quan tiết (Nhật Hoa Tử Bản Thảo), Khai uất, hóa trệ (Bản Thảo Cương Mục). Khứ hàn, chỉ thống, chỉ ẩu, giáng nghịch, ôn tì, chỉ tả, khứ đờm thấp (Trung Dược Học). Chủ trị các chứng: Phúc thống, cước khí, sán khí, quyết âm đầu thống, nôn, ợ chua, hàn thấp tiết tả, kiết lị, khẩu sang, cao huyết áp. Trường hợp hầu họng miệng lưỡi sang lở, dùng bột Ngô thù trộn dấm đắp hai lòng bàn chân thì khỏi.
Ngô thù du là chủ dược của Quyết âm Can kinh, có thể ôn tán hàn tà ở kinh Can, thư Can, lợi khí, hoà trung, chỉ ẩu, tán hàn, táo thấp mà trợ Tỳ, Thận dương. Không chỉ trị bệnh ở Can mà còn trị bệnh ở Tỳ Thận. Vị thuốc này trong đông y thường được dùng để trị sốt nóng, đau bụng, nôn nghịch, nuốt chua, đầu đau do quyết âm bệnh, tạng hàn, tiêu chảy, bụng trướng đau, cước khí, sán khí, miệng lở loét, răng đau, thấp chẩn, thủy đậu [5]. Trong một số nghiên cứu mới đây, dịch chiết của Ngô thù du có tác dụng kháng khuẩn, giảm đau giống chất antipyrin, điều trị huyết áp cao, điều trị rối loạn vị, chữa trị các bệnh ngoài da như eczema, viêm da thần kinh có hiệu quả [6].
Trong các bài nghiên cứu đã công bố từ các tác giả Trung Quốc và Nhật Bản, thành phần hóa học chiếm khối lượng lớn từ lá, thân, rễ và quả của Ngô thù du là các chất dạng alkaloid như evoden, evodin, evodol, gushuynic axit, evodiamine, rutaecarpine [8, 9]. Các hợp chất này đã được thử các hoạt tính sinh học như chống viêm, chống đông máu, chống tiêu chảy, làm tăng co bóp cơ tim, chống béo phì và tăng khả năng miễn dịch [10]. Theo y học hiện đại: các alcaloid rutaecarpin và dehydroevodiamin của ngô thù có hoạt tính gây tăng trương lực tử cung của chuột cống trắng in vitro.