Tổng quan luận án
Sự đốt cháy nhiên liệu hóa thạch là một trong những nguồn phát thải chính gây ô nhiễm môi trường, biến đổi tầng ozon và biến đổi khí hậu toàn cầu. Quá trình đốt cháy thường sinh ra hơi nước, $\text{CO}_2$ cùng các chất khí gây ô nhiễm như $\text{CO}$ và các oxit nitơ ($\text{NO}_x$). Trong cơ chế tái đốt cháy (reburning) để khử $\text{NO}_x$, axit fulminic ($\text{HCNO}$) đóng vai trò là một hợp chất trung gian quan trọng, quyết định toàn bộ tiến trình phản ứng chuyển hóa. Bên cạnh đó, các quan sát thiên văn vô tuyến (sử dụng kính thiên văn IRAM 30m) đã xác định được sự tồn tại của axit fulminic và đồng phân axit isocyanic ($\text{HNCO}$) trong các đám mây đen vũ trụ. Mặc dù cấu trúc của $\text{HCNO}$ đã được tách và nghiên cứu phổ từ năm 1971 (Beck và cộng sự) và các dữ liệu thực nghiệm về động học phản ứng của $\text{HCNO}$ với một số gốc như $\text{OH}$, $\text{CN}$, nguyên tử $\text{O}$ đã được công bố, cơ chế chi tiết ở mức độ phân tử vẫn còn nhiều điểm chưa thống nhất. Nhiều nghiên cứu lý thuyết trước đây sử dụng bộ hàm cơ sở nhỏ, dẫn đến việc đánh giá sai lệch hàng rào năng lượng hoặc bỏ sót các kênh phản ứng chính. Ngoài ra, phản ứng của $\text{HCNO}$ với nhiều tác nhân quan trọng trong phản ứng cháy và khí quyển như $\text{H}$, $\text{CH}_3$, $\text{NH}_2$, $\text{SH}$, $\text{F}$, $\text{C}_2\text{H}$, $\text{C}_6\text{H}_5$, $\text{HF}$ chưa được khảo sát đầy đủ.
Luận án tiến sĩ hóa học của nghiên cứu sinh Nguyễn Trọng Nghĩa với đề tài "Nghiên cứu cơ chế phản ứng của axit fulminic ($\text{HCNO}$) với một số tác nhân bằng phương pháp hóa học tính toán" (chuyên ngành Hóa lý thuyết và Hóa lý, mã số 62.19, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, năm 2014) được thực hiện nhằm giải quyết các khoảng trống nghiên cứu trên.
Mục tiêu cụ thể của luận án bao gồm:
- Sử dụng phương pháp phiếm hàm mật độ (DFT) B3LYP và phương pháp tương tác chùm $\text{CCSD(T)}$ với bộ hàm cơ sở lớn $6\text{-}311++\text{G}(3df,2p)$ cùng phương pháp ngoại suy bộ hàm cơ sở đầy đủ ($\text{CBS}$) để nghiên cứu cơ chế phản ứng và xác định các thông số nhiệt động của 9 hệ phản ứng trong pha khí giữa $\text{HCNO}$ với các nguyên tử ($\text{H}$, $\text{F}$), các gốc tự do ($\text{CH}_3$, $\text{NH}_2$, $\text{OH}$, $\text{SH}$, $\text{C}_2\text{H}$, $\text{C}_6\text{H}_5$) và phân tử $\text{HF}$.
- Tính toán các thông số nhiệt động học tiêu chuẩn bao gồm biến thiên entanpi ($\Delta_r H^\circ_{298}$), biến thiên entropi ($\Delta_r S^\circ_{298}$) và biến thiên năng lượng tự do Gibbs ($\Delta_r G^\circ_{298}$) của từng đường phản ứng theo phương pháp $\text{CCSD(T)/CBS}$.
- Ứng dụng lý thuyết obitan phân tử biên (FMO) và lý thuyết axit - bazơ cứng mềm (HSAB) để giải thích khả năng phản ứng, vị trí tấn công ưu tiên và cơ chế chuyển dịch điện tích giữa $\text{HCNO}$ với các tác nhân.
- Tính toán động học cho hai hệ phản ứng quan trọng trong quá trình cháy là $\text{HCNO} + \text{OH}$ và $\text{HCNO} + \text{H}$ bằng các lý thuyết trạng thái chuyển tiếp ($\text{TST}$), trạng thái chuyển tiếp biến cách ($\text{VTST}$) và lý thuyết $\text{RRKM}$ kết hợp giải phương trình master đa bước ở áp suất 1 atm trong dải nhiệt độ từ 300 K đến 1000 K; xác định hằng số tốc độ từng nhánh, hằng số tốc độ toàn phần ($k_{tot}$) và tỉ số phân chia sản phẩm.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là phân tử axit fulminic ($\text{HCNO}$) cùng 9 tác nhân phản ứng ($\text{OH}$, $\text{SH}$, $\text{NH}_2$, $\text{CH}_3$, $\text{F}$, $\text{H}$, $\text{C}_2\text{H}$, $\text{C}_6\text{H}_5$, $\text{HF}$). Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các phản ứng hóa học xảy ra trong pha khí; khảo sát cấu trúc hình học, bề mặt thế năng ($\text{PES}$), thông số nhiệt động ở điều kiện tiêu chuẩn và động học phản ứng trong khoảng nhiệt độ $300\text{--}1000\text{ K}$ tại áp suất khí quyển (1 atm).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Lịch sử nghiên cứu axit fulminic bắt đầu từ năm 1800 khi Edward phát hiện hợp chất này. Trong giai đoạn 1823–1825, Liebig và Wöhler nghiên cứu $\text{HCNO}$, dẫn đến sự hình thành khái niệm đồng phân trong hóa học hữu cơ. Năm 1857, Kekulé đề xuất công thức $\text{CH}_2(\text{NO}_2)\text{CN}$, sau đó P. Griess đưa ra cấu trúc $\text{N}_2\text{CH-COOH}$. Đến năm 1882, Ehrenberg và Steiner thủy phân $\text{HCNO}$ thành axit formic ($\text{HCOOH}$) và hidroxylamin ($\text{NH}_2\text{OH}$), chứng minh phân tử chỉ chứa một nguyên tử cacbon. Năm 1892, J. Nef đề xuất cấu trúc dạng $\text{:C=N-OH}$, và năm 1899 xuất hiện công thức đồng phân hỗ biến $\text{H-C}\equiv\text{N-O}$. Năm 1926, Linus Pauling dựa trên tính toán năng lượng tự do đã chứng minh cấu trúc $\text{H-C}\equiv\text{N-O}$ bền vững hơn. Năm 1971, Beck và cộng sự lần đầu tiên cô lập được $\text{HCNO}$ nguyên chất và xác định các tần số dao động hồng ngoại đặc trưng: $\nu(\text{C-H}) = 3336\text{ cm}^{-1}$, $\nu(\text{C-N}) = 2196\text{ cm}^{-1}$, $\nu(\text{N-O}) = 1254\text{ cm}^{-1}$, tương ứng với độ dài liên kết $\text{C-H} = 1,027\text{ \AA}$, $\text{C-N} = 1,161\text{ \AA}$, $\text{N-O} = 1,207\text{ \AA}$.
Về vai trò trong hóa học sự cháy và khí quyển, Eshchenko và cộng sự đã xác định tỉ số hình thành $\text{HCNO}$ trong phản ứng tái đốt cháy $\text{NO}$ thông qua các phản ứng:
$$\text{O} + \text{C}_2\text{H}_2 \rightarrow \text{CO} + \text{CH}_2 \quad (1a)$$
$$\text{O} + \text{C}_2\text{H}_2 \rightarrow \text{HCCO} + \text{H} \quad (1b)$$
$$\text{HCCO} + \text{NO} \rightarrow \text{HCN} + \text{CO}_2 \quad (2a)$$
$$\text{HCCO} + \text{NO} \rightarrow \text{HCNO} + \text{CO} \quad (2b)$$
Trong đó nhánh (2b) chiếm ưu thế với tỉ lệ phân chia $\phi(2b) \approx 0,78$.
Về động học và cơ chế phản ứng của $\text{HCNO}$:
- Wenhui Feng và cộng sự đo thực nghiệm động học phản ứng $\text{HCNO} + \text{OH}$ trong khoảng $298\text{--}386\text{ K}$, xác định hằng số tốc độ $k = (2,8 \pm 0,8) \times 10^{-11} \exp[(132 \pm 95)/T]\text{ cm}^3\text{phân tử}^{-1}\text{s}^{-1}$ ($k = (3,3 \pm 0,3) \times 10^{-11}\text{ cm}^3\text{phân tử}^{-1}\text{s}^{-1}$ tại 296 K) và phát hiện các sản phẩm $\text{CO}$, $\text{HNO}$, $\text{H}_2\text{CO}$, $\text{NO}$.
- Miller và cộng sự (2003) xây dựng bề mặt thế năng cho hệ $\text{HCNO} + \text{OH}$ nhưng chưa tính đến kênh sản phẩm chính $\text{CO} + \text{HNOH}$.
- Song Wang xây dựng lại bề mặt thế năng $\text{HCNO} + \text{OH}$ nhưng do sử dụng bộ hàm nhỏ nên rào cản tạo kênh chính $\text{HCO} + \text{HNO}$ bị nâng lên mức tương quan $-8,2\text{ kcal/mol}$, cao hơn các kênh phụ; đồng thời kênh tạo $\text{CH}_2\text{O} + \text{NO}$ có hàng rào lên tới $24,2\text{ kcal/mol}$, không phù hợp với thực tế phản ứng xảy ra nhanh ở nhiệt độ phòng.
- Jing-Lin Pang và cộng sự nghiên cứu hệ $\text{HCNO} + \text{CN}$ bằng phương pháp G3B3 và $\text{CCSD(T)/aug-cc-pVTZ//B3LYP/6-311++G(d,p)}$, xác định kênh ưu tiên tạo $\text{HCN} + \text{NCO}$.
Vị trí của luận án là giải quyết các điểm mâu thuẫn trong bề mặt thế năng của hệ $\text{HCNO} + \text{OH}$, đồng thời mở rộng khảo sát có hệ thống trên 9 hệ tác nhân khác nhau bằng các phương pháp hóa học lượng tử độ chính xác cao ($\text{CCSD(T)/CBS}$) và lý thuyết động học thống kê hiện đại ($\text{RRKM/VTST}$).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết hóa học lượng tử và động hóa học
Luận án vận dụng các nguyên lý nền tảng của hóa học lượng tử và động học phản ứng:
- Phương trình Schrödinger dừng và Hamiltonian đa hạt: Mô tả hệ gồm $M$ hạt nhân và $N$ electron trong gần đúng Born-Oppenheimer.
- Hàm sóng định thức Slater và nguyên lý biến phân: Tối ưu hóa orbital phân tử thông qua trường tự hợp Hartree-Fock (HF).
- Tương quan electron: Đánh giá năng lượng tương quan Coulomb và Fermi thông qua các phương pháp Post-HF như nhiễu luận Møller-Plesset ($\text{MPn}$), tương tác cấu hình ($\text{CI}$) và tương tác chùm kích thích đơn, đôi và ba phiếm định ($\text{CCSD(T)}$).
- Lý thuyết phiếm hàm mật độ (DFT): Sử dụng các phiếm hàm trao đổi - tương quan lai hóa $\text{B3LYP}$ và $\text{BHandHLYP}$ kết hợp với hình thức cấu hình không hạn chế ($\text{UB3LYP}$, $\text{UBHandHLYP}$) cho các hệ vỏ mở chứa electron độc thân.
- Lý thuyết động học: Thuyết trạng thái chuyển tiếp cổ điển ($\text{TST}$) qua phương trình Eyring; thuyết trạng thái chuyển tiếp biến cách ($\text{VTST}$) xác định vị trí năng lượng tự do Gibbs cực đại ($\Delta G^#{\max}$) trên đường năng lượng cực tiểu ($\text{MEP}$) cho các quá trình không có rào cản thế năng; và lý thuyết $\text{RRKM}$ tích hợp giải phương trình master đơn chiều ($\text{1D-master equation}$) có tính đến hàm thế Morse và xác suất truyền năng lượng va chạm $P{ij}$.
Phương pháp tính toán và công cụ kỹ thuật
- Tối ưu hóa cấu trúc hình học và tần số dao động: Thực hiện ở mức $\text{B3LYP}/6\text{-}311++\text{G}(3df,2p)$. Xác nhận chất phản ứng ($\text{RA}$), chất trung gian ($\text{IS}$) và sản phẩm ($\text{PR}$) có toàn bộ tần số dao động thực; trạng thái chuyển tiếp ($\text{TS}$) có duy nhất một tần số dao động ảo.
- Kiểm tra đường phản ứng: Sử dụng tọa độ nội phản ứng ($\text{IRC}$) để kết nối $\text{TS}$ với các cực tiểu tương ứng. Đối với các bước không có $\text{TS}$, tiến hành quét đường cong thế năng $\text{MEP}$ với bước nhảy $0,1\text{ \AA}$.
- Tính toán năng lượng điểm đơn và nhiệt động học: Năng lượng chính xác tính ở mức $\text{CCSD(T)}/6\text{-}311++\text{G}(3df,2p)$ và ngoại suy $\text{CCSD(T)/CBS}$ theo chuỗi hàm cơ sở Dunning $\text{aug-cc-pVXZ}$ ($X = 2, 3, 4$ ứng với $\text{DZ}$, $\text{TZ}$, $\text{QZ}$) qua công thức:
$$E(X) = E_{\text{CBS}} + b \exp[-(X-1)] + c \exp[-(X-1)^2]$$
- Năng lượng toàn phần của cấu tử: Được xác định bằng tổng năng lượng điểm đơn $\text{CCSD(T)}$ và năng lượng điểm không ($\text{ZPE}$) từ mức $\text{B3LYP}$.
- Phần mềm sử dụng: Tính toán lượng tử thực hiện trên Gaussian 03; hiển thị cấu trúc bằng GaussView, ChemCraft, ChemOffice; tính toán động học TST bằng ChemRate; tính toán VTST và RRKM bằng phần mềm Veriflex.
Nội dung chính theo từng chương
Luận án có dung lượng 150 trang, gồm 26 bảng số liệu, 32 hình vẽ, 190 tài liệu tham khảo và 19 trang phụ lục. Bố cục gồm 3 chương chính bên cạnh phần Mở đầu, Kết luận và Khuyến nghị.
Chương 1: Cơ sở lý thuyết
Chương này dành 12 trang trình bày hệ thống lý thuyết lượng tử và động học:
- Trình bày toán tử Hamilton đầy đủ cho hệ electron - hạt nhân, phép gần đúng Born-Oppenheimer, cấu trúc định thức Slater cho hệ vỏ kín và vỏ mở, các dạng hàm cơ sở $\text{STO}$, $\text{GTO}$, $\text{PGTO}$, $\text{CGTO}$, nguyên lý biến phân và bản chất tương quan electron.
- Giới thiệu các phương pháp bán kinh nghiệm ($\text{AM1}$, $\text{PM3}$), phương pháp ab-initio ($\text{HF}$, $\text{MPn}$, $\text{CC}$), phương pháp $\text{DFT}$ ($\text{LDA}$, $\text{LSDA}$, $\text{B3LYP}$, $\text{BHandHLYP}$) và khái niệm bề mặt thế năng ($\text{PES}$).
- Trình bày cơ sở động hóa học: phương trình Arrhenius, thuyết va chạm, thuyết $\text{TST}$, thuyết $\text{VTST}$ và cơ chế phản ứng đơn phân tử theo thuyết Lindemann, Hinshelwood, $\text{RRK}$ và $\text{RRKM}$ đa bước.
Chương 2: Tổng quan về hệ chất nghiên cứu và phương pháp tính
Chương này dành 8 trang tổng hợp tư liệu về axit fulminic và chi tiết hóa các bước tính toán:
- Phân tích lịch sử phát hiện, cấu trúc hình học, tính chất hóa học, sự phân hủy nhiệt của $\text{HCNO}$ và vai trò của nó trong khói mù quang hóa và các phản ứng cháy tái tạo $\text{NO}_x$.
- Trình bày chi tiết quy trình tính toán trên hơn 600 cấu trúc phân tử thuộc 9 hệ phản ứng bằng $\text{UB3LYP}$ để giảm thời gian hội tụ, kiểm soát độ nhiễm spin ($\langle S^2 \rangle \approx 0,76\text{--}0,78$), quy trình tính năng lượng điểm đơn $\text{CCSD(T)}$ và quy trình ngoại suy $\text{CBS}$.
- Thiết lập phương trình master đơn chiều và các thông số truyền năng lượng va chạm phục vụ tính toán $\text{RRKM}$ trên phần mềm Veriflex.
Chương 3: Kết quả và thảo luận
Chương này chiếm dung lượng 104 trang, tập trung thảo luận các phát hiện khoa học chính:
1. Cấu trúc và thông số nhiệt động của $\text{HCNO}$ và các chất phản ứng
Cấu trúc hình học tối ưu ở mức $\text{B3LYP}/6\text{-}311++\text{G}(3df,2p)$ cho thấy sự tương đồng cao với thực nghiệm.
| Đại lượng / Phương pháp |
$\Delta_f H^\circ_{0\text{K}}$ (kcal/mol) |
Ái lực electron $\text{EA}$ (eV) |
Thế ion hóa $\text{IE}$ (eV) |
| $\text{MP2}/6\text{-}311++\text{G}(3df,2p)$ |
33,0 |
-0,94 |
11,57 |
| $\text{BHandHLYP}/6\text{-}311++\text{G}(3df,2p)$ |
42,9 |
-0,61 |
10,45 |
| $\text{B3LYP}/6\text{-}311++\text{G}(3df,2p)$ |
39,2 |
-0,60 |
10,78 |
| $\text{CCSD(T)}/6\text{-}311++\text{G}(3df,2p)$ |
40,7 |
-0,72 |
10,72 |
| $\text{CCSD(T)/CBS}$ |
41,1 |
-2,15 |
10,83 |
| Thực nghiệm |
$40,9 \pm 0,5$ |
--- |
10,83 |
Độ dài các liên kết của $\text{HCNO}$ tính theo $\text{B3LYP}/6\text{-}311++\text{G}(3df,2p)$ so với thực nghiệm:
- Liên kết $\text{C-H}$: $1,060\text{ \AA}$ (thực nghiệm: $1,027\text{ \AA}$)
- Liên kết $\text{C-N}$: $1,155\text{ \AA}$ (thực nghiệm: $1,161\text{ \AA}$)
- Liên kết $\text{N-O}$: $1,200\text{ \AA}$ (thực nghiệm: $1,207\text{ \AA}$)
2. Phân tích orbital phân tử biên và độ mềm nguyên tử hệ $\text{HCNO} + \text{OH}$
- Phân tích FMO: Năng lượng $\text{HOMO}(\text{HCNO}) = -7,783\text{ eV}$; $\text{LUMO}(\text{HCNO}) = -0,272\text{ eV}$. Với gốc $\text{OH}$: $\text{HOMO}\alpha = -15,296\text{ eV}$, $\text{LUMO}\alpha = 1,201\text{ eV}$; $\text{HOMO}\beta = -13,981\text{ eV}$, $\text{LUMO}\beta = 1,253\text{ eV}$. Hiệu năng lượng nhỏ nhất là giữa $\text{HOMO}(\text{HCNO})$ và $\text{LUMO}_\alpha(\text{OH})$ ($8,980\text{ eV}$), chứng minh mật độ electron chuyển dịch từ $\text{HCNO}$ sang gốc $\text{OH}$. Điện tích Mulliken trên nguyên tử $\text{O}$ của $\text{OH}$ biến thiên từ $-0,259$ (gốc tự do) xuống $-0,620$ khi tạo thành chất trung gian $\text{IS1}$ ($\text{HC(OH)NO}$), đồng thời điện tích tại $\text{C}$ tăng từ $0,332$ lên $0,982$.
- Phân tích HSAB: Độ mềm toàn phần $S(\text{OH}) = 1,935\text{ au}$, $S(\text{HCNO}) = 2,097\text{ au}$. Độ mềm cục bộ tại các nguyên tử trong $\text{HCNO}$: $s_0(\text{C}) = 0,832$; $s_0(\text{H}) = 0,419$; $s_0(\text{O}) = 1,094$; $s_0(\text{N}) = -0,249$. Theo lý thuyết axit - bazơ cứng mềm, nguyên tử $\text{O}$ của $\text{OH}$ ưu tiên tấn công vào nguyên tử $\text{C}$, tiếp theo là $\text{H}$.
3. Bề mặt thế năng và cơ chế phản ứng hệ $\text{HCNO} + \text{OH}$
Khảo sát 4 hướng tấn công ban đầu của gốc $\text{OH}$ vào phân tử $\text{HCNO}$:
- Tấn công vào $\text{C}$: Hình thành trực tiếp chất trung gian $\text{IS1}$ ($\text{HC(OH)NO}$, năng lượng tương quan $-49,3\text{ kcal/mol}$) không có hàng rào trạng thái chuyển tiếp, được kiểm chứng bằng đường cong $\text{MEP}$ quét từ $1,4\text{ \AA}$ đến $3,0\text{ \AA}$.
- Tấn công vào $\text{H}$: Tách hidro qua trạng thái chuyển tiếp $\text{T0P1}$ (năng lượng tương quan $8,7\text{ kcal/mol}$, tần số ảo $1154i\text{ cm}^{-1}$, độ dài $\text{C}\cdots\text{H} = 1,180\text{ \AA}$, $\text{H}\cdots\text{O} = 1,347\text{ \AA}$) tạo sản phẩm $\text{PR1}$ ($\text{CNO} + \text{H}_2\text{O}$, $-14,1\text{ kcal/mol}$).
- Tấn công vào $\text{N}$: Qua trạng thái chuyển tiếp $\text{T0/11}$ ($24,3\text{ kcal/mol}$, tần số ảo $517i\text{ cm}^{-1}$, độ dài $\text{O-N} = 1,729\text{ \AA}$) tạo trung gian $\text{IS11}$ ($\text{HCN(OH)O}$, $17,2\text{ kcal/mol}$).
- Tấn công vào $\text{O}$: Qua trạng thái chuyển tiếp $\text{T0/7}$ ($31,0\text{ kcal/mol}$, tần số ảo $468i\text{ cm}^{-1}$, độ dài $\text{O-O} = 1,595\text{ \AA}$) tạo trung gian $\text{IS7}$ ($\text{HCNOOH}$, $29,7\text{ kcal/mol}$).
Bề mặt thế năng đầy đủ xác định 16 kênh sản phẩm ($\text{PR1}$ đến $\text{PR16}$) qua 12 trạng thái trung gian ($\text{IS1}$ đến $\text{IS12}$):
- Kênh sản phẩm chính $\text{PR11}$ ($\text{CO} + \text{HNOH}$, $-54,2\text{ kcal/mol}$): Sau khi tạo $\text{IS1}$ ($-49,3\text{ kcal/mol}$), nguyên tử $\text{H}$ của nhóm $\text{OH}$ chuyển vị sang $\text{N}$ qua $\text{TS}$ vòng 4 cạnh $\text{T1/10}$ ($-22,3\text{ kcal/mol}$, tần số ảo $1767i\text{ cm}^{-1}$) tạo trung gian $\text{IS10}$ ($\text{OC(H)N(H)O}$, $-66,9\text{ kcal/mol}$). Từ $\text{IS10}$, nguyên tử $\text{H}$ ở nhóm $\text{CH}$ chuyển vị sang $\text{O}$ của nhóm $\text{NO}$ đồng thời bẻ gãy liên kết $\text{C-N}$ qua $\text{T10P11}$ ($-23,2\text{ kcal/mol}$) để sinh ra $\text{CO} + \text{HNOH}$.
- Kênh sản phẩm chính cạnh tranh $\text{PR14}$ ($\text{HCO} + \text{HNO}$, $-15,1\text{ kcal/mol}$): Phân hủy trực tiếp từ $\text{IS10}$ qua sự đứt gãy liên kết $\text{C-N}$ mà không có trạng thái chuyển tiếp (xác nhận qua quét đường cong năng lượng $\text{MEP}$ từ trạng thái cân bằng đến khoảng cách $\text{C}\cdots\text{N} = 3,5\text{ \AA}$). Do không có rào cản thế năng, kênh này cạnh tranh trực tiếp với kênh $\text{PR11}$.
- Các kênh sản phẩm phụ: $\text{PR2}$ ($\text{CH}_2\text{O} + \text{NO}$), $\text{PR7}$ ($\text{OCNOH} + \text{H}$), $\text{PR10}$ ($\text{H}_2 + \text{OCNO}$), $\text{PR13}$ ($\text{H}_2 + \text{NO} + \text{CO}$), $\text{PR15}$ ($\text{CO} + \text{NH}_2\text{O}$).
- Các kênh có năng lượng cao ít đóng góp: $\text{PR3}$ ($\text{OC(H)NO} + \text{H}$), $\text{PR4}$ ($\text{HCOH} + \text{NO}$), $\text{PR5}$ ($\text{CO}_2 + \text{NH}_2$), $\text{PR6}$ ($\text{HOCN} + \text{OH}$), $\text{PR8}$ ($\text{HOCNO} + \text{H}$), $\text{PR9}$ ($\text{NCO} + \text{H}_2\text{O}$), $\text{PR12}$ ($\text{HNCO} + \text{OH}$), $\text{PR16}$ ($\text{HCN} + \text{HO}_2$).
| Kênh sản phẩm |
Cấu tử sản phẩm |
Năng lượng tương quan $\text{CCSD(T)}$ (kcal/mol) |
| $\text{PR1}$ |
$\text{CNO} + \text{H}_2\text{O}$ |
-14,1 |
| $\text{PR2}$ |
$\text{CH}_2\text{O} + \text{NO}$ |
-58,2 |
| $\text{PR3}$ |
$\text{OC(H)NO} + \text{H}$ |
-1,4 |
| $\text{PR4}$ |
$\text{HCOH} + \text{NO}$ |
-13,7 |
| $\text{PR5}$ |
$\text{CO}_2 + \text{NH}_2$ |
-100,5 |
| $\text{PR6}$ |
$\text{HOCN} + \text{OH}$ |
-48,0 |
| $\text{PR7}$ |
$\text{OCNOH} + \text{H}$ |
-14,2 |
| $\text{PR8}$ |
$\text{HOCNO} + \text{H}$ |
14,4 |
| $\text{PR9}$ |
$\text{NCO} + \text{H}_2\text{O}$ |
-82,4 |
| $\text{PR10}$ |
$\text{H}_2 + \text{OCNO}$ |
-36,6 |
| $\text{PR11}$ |
$\text{CO} + \text{HNOH}$ |
-54,2 |
| $\text{PR12}$ |
$\text{OCNH} + \text{OH}$ |
-76,3 |
| $\text{PR13}$ |
$\text{H}_2 + \text{NO} + \text{CO}$ |
-61,6 |
| $\text{PR14}$ |
$\text{HCO} + \text{HNO}$ |
-15,1 |
| $\text{PR15}$ |
$\text{CO} + \text{NH}_2\text{O}$ |
-68,9 |
| $\text{PR16}$ |
$\text{HCN} + \text{HO}_2$ |
-18,6 |
4. Khảo sát các hệ phản ứng còn lại
- Hệ $\text{HCNO} + \text{SH}$: Khảo sát 14 đường phản ứng; tính toán $\Delta_r H^\circ_{298}$, $\Delta_r S^\circ_{298}$, $\Delta_r G^\circ_{298}$; xác định hình học các trạng thái chuyển tiếp và bề mặt thế năng.
- Hệ $\text{HCNO} + \text{NH}_2$: Khảo sát các đường phản ứng phân cắt và chuyển vị; xác định vị trí tấn công ưu tiên tại nguyên tử cacbon.
- Hệ $\text{HCNO} + \text{CH}_3$: Khảo sát 18 đường phản ứng tạo ra các nhóm sản phẩm ($\text{H}_2$, $\text{CH}_4$, $\text{C}_2\text{H}_2$, $\text{C}_2\text{H}_4$, $\text{HCN}$, $\text{H}_2\text{O}$, $\text{NH}_3$, $\text{CO}$, $\text{CH}_2\text{O}$, $\text{CH}_2\text{CO}$, $\text{CH}_2\text{NH}$, $\text{HNCO}$, $\text{H}$, $\text{OH}$).
- Hệ $\text{HCNO} + \text{F}$ và $\text{HCNO} + \text{HF}$: Xác định cấu trúc hình học các trạng thái chuyển tiếp, tính toán các thông số nhiệt động học.
- Hệ $\text{HCNO} + \text{H}$: Khảo sát các hướng tấn công vào $\text{H}$, $\text{C}$, $\text{N}$, $\text{O}$; xây dựng bề mặt thế năng chi tiết và giải thích cơ chế đồng phân hóa thành $\text{HNCO}$.
- Hệ $\text{HCNO} + \text{C}_2\text{H}$ và $\text{HCNO} + \text{C}_6\text{H}_5$: Khảo sát phản ứng với gốc chứa liên kết $\pi$ và hệ vòng liên hợp; tính toán thông số nhiệt động và bề mặt thế năng ở mức $\text{B3LYP}$ và $\text{CCSD(T)}/6\text{-}311+\text{G}(2df,p)$.
5. Động học phản ứng hệ $\text{HCNO} + \text{OH}$ và $\text{HCNO} + \text{H}$
- Hệ $\text{HCNO} + \text{OH}$:
- Áp dụng thuyết $\text{TST}$ tính hằng số tốc độ 3 hướng đầu vào: $\text{HCNO} + \text{OH} \rightarrow \text{CNO} + \text{H}_2\text{O}$ ($k_a$); $\text{HCNO} + \text{OH} \rightarrow \text{HCN(OH)O}$ ($k_b$); $\text{HCNO} + \text{OH} \rightarrow \text{HCNO-OH}$ ($k_c$).
- Áp dụng thuyết $\text{VTST}$ tính hằng số tốc độ cho quá trình không có rào cản $\text{HCNO} + \text{OH} \rightarrow \text{HC(OH)NO}$ ($\text{IS1}$) dựa trên việc xác định cực đại $\Delta G^#$ theo độ dài liên kết $\text{C-O}$.
- Áp dụng lý thuyết $\text{RRKM}$ tính hằng số tốc độ phản ứng vi cổ điển $k(E)$ và hằng số tốc độ tổng $k_{tot}$ trong dải nhiệt độ $300\text{--}1000\text{ K}$, cho thấy sự phù hợp với dữ liệu thực nghiệm của Wenhui Feng.
- Hệ $\text{HCNO} + \text{H}$:
- Tính toán hằng số tốc độ cho ba kênh đầu vào bằng $\text{TST}$: $\text{HCNO} + \text{H} \rightarrow \text{HCNO-H}$ ($k_a$); $\text{HCNO} + \text{H} \rightarrow \text{HCN(H)O}$ ($k_b$); $\text{HCNO} + \text{H} \rightarrow \text{CNO} + \text{H}_2$ ($k_c$).
- Sử dụng lý thuyết $\text{RRKM}$ tính toán hằng số tốc độ phản ứng giữa nguyên tử $\text{H}$ với nguyên tử $\text{C}$ trong $\text{HCNO}$ và xác định hằng số tốc độ tổng cộng $k_{tot}$ theo nhiệt độ.
Kết quả và những đóng góp mới
-
Đóng góp mới về mặt phương pháp và độ chính xác tính toán:
- Ứng dụng kết hợp phương pháp $\text{DFT}$ ($\text{B3LYP}/6\text{-}311++\text{G}(3df,2p)$) với phương pháp tương tác chùm mức cao $\text{CCSD(T)}$ và kỹ thuật ngoại suy bộ hàm cơ sở đầy đủ $\text{CCSD(T)/CBS}$, đảm bảo sai số năng lượng không vượt quá $2\text{ kcal/mol}$.
- Kết hợp đồng thời các lý thuyết động học hiện đại: $\text{TST}$ cho các kênh có rào cản, $\text{VTST}$ cho các kênh không có trạng thái chuyển tiếp và $\text{RRKM}$ giải phương trình master đa bước cho các quá trình đồng phân hóa đơn phân tử.
-
Đóng góp mới về cơ chế hóa học và bề mặt thế năng:
- Xây dựng hoàn chỉnh bề mặt thế năng và xác định các thông số nhiệt động tiêu chuẩn cho 9 hệ phản ứng pha khí giữa $\text{HCNO}$ với các gốc tự do, nguyên tử và phân tử ($\text{OH}$, $\text{SH}$, $\text{NH}_2$, $\text{CH}_3$, $\text{F}$, $\text{H}$, $\text{C}_2\text{H}$, $\text{C}_6\text{H}_5$, $\text{HF}$).
- Lần đầu tiên khảo sát cơ chế phản ứng của $\text{HCNO}$ với các gốc hiđrocacbon chưa no có liên kết $\pi$ ($\text{C}_2\text{H}$) và gốc thơm ($\text{C}_6\text{H}_5$).
- Làm sáng tỏ cơ chế hình thành sản phẩm trong hệ $\text{HCNO} + \text{OH}$: chứng minh kênh sản phẩm chính là $\text{CO} + \text{HNOH}$ và $\text{HCO} + \text{HNO}$ (không có rào cản từ $\text{IS10}$), kênh phụ là $\text{CH}_2\text{O} + \text{NO}$, giải thích triệt để các bất cập trong các mô hình lý thuyết trước đó của Miller và Song Wang.
- Làm sáng tỏ cơ chế đồng phân hóa $\text{HCNO} \rightarrow \text{HNCO}$ dưới sự xúc tác của các nguyên tử và gốc tự do trong quá trình cháy và trong môi trường khí quyển giữa các vì sao (phù hợp với dữ liệu thiên văn từ kính IRAM 30m).
-
Thiết lập cơ sở dữ liệu học thuật:
- Xây dựng hệ thống dữ liệu chi tiết cho hơn 600 cấu trúc phân tử, bao gồm thông số hình học tối ưu, năng lượng điểm không ($\text{ZPE}$), tần số dao động và các hàm nhiệt động học tiêu chuẩn.
- Cung cấp bộ hằng số tốc độ phản ứng chi tiết và tỉ số phân chia nhánh cho hai hệ $\text{HCNO} + \text{OH}$ và $\text{HCNO} + \text{H}$ trong dải nhiệt độ $300\text{--}1000\text{ K}$ ở áp suất 1 atm.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Đối với các hệ phản ứng có kích thước phân tử lớn như $\text{HCNO} + \text{C}_2\text{H}$ và $\text{HCNO} + \text{C}_6\text{H}_5$, việc tính toán năng lượng ở mức $\text{CCSD(T)/CBS}$ gặp hạn chế về tài nguyên tính toán, do đó phải thực hiện ở mức $\text{CCSD(T)}/6\text{-}311+\text{G}(2df,p)$ hoặc $\text{B3LYP}/6\text{-}311+\text{G}(3df,2p)$. Dữ liệu động học $\text{RRKM}$ mới chỉ tập trung tính toán chi tiết cho 2 trong số 9 hệ phản ứng ($\text{HCNO} + \text{OH}$ và $\text{HCNO} + \text{H}$) tại áp suất 1 atm.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng tính toán động học $\text{RRKM/VTST}$ cho các hệ phản ứng còn lại ($\text{HCNO}$ với $\text{CH}_3$, $\text{NH}_2$, $\text{SH}$, $\text{F}$, $\text{C}_2\text{H}$, $\text{C}_6\text{H}_5$); khảo sát sự phụ thuộc của hằng số tốc độ vào áp suất trong dải rộng (từ điều kiện chân không vũ trụ đến áp suất cao trong buồng đốt); và ứng dụng cơ sở dữ liệu phản ứng vào việc mô phỏng mạng lưới phản ứng cháy hoàn chỉnh.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên sâu cho:
- Nghiên cứu sinh và học viên cao học ngành Hóa lý thuyết, Hóa lý và Hóa học tính toán: Tham khảo quy trình kết hợp các phương pháp lượng tử $\text{DFT}$, $\text{CCSD(T)/CBS}$ và phương pháp động học thống kê $\text{RRKM/VTST}$ trong việc giải quyết cơ chế phản ứng pha khí phức tạp.
- Các nhà khoa học trong lĩnh vực Hóa học khí quyển và Hóa học sự cháy: Sử dụng hệ thống dữ liệu về nhiệt động, bề mặt thế năng và hằng số tốc độ của các phản ứng liên quan đến $\text{HCNO}$ để hoàn thiện các mô hình mô phỏng quá trình xử lý khí thải $\text{NO}_x$ và cơ chế cháy của nhiên liệu hóa thạch.
- Giảng viên đại học: Sử dụng các phần phân tích về lý thuyết $\text{FMO}$, $\text{HSAB}$, thuyết $\text{TST}$, $\text{VTST}$ và $\text{RRKM}$ làm tài liệu giảng dạy chuyên đề cho các học phần Hóa học lượng tử và Động học phản ứng nâng cao.
Câu hỏi thường gặp
1. Tại sao gốc $\text{OH}$ lại ưu tiên tấn công vào nguyên tử cacbon trong phân tử $\text{HCNO}$ thay vì các vị trí khác?
Theo tính toán năng lượng $\text{FMO}$, hiệu năng lượng giữa $\text{HOMO}(\text{HCNO})$ và $\text{LUMO}_\alpha(\text{OH})$ là nhỏ nhất ($8,980\text{ eV}$), chứng minh mật độ electron chuyển dịch từ $\text{HCNO}$ sang $\text{OH}$. Theo thuyết $\text{HSAB}$, độ mềm cục bộ của cacbon trong $\text{HCNO}$ đạt $s_0(\text{C}) = 0,832$, cao hơn so với hidro ($0,419$). Về mặt bề mặt thế năng, phản ứng tấn công vào $\text{C}$ tạo thành trung gian $\text{IS1}$ ($\text{HC(OH)NO}$, $-49,3\text{ kcal/mol}$) diễn ra tự phát không qua rào cản trạng thái chuyển tiếp, trong khi tấn công vào $\text{H}$, $\text{N}$, $\text{O}$ đều phải vượt qua các trạng thái chuyển tiếp có năng lượng tương quan dương từ $8,7$ đến $31,0\text{ kcal/mol}$.
2. Bề mặt thế năng của luận án đã khắc phục những điểm bất hợp lý nào trong các nghiên cứu trước đây về hệ $\text{HCNO} + \text{OH}$?
Nghiên cứu của Miller (2003) bỏ sót kênh tạo sản phẩm chính $\text{CO} + \text{HNOH}$. Nghiên cứu của Song Wang sử dụng bộ hàm cơ sở nhỏ khiến kênh tạo $\text{HCO} + \text{HNO}$ có rào cản cao ($-8,2\text{ kcal/mol}$) và kênh tạo $\text{CH}_2\text{O} + \text{NO}$ có hàng rào lên tới $24,2\text{ kcal/mol}$ (quá cao đối với một phản ứng xảy ra nhanh ở nhiệt độ thường). Luận án đã xác định lại chính xác: kênh $\text{CO} + \text{HNOH}$ ($\text{PR11}$) qua rào cản thấp $\text{T10P11}$ ($-23,2\text{ kcal/mol}$), kênh $\text{HCO} + \text{HNO}$ ($\text{PR14}$) không có trạng thái chuyển tiếp từ $\text{IS10}$, và kênh phụ $\text{CH}_2\text{O} + \text{NO}$ ($\text{PR2}$) có năng lượng phù hợp với thực nghiệm của Wenhui Feng.
3. Phương pháp ngoại suy $\text{CCSD(T)/CBS}$ được thực hiện như thế nào trong luận án?
Năng lượng $\text{CBS}$ ($E_{\text{CBS}}$) được ngoại suy từ năng lượng tổng $E(X)$ tính toán với chuỗi bộ hàm Dunning $\text{aug-cc-pVXZ}$ ($X = 2$ cho $\text{DZ}$, $X = 3$ cho $\text{TZ}$, $X = 4$ cho $\text{QZ}$) dựa trên cấu trúc tối ưu ở mức $\text{B3LYP}/6\text{-}311++\text{G}(3df,2p)$ thông qua phương trình ba tham số: $E(X) = E_{\text{CBS}} + b \exp[-(X-1)] + c \exp[-(X-1)^2]$. Phương pháp này cho sai số năng lượng thường dưới $2\text{ kcal/mol}$, giúp tính toán chính xác nhiệt hình thành $\Delta_f H^\circ_{0\text{K}}$ của $\text{HCNO}$ đạt $41,1\text{ kcal/mol}$ (thực nghiệm là $40,9 \pm 0,5\text{ kcal/mol}$) và thế ion hóa đạt $10,83\text{ eV}$ (trùng khớp hoàn toàn với thực nghiệm $10,83\text{ eV}$).
4. Luận án giải thích thế nào về sự xuất hiện đồng thời của $\text{HCNO}$ và $\text{HNCO}$ trong các đám mây đen vũ trụ?
Luận án chỉ ra rằng dưới tác dụng của các nguyên tử và gốc tự do trong môi trường pha khí (như nguyên tử $\text{H}$, gốc $\text{OH}$, $\text{CH}_3$), phân tử axit fulminic ($\text{HCNO}$) dễ dàng trải qua quá trình cộng hợp tạo thành các trạng thái trung gian, sau đó chuyển vị nguyên tử $\text{H}$ và phân cắt liên kết để tái tạo phân tử đồng phân bền vững hơn là axit isocyanic ($\text{HNCO}$). Đây là cơ chế đồng phân hóa có sự hỗ trợ của các tiểu phân hoạt động, giải thích việc kính thiên văn IRAM 30m quan sát được tín hiệu song song của cả hai cấu tử trong không gian liên sao.
Kết luận
Luận án của nghiên cứu sinh Nguyễn Trọng Nghĩa đã nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống về cấu trúc, cơ chế phản ứng, nhiệt động học và động học của axit fulminic ($\text{HCNO}$) với 9 tác nhân khác nhau trong pha khí bằng các phương pháp hóa học tính toán hiện đại ($\text{B3LYP}$, $\text{CCSD(T)/CBS}$, $\text{TST}$, $\text{VTST}$, $\text{RRKM}$). Công trình đã làm sáng tỏ cơ chế chi tiết của phản ứng $\text{HCNO} + \text{OH}$ và $\text{HCNO} + \text{H}$, giải quyết triệt để các mâu thuẫn về mặt năng lượng tồn tại trong các tài liệu trước đây và cung cấp bộ thông số động học, nhiệt động học đáng tin cậy. Kết quả nghiên cứu không chỉ đóng góp cơ sở dữ liệu quan trọng cho lĩnh vực hóa học lý thuyết, hóa học sự cháy và hóa học khí quyển mà còn đóng vai trò làm sáng tỏ các quá trình biến đổi hóa học của các hợp chất chứa nitơ trong tự nhiên.