Nghiên Cứu Thành Phần và Hoạt Tính Sinh Học của Hành Tím Allium Ascalonicum Trước và Sau Lên Men

Nghiên cứu thành phần và hoạt tính sinh học của hợp chất trong hành tím allium ascalonicum trước và sau lên men, mang lại hiểu biết mới về lợi ích sức khỏe.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2019

129
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khám Phá Hoạt Tính Sinh Học Của Hành Tím Allium Ascalonicum

Hành tím (Allium ascalonicum) không chỉ là một gia vị phổ biến trong ẩm thực mà còn chứa nhiều hợp chất có hoạt tính sinh học. Nghiên cứu cho thấy hành tím có khả năng chống oxy hóa, kháng khuẩn và kháng u. Những hoạt tính này chủ yếu đến từ các hợp chất flavonoid như quercetin và các hợp chất chứa lưu huỳnh. Việc tìm hiểu sâu về hoạt tính sinh học của hành tím sẽ giúp nâng cao giá trị dinh dưỡng và ứng dụng trong y học.

1.1. Thành Phần Hóa Học Trong Hành Tím Allium Ascalonicum

Hành tím chứa nhiều hợp chất flavonoid, glycoside và các hợp chất chứa lưu huỳnh. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng quercetin, quercitrin và isoalliin là những hợp chất chính có trong hành tím. Những hợp chất này không chỉ mang lại hương vị đặc trưng mà còn có tác dụng sinh học mạnh mẽ.

1.2. Hoạt Tính Sinh Học Của Hành Tím Trước Và Sau Lên Men

Hoạt tính sinh học của hành tím có sự thay đổi rõ rệt trước và sau khi lên men. Nghiên cứu cho thấy rằng hành tím lên men có hàm lượng quercetin tự do cao hơn, trong khi các glycoside quercetin giảm. Điều này cho thấy quá trình lên men có thể làm tăng khả năng chống oxy hóa và kháng khuẩn của hành tím.

II. Vấn Đề Và Thách Thức Trong Nghiên Cứu Hành Tím

Mặc dù hành tím có nhiều lợi ích sức khỏe, nhưng việc nghiên cứu về nó vẫn còn hạn chế. Các nghiên cứu hiện tại chủ yếu tập trung vào tỏi mà ít chú ý đến hành tím. Điều này tạo ra một khoảng trống trong hiểu biết về các hợp chất và hoạt tính sinh học của hành tím. Cần có nhiều nghiên cứu hơn để xác định rõ ràng các lợi ích sức khỏe của hành tím.

2.1. Thiếu Thông Tin Về Hợp Chất Trong Hành Tím

Nhiều nghiên cứu hiện tại chưa khai thác hết tiềm năng của hành tím. Các hợp chất như flavonoid và các hợp chất chứa lưu huỳnh vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ. Điều này dẫn đến việc chưa có nhiều thông tin về lợi ích sức khỏe của hành tím.

2.2. Khó Khăn Trong Việc Đánh Giá Hoạt Tính Sinh Học

Việc đánh giá hoạt tính sinh học của hành tím gặp nhiều khó khăn do thiếu các phương pháp chuẩn hóa. Các nghiên cứu cần phải được thực hiện với các tiêu chuẩn nghiêm ngặt để đảm bảo tính chính xác và đáng tin cậy của kết quả.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Hoạt Tính Sinh Học Của Hành Tím

Để nghiên cứu hoạt tính sinh học của hành tím, các phương pháp như sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC), sắc ký bản mỏng và phân tích khối phổ (LC-MS) được sử dụng. Những phương pháp này giúp xác định thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của các hợp chất trong hành tím trước và sau khi lên men.

3.1. Phương Pháp Lên Men Hành Tím

Quá trình lên men hành tím được thực hiện bằng cách sử dụng vi khuẩn lactic. Phương pháp này không chỉ giúp tăng cường hương vị mà còn làm tăng hàm lượng các hợp chất có lợi cho sức khỏe. Nghiên cứu cho thấy rằng hành tím lên men có hoạt tính sinh học cao hơn so với hành tím tươi.

3.2. Phân Tích Thành Phần Hóa Học

Sử dụng các phương pháp phân tích hiện đại như LC-MS giúp xác định chính xác các hợp chất có trong hành tím. Các hợp chất flavonoid và glycoside được phân lập và xác định, từ đó đánh giá được hoạt tính sinh học của chúng.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Hành Tím Trong Y Học

Hành tím không chỉ được sử dụng trong ẩm thực mà còn có nhiều ứng dụng trong y học cổ truyền. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng hành tím có khả năng hỗ trợ điều trị nhiều bệnh lý như cảm cúm, rối loạn tiêu hóa và các bệnh liên quan đến vi khuẩn. Việc sử dụng hành tím trong chế độ ăn uống có thể giúp cải thiện sức khỏe tổng thể.

4.1. Công Dụng Kháng Viêm Của Hành Tím

Hành tím có khả năng kháng viêm mạnh mẽ nhờ vào các hợp chất flavonoid. Nghiên cứu cho thấy rằng các hợp chất này có thể giúp giảm viêm và hỗ trợ điều trị các bệnh lý liên quan đến viêm nhiễm.

4.2. Hỗ Trợ Điều Trị Bệnh Tiểu Đường

Hành tím có thể giúp điều chỉnh đường huyết nhờ vào các hợp chất có trong nó. Việc sử dụng hành tím trong chế độ ăn uống có thể hỗ trợ điều trị bệnh tiểu đường và cải thiện sức khỏe tim mạch.

V. Kết Luận Về Nghiên Cứu Hành Tím Allium Ascalonicum

Nghiên cứu về hành tím (Allium ascalonicum) cho thấy rằng hành tím có nhiều hợp chất có hoạt tính sinh học. Việc lên men hành tím không chỉ làm tăng hàm lượng các hợp chất có lợi mà còn cải thiện hoạt tính sinh học của nó. Cần có nhiều nghiên cứu hơn để khai thác hết tiềm năng của hành tím trong y học và dinh dưỡng.

5.1. Tương Lai Của Nghiên Cứu Hành Tím

Nghiên cứu về hành tím cần được mở rộng để khám phá thêm nhiều hợp chất và hoạt tính sinh học. Các nghiên cứu trong tương lai có thể giúp xác định rõ hơn về lợi ích sức khỏe của hành tím và ứng dụng của nó trong y học.

5.2. Khuyến Nghị Cho Nghiên Cứu Tiếp Theo

Cần thiết lập các tiêu chuẩn nghiên cứu rõ ràng và áp dụng các phương pháp hiện đại để đảm bảo tính chính xác trong các nghiên cứu về hành tím. Việc hợp tác giữa các nhà khoa học và các tổ chức y tế có thể giúp thúc đẩy nghiên cứu và ứng dụng hành tím trong thực tiễn.

24/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu cho các nghiên cứu về các chất có dược tính ở trong hành tím và hành tím lên men. Mục tiêu nghiên cứu - Xác định thành phần hóa học trong hành tím và hành tím lên men. - Xác định các hoạt tính của cao chiết từ hành tím và hành tím lên men. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: hành tím tươi thu hoạch chính vụ (thu hoạch vào tháng 12) tại thị xã Vĩnh Châu tỉnh Sóc Trăng và hành tím lên men lactic.

- Phạm vi nghiên cứu: xác định sự thay đổi về thành phần hóa học của hành tím trước và sau lên men, đồng thời xác định hoạt tính của các phân đoạn cao chiết từ hành tím trước và sau lên men. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu - Cách tiếp cận: các nghiên cứu về hành tím lên men lactic hầu như chưa có nên chủ yếu dựa vào các bài báo liên quan từ hành tây và tỏi được lên men và một số bài báo lên men bằng nhiệt như: nhân sâm đỏ, tỏi đen, trà đen và một số sản phẩm khác. - Phương pháp nghiên cứu: lên men lactic, ngâm chiết kiệt, LC-MS, sắc ký cột, sắc ký bản mỏng, NMR, hoạt tính chống oxi hóa, hoạt tính kháng khuẩn, hoạt tính gây độc tế bào (kháng u). Ý nghĩa thực tiễn của đề tài Cho biết thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của các loại cao chiết từ hành tím và hành tím lên men.

Đồng thời so sánh sự khác nhau giữa chúng. 2 TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan hành tím 1.1 Hành tím Hành tím (Allium ascalonicum) là một loài thực vật rất phố biến ở Việt Nam. Chúng chủ yếu được sử dụng để làm tăng hương vị cho các món ăn. Tuy nhiên bên cạnh đó từ thời xưa tỏi và các thực vật thuộc nhóm hành đã được sử dụng như là những loại thuốc trong y học dân gian [1].

Hành tím có tên khoa học là Allium ascalonicum bắt nguồn từ chữ Ascalon - tên của một thị trấn ở miền Nam Palestin, nơi mà các nhà khoa học cho là nguồn gốc xuất xứ của giống hành này [10]. Allium ascalonicum thuộc: Giới thực vật (Plantae) Ngành Angiospermae Lớp Monocots Bộ Asparagales Họ Alliaceae Chi Allium Loài Allium ascalonicum Ở Việt Nam, Hành tím được trồng ở thị xã Vĩnh Châu – tỉnh Sóc Trăng và các nơi khác như huyện đảo Lý Sơn - tỉnh Quảng Ngãi, huyện Ninh Hải- tỉnh Ninh Thuận, huyện Gò Công - tỉnh Tiền Giang, huyện Ba Tri - tỉnh Bến Tre, huyện Duyên Hải - tỉnh Trà Vinh và thành phố Bạc Liêu - tỉnh Bạc Liêu [11]. Thành phần dinh dưỡng của hành tím sẽ thay đổi tùy theo vùng đất trồng tuy nhiên hầu hết chúng chỉ khác nhau về các hợp chất tự nhiên còn thành phần cơ bản là gần như nhau (thế hiện ở bảng 1.1 Hành tím Bảng 1.1 Thành phần dinh dưỡng của hành tím Thành phần Hàm lượng (%) Nước 79,8 Carbohydrate 16,8 Protein 2,5 Ash 0,8 Total lipid 0,1 4 1.2 Thành phần hóa học của hành tím Thông qua nhiều nghiên cứu thì thành phần hóa học của hành tím chủ yếu là các flavonoid và các glycoside của chúng, các hợp chất có chứa lưu huỳnh và các saponin [11] [13].1 Flavonoid và các glycoside của chúng Theo nghiên cứu của Ernesto và cộng sự thì sau khi thu nhận cao methanol từ của hành tím và giải ly bằng các hỗn hợp dung môi như n-butanol và nước, methanol và nước thông qua nhiều loại cột khác nhau đã xác định và tinh sạch được một số flavonoid và glycoside của chúng như quercetin, quercetin-4’-glucoside còn được gọi là Spiraeoside, quercetin-7-glucoside, quercetin 3,4’-diglucoside; isorhamnetin và và isorhamnetin 3,4’-diglucoside [13]. Ngoài ra thì theo một báo cáo khác, trong hành tây và hành tím còn có chứa thêm một số glucoside khác của quercetin và isorhamnetin như quercetin-3-rhamnoside còn được gọi là quercitrin và isorhamnetin-3-glucoside [14].

Theo một nghiên cứu khác thì vỏ hành tây còn có chứa một số hợp chất như kaempferol, apigenin-7-glucoside, kaempferol-7-glucoside và rutin còn được gọi là quercetin-3-rutinoside [15]. Bên cạnh đó thì theo nghiên cứu của Koo Hui Miean và cộng sự thì hành hoa (Allium fistulosum) có chứa một flavonoid khác so với các chất trên đó là luteolin, đồng thời trong nghiên cứu này họ cũng chỉ ra trong tỏi còn có chứa thêm hai hợp chất flavonoide khác là myricetin và apigenin [16]. Công thức phân tử, công thức cấu tạo và giá trị m/z của các hợp chất kể trên sẽ được trình bày cụ thể trong bảng 1.2 Thông số của một số hợp chất flavonoid và glucoside của chúng STT Tên hợp chất Công thức phân tử Giá trị m/z 303,0530 [M+H]+ 1 Quercetin C15H10O7 301,0359 [M-H]- Quercetin-4’-glucoside 463,0880 [M-H]- 2 C21H20O12 (Spiraeoside) 465,1020 [M+H]+ 3 Quercetin-7-glucoside C21H20O12 463,0880 [M-H]- 627,1550 [M+H]+ 4 Quercetin-3,4’-diglucoside C27H30O17 625,1410 [M-H]- Quercetin-3-rhamnoside 449,1063 [M+H]+ 5 C21H20O11 (Quercitrin) 447,0940 [M-H]- Quercetin-3-rutinoside 611,1602 [M+H]+ 6 C27H30O16 (Rutin) 609,1466 [M-H]- 7 Isorhamnetin C16H12O7 315,0503 [M-H]- 477,1065 [M-H]- 8 Isorhamnetin-3-glucoside C22H22O12 479,1188 [M+H]+ 9 Isorhamnetin-3,4’-diglucoside C28H32O17 641,1718 [M-H]- 287,0547 [M+H]+ 10 Kaempferol C15H10O6 285,0407 [M-H]- 11 Kaempferol-7-glucoside C21H20O11 447,0932 [M-H]- 12 Apigenin C15H10O5 271,0550 [M+H]+ 13 Apigenin-7-glucoside C21H20O10 431,1000 [M-H]- 14 Luteolin C15H10O6 287,0460 [M+H]+ 15 Myricetin C15H10O8 319,0445 [M+H]+ 6 Quercetin Spiraeoside Quercetin-7-glucoside Quercetin-3,4’-diglucoside Quercitrin Rutin Kaempferol Kaempferol-7-glucoside Hình 1.2 Công thức cấu tạo của quercetin, kaempferol và một số glucoside của chúng có trong hành tím, hành tây và tỏi 7 Isorhamnetin Isorhamnetin-7-glucoside Isorhamnetin-3,4’-diglucoside Apigenin Apigenin-7-glucoside Luteolin Myricetin Hình 1.3 Công thức cấu tạo của isorhamnetin, apigenin và một số glucoside của Theo nghiên cứu của Muir và cộng sự thì hành tím chứa rất nhiều fructans [32]. chúng; luteolin và myricetin có trong hành tỏi 8 1.2 Các hợp chất có chứa lưu huỳnh Hầu hết các hợp chất có chứa lưu huỳnh có trong các loại thực vật thuộc chi Allium tồn tại dưới 3 dạng chính là cysteine sulfoxides, 𝛾-glutamylcysteine và các hợp chất lưu huỳnh dễ bay hơi khác [33].

Các hợp chất 𝛾-glutamylcysteine như là 𝛾-glutamyl- S-2-propenyl-cysteine (GluAlC), 𝛾-glutamyl-S-trans-1-propenyl-cysteine (IsoGluAlC) và 𝛾-glutamyl-S-methyl-cysteine có trong tỏi đã được báo cáo trong nghiên cứu của Jabbes và cộng sự [34]. Hợp chất 𝛾- glutamylcystein đã được tìm thấy trong tế bào chất của hành tím cũng như các cây thuộc chi Allium khác, chúng dễ bị oxy hóa và thủy phân thành thiosulfinates như là S-alk(en)yl-cysteine sulfoxides (ACSO) đại diện là các chất như alliin, isoalliin, methiin và propiin [33] [34] [35]. ACSO và các thiosulfinate khác có thể được chuyển đổi thành các hợp chất có chứa lưu huỳnh dễ bay hơi như ajoenes (bao gồm đồng phân tran- và cis-), allicin, vinyldithiin, diallyl-, methyl allyl-, và diethyl mono-, di-, tri-, tetra-, penta-, and hexasulfides, bởi enzyme allinase [33] [36] [37]. Đồng thời dựa theo nghiên cứu của Trinh và cộng sự thì trong hành tím ở Vĩnh châu có chứa các hợp chất sulfur đặc trưng như isoalliin (S-1-propenyl-L-cysteine sulfoxide), allicin và các sản phẩm chuyển hóa dễ bay hơi như dipropyl disulfide, dipropyl trisulfide, methyl propyl trisulfide [11].

Theo báo cáo của Liguori và công sự thì họ đã xác định được một số hợp chất có chưa lưu huỳnh ở trong hành tây như propylene sulfide, dimethyl sulfide, methyl-1-propenyl disulfide (cis-, tran-), propenyl propyl disulfide (cis-, tran-), … [35]. Thêm vào đó các hợp chất có chưa lưu huỳnh dễ bay hơi (còn được gọi là tinh dầu) có trong tỏi cũng đã được báo cáo như allyl methyl trisulfide, allyl methyl disulfide (cis-, tran-), allicin, diallyl disulfide, dially trisulfide, 2-vinyl-4H-1,3-dithiine, … [38]. Công thức phân tử, công thức cấu tạo và giá trị m/z của các hợp chất kể trên sẽ được trình bày cụ thể trong bảng 1.3 Thông số của một số hợp chất có chứa lưu huỳnh ở trong hành tím, hành tây và tỏi STT Tên hợp chất Công thức phân tử Giá trị m/z 1 Alliin C6H11NO3S 178,0000 [M+H]+ 2 Isoalliin C6H11NO3S 178,0538 [M+H]+ 3 Methiin C4H9NO3S 152,0381 [M+H]+ 4 Propiin C6H13NO3S 180,0685 [M+H]+ 5 Ajoene C9H14OS3 235,0285 [M+H]+ 6 Allicin C6H10OS2 161,0095 [M-H]- 7 2-vinyl-4H-1,3-dithiine C6H8S2 145,0146 [M+H]+ 8 Dipropyl disulfide C6H14S2 151,0615 [M+H]+ 9 Dipropyl trisulfide C6H14S3 183,0386 [M+H]+ 10 Methyl propyl trisulfide C4H10S3 155,0023 [M+H]+ 11 Propylene sulfide C3H6S 75,0000 [M+H]+ 12 Dimethyl sulfide C2H6S 63,0268 [M+H]+ 13 Methyl-1-propenyl disulfide C4H8S2 121,0146 [M+H]+ 14 Propenyl propyl disulfide C6H12S2 149,0459 [M+H]+ 15 Allyl methyl trisulfide C4H8S3 152,9866 [M+H]+ 16 Allyl methyl disulfide C4H8S2 121,0146 [M+H]+ 17 Diallyl disulfide C6H10S2 147,0302 [M+H]+ 18 Dially trisulfide C6H10S3 179,0023 [M+H]+ 𝛾-glutamyl-S-2-propenyl- 19 C11H18N2O5S 291,1015 [M+H]+ cysteine 𝛾-glutamyl-S-trans-1- 20 C11H18N2O5S 289,0858 [M-H]- propenyl-cysteine 21 γ-glutamyl-S-methyl-cysteine C9H16N2O5S 263,0702 [M-H]- 10 Isoalliin Alliin Propiin Methiin Allicin Ajoene Dipropyl disulfide Dipropyl trisulfide 2-vinyl-4H-1,3-dithiine Methyl propyl trisulfide Hình 1.4 Công thức cấu tạo của các chất ACSO và một số hợp chất có chứa lưu huỳnh dễ bay hơi ở trong hành tím, hành tây và tỏi 11 Dimethyl sulfide Propylene sulfide Propenyl propyl disulfide Methyl-1-propenyl disulfide Allyl methyl trisulfide Allyl methyl disulfide Dially trisulfide Diallyl disulfide γ-glutamyl-S-trans-1-propenyl-cysteine γ-glutamyl-S-2-propenyl-cysteine γ-glutamyl-S-methyl-cysteine Hình 1.5 Công thức cấu tạo của một số 𝛾-glutamylcysteine và các hợp chất có chứa lưu huỳnh dễ bay hơi trong hành tím, hành tây và tỏi 12 1.3 Steroid saponin và Anthocyanin Theo báo cáo của Matsuura năm 2001 thì trong tỏi có chứa rất nhiều loại steroid saponin, chúng chủ yếu bao gồm furostanol, spirostanol và các aglycones của chúng [58]. Bình thường trong tỏi không phát hiện sự có mặt của các spirostanol saponin [58].

Sự chuyển đổi của furostanol saponin trong tỏi thành spirostanol saponin là do quá trình cắt đứt một nhóm glucose bởi enzyme β-glucosidase trong quá trình nghiển hoặc cắt lát [58]. Dựa vào báo cáo này thì tỏi và các thực vật thuộc chi Allium có khả năng chứa các steroid saponin như β-chlorogenin, proto-eruboside-B, eruboside-B, sativoside-B1, sativoside-B1-sp, agigenin, ampeloside-Bf1, ampeloside-Bs1, laxogenin, chinenoside-I, chinenoside-I-sp [58]. Bên cạnh đó thì theo nghiên cứu của Ernesto và cộng sự thì họ đã phát hiện ra hai chất mới thuộc nhóm chất furostanol saponin có trong hành tím là ascalonicoside A1/A2 và ascalonicoside B [13]. Ngoài ra ở củ hành đỏ cũng đã được chứng minh là có chứa hàm lượng anthocyanin khá cao và hơn 50% các anthocyanin trong hành đỏ là các dẫn xuất của cyanindin, bên cạnh đó còn có sự xuất hiện của các dẫn xuất của peonidin, petunidin và delphidin [59].

Trong nghiên cứu của Fredotovic và cộng sự, họ đã xác định được bốn glucodise anthocyanin có trong hành tây và Allium x cornutum như sau: peonidin 3’-glucoside, petunidin 3’-glucoside, delphinidin 3’-glucoside, malvidin 3’-glucoside [60]. Công thức phân tử, công thức cấu tạo và giá trị m/z của các hợp chất kể trên sẽ được trình bày cụ thể trong bảng 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ