ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam là một đất nƣớc có nguồn tài nguyên vô cùng phong phú và đa dạng. Tuy nhiên trong thời kỳ đổi mới công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nƣớc đang trên đà phát triển nguồn tài nguyên đang bị suy giảm và tàn phá nghiêm trọng. Đặc biệt là nguồn tài nguyên rừng với nhiều nguyên nhân khác nhau mà những năm gần đây nó đang dần suy kiệt về cả trữ lƣợng và tính đa dạng sinh học. Rừng đóng vai trò vô cùng quan trọng cuộc sống con ngƣời chính vì thế nó đang là mối quan tâm lớn nhất nƣớc ta.
Làm thế nào bảo tồn đƣợc tính đa dạng sinh học để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của các loài là vấn đề cấp bách mà đất nƣớc các nhà nghiên cứu quan tâm hàng đầu. Nấm là loài chiếm số lƣợng lớn góp phần làm tăng tính đa dạng sinh học trong nguồn tài nguyên. Hiện nay trên thế giới có khoảng 7000 loài nấm lớn nhƣng thực tế chỉ có 3000 loài nấm lớn đã biết, phần lớn chƣa đƣợc nghiên cứu công dụng và lợi ích. Việc nghiên cứu và lợi dụng các loài nấm lớn có tác dụng rất lớn để bảo tồn đa dạng sinh học góp phần làm giàu rừng, phát triển rừng bền vững.
Nấm Lỗ là quẩn thể sống trên thân gỗ và đất. Là loại nấm có rất nhiều công dụng và lợi ích nhƣ làm dƣợc liệu, làm thuốc chữa bệnh… Đặc biệt nấm Lỗ có nhiệm vụ phân giải lignin, xenlulose, hemixenlulose biến thành hợp chất hữu cơ đơn giản hoặc biến thành các hợp chất vô cơ làm chất dinh dƣỡng cho cây hấp thụ từ đó hoàn thành quá trình tuần hoàn vật chất và năng lƣợng trong hệ sinh thái. Hiện nay có rất nhiều nghiên cứu hƣớng tới việc nghiên cứu và phát hiện nấm. Chính bởi sự phong phú về loài cũng nhƣ lợi ích của nấm Lỗ đem lại tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu tính đa dạng sinh học của các loài nấm Lỗ (Polyporaceae) tại vườn Quốc gia Ba Vì”.
Nhằm bổ sung về những thông tin còn hạn chế về đặc điểm sinh học, sinh thái của loài nấm Lỗ nơi đây, làm cơ sở cho việc quản lý, bảo tồn các loài nấm có ích, nhận biết đƣợc đặc điểm của các loài nấm có hại trong khu vực nghiên cứu. 1 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới Theo thống kê trên thế giới đã có đến 500.000 tài liệu nói về nấm, trong đấy cũng có nhiều tài liệu đề cập đến thành phần loài, đặc điểm hình thái và tính đa dạng sinh học của nấm Lỗ. Những năm gần đây nhiều nhà nấm học đều ủng hộ quan điểm phân loại của Hibbett và M.
Aime (2006) trong cuốn "Kingdom Fungi" mà Kirk P. biên soạn trong cuốn "Từ điển Nấm" (Dictionary of the Fungi) xuất bản lần thứ 10 năm 2008. Chủ yếu là nâng ngành phụ nấm Đảm (Basidiomycotinaơ) thành ngành chính (Basidio-mycota). Theo Mao Xiaogiang (2000), Trung Quốc có khoảng 6000 loài, số loài đã biết có gần 2000 loài, phần lớn chúng thuộc các loài nấm Lỗ.
Tại Ấn Độ, nhiều nhà nấm học đã nghiên cứu về nấm Lỗ ở một số vùng khác nhau nhƣ Radariv et al đã nghiên cứu phát hiện 256 loài nấm Lỗ ở Tây Ghats bang Maharashtra. Trong danh lục nấm Lỗ Israel, Daniel Tura (2010) và cộng sự đã ghi chép đƣợc 242 loài thuộc 11 chi. Trong rừng mƣa nhiệt đới Brazil năm 2002, Tatiana B. Gibertoni cũng thông báo về số loài nấm Lỗ mọc trong rừng trên các dạng khác nhau nhƣ trên gỗ, trên cây sống, trên đất.Tại Litva một số tác giả đã nghiên cứu thành phần loài nấm Lớn và nấm Nhầy, năm 2013 công bố 326 loài nấm Lớn tại vƣờn Asveja Regional (Lithuania).
Năm 2013 Roy Halling, vƣờn Thực vật New York Mỹ đã phát hiện nhiều loài nấm nhiệt đới và cận nhiệt đới ở Indonesia, Malaysia, Papua New Guinea và Thái lan. Nhà nấm học Nhật Bản, tiến sỹ Tsutomu Hattori đã nghiên cứu nấm Lỗ ở các nƣớc Nhật Bản, Trung Quốc, Malaysia và Thái lan; Nakason K.K đã công bố một số loài thuộc chi Epithele (bộ nấm Lỗ Polyporales) ở Thái Lan và một số nƣớc khác nhƣ Côngô, Nam Phi và Đài Loan. Đặc biệt, những 2 năm gần đây các nhà nấm học tập trung phân loại nấm Linh chi (Ganoderma sp.) ở các nƣớc nhiệt đới. Đã có rất nhiều nghiên cứu về nấm Lỗ theo tác giả Wei Yulian (2004) có kết luận rằng nấm mục có tác dụng không thể thay thế đƣợc trong vòng tuần hoàn vật chất rừng, tăng tính đa dạng và làm giàu rừng.
Zong Wu (2009) cũng đã đê cập đến pân bố địa của nấm lỗ trên gỗ. Zhang Xinbo (2011) đã nghiên cứu tính đa dạng của nấm Lỗ thông qua nghiên cứu tính đa dạng di truyền của nấm lớn ở Trung Quốc bằng phƣơng pháp sinh học phân tử. Ngoài ra có rất nhiều công trình của các tác giả nghiên cứu về mối quan hệ của nấm Lỗ tới sinh vật, con ngƣời cũng nhƣ môi trƣờng. tác dụng tiêu diệt tuyến trùng, chữa bệnh, kháng ung thƣ là những phát hiện có ý nghĩa vô cùng quan trọng với cuộc sống con ngƣời.
Zhou Liwei (2013) đã nghiên cứu việc bảo tồn nấm Lỗ nói chung và nấn ăn, dƣợc liệu nói riêng. Ông đã chia thành 3 loại: loại có nguy cơ tuyệt chủng, loại quý, loại hiếm. Uỷ ban nấm Châu Âu (ECCF) cũng đã đề cập việc đƣa nhiều loài vào sách đỏ của Châu Âu và từng nƣớc. Việc nghiên cứu tính toán chỉ số đa dạng của nấm lớn những năm gần đây đang đƣợc chú trọng và phát triển hơn.
Tại Việt Nam Trong giới sinh vật, nấm có khoảng 1. Các nhà nấm học mới chỉ biết tên 70.000 loài, chiếm gần 50% tổng số loài. Việt Nam là một nƣớc nhiệt đới, địa hình phức tạp, khí hậu và thảm thực vật đa dạng, số loài sinh vật khá nhiều và phong phú. Tuy nhiên, hiện nay nƣớc ta có bao nhiêu loài nấm vẫn là một câu hỏi, bởi chƣa có số liệu chính xác.
Nƣớc ta có khí hậu nhiệt đới ẩm là điều kiện thuận lợi cho nhiều loài sinh vật phát sinh phát triển. Chính bởi thế sinh vật ở Việt Nam rất đa dạng và phong phú. Nấm cũng là loài chiếm số lƣợng lớn trong hệ sinh thái, chúng có rất nhiều loài mà hiện nay chúng ta chƣa thể phát hiện hết. 3 Ở Việt Nam có rất nhiều công trình nghiên cứu đi sâu vào bản chất sinh học, sinh lý của nấm là công trình “Một số vấn đề về nấm học” của Bùi Xuân Đồng (1977), “Khoa học bệnh cây” của Đƣờng Hồng Dật (1979), “Đặc điểm sinh học của một số loài nấm phá hoại gỗ” Trần Văn Mão (1984), “Nấm lớn Cúc Phƣơng” của Trần Văn Mão và cộng sự (2004).
Các tác giả đi sâu vào nghiên cứu thành phần loài và một số đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của nấm mục gỗ. Nhƣng nỗi bật nhất là công trình nghiên cứu về nấm Lớn của tác giả Trịnh Tam Kiệt (1981) “Khu nấm hệ lớn miền Bắc”. 4 CHƢƠNG 2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, DÂN SINH KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU 2. Điều kiện tự nhiên 2.
Vị trí địa lý Vƣờn Quốc gia Ba Vì gồm 2 vùng: vùng rừng cấm và vùng rừng đệm vƣờn Quốc gia Ba Vì có tọa độ địa lý là: Từ đến vĩ độ Bắc Từ đến kinh độ Đông Vƣờn Quốc gia Ba Vì nằm trên địa bàn 5 huyện: Ba Vì, Thạch Thất, Quốc Oai Thành phố Hà Nội, huyện Lƣơng Sơn, Kỳ Sơn tỉnh Hòa Bình, cách thủ đô Hà Nội 60Km theo đƣờng quốc lộ 21A, 87. Vƣờn Quốc gia Ba Vì nằm ở trung tâm núi Tản Viên Ba Vì, có diện tích 7377 ha. Phía Bắc vƣờn Quốc gia là các xã Ba Trại, Ba Vì, Tản Lĩnh; phía Đông là các xã Vân Hòa, Yên Bài, thuộc huyện Ba Vì; phía Nam là huyện Lƣơng Sơn tỉnh Hòa Bình.Địa hình địa thế Ba Vì là một vùng núi trung bình, núi thấp và đồi nối tiếp bán sơn địa. Trong Vƣờn Quốc gia Ba Vì có một số đỉnh núi với độ cao trên 1000m nhƣ Đỉnh Vua (1296m), đỉnh Tản Viên (1227m), đỉnh Ngọc Hoa (1131m), đỉnh Việt Nam (1081m) và một đỉnh thấp hơn nhƣ đỉnh Hang Hùm 776m, đỉnh Gia Dê 714m… 2.
Thổ nhưỡng Nền chính của Ba Vì là các loại đất phiến thạch sét và sa thạch đá hỗn hợp, đá poocphilit. Quá trình feralit hóa trong toàn vùng, thể hiện rõ rệt màu sắc của đất và những nơi bị xói mòn mạnh. Khí hậu thủy văn. Khu vực vƣờn Quốc gia Ba Vì có khí hậu phong phú và đa dạng, chịu ảnh hƣởng của nhiều yếu tố sinh khí hậu đặc thù.
Nằm ở vĩ độ 21 độ Bắc, chịu tác động của cơ chế gió mùa. Tác động phối hợp của vĩ độ và gió mùa tạo nên loại khí hậu nhiệt đới ẩm với một màu đông khô lạnh. Chế độ nhiệt Phân bố nhiệt trung bình năm ở các vùng thấp dƣới 100m khoảng 23°C- 23,5°C, tƣơng ứng với tổng nhiệt 8300°C- 8400°C.Càng lên cao nhiệt độ càng giảm 0,55°C. Ở độ cao 500m nhiệt độ trung bình là 20°C còn ở 100m là 18°C.
sự biến đổi nhiệt đi kèm với sự biến đổi khí hậu cảnh quan từ nóng ẩm ở dƣới thấp lên khô lạnh ở trêm 500m. Biến đổi nhiệt độ theo mùa trong năm khá cao, khoảng 12 độ. Mùa lạnh ở vùng chân núi kéo dài từ tháng 11 đến giữa tháng 3, còn lại là mùa nóng. Tháng nóng nhất nhiệt độ lên tới 28 đến 29°C, tháng mùa lạnh nhiệt độ trung bình 16 đến 16,5°C.
Ở vùng núi cao trên 100 m nhiệt độ trung bình tháng không vƣợt quá 32°C. Dao động nhiệt ngày đêm có biên độ khá lớn khoảng 8°C. Chế độ ẩm lƣợng mƣa Lƣợng mƣa trung bình hằng năm tƣơng đối cao và không đồng đều. Ở vùng núi cao và sƣờn đông có lƣợng mƣa từ 2000 đến 2400mm trên năm.
Ở vùng xung quanh núi từ 1600 đến 2000mm trên năm. Lƣợng mƣa phân bố không đều trong năm, lƣợng mƣa tháng 6 trong mùa mƣa chiếm 80% lƣợng mƣa cả năm. Mƣa lớn tập chung vào tháng 7, 8, 9. Khả năng bốc hơi khoảng 1000 đến 1200 mm trên năm.
Các yếu tố khí hậu khác Bức xạ hằng năm từ 120 đến 130 Kcal, thấp hơn so với các vùng khác cung vĩ độ. Tốc độ gió ở vùng núi khuất tƣơng đối yếu, trung bình 1- 2m trên giây Độ ẩm trung bình tháng 80 đến 90 % 6 2. Tài nguyên thiên nhiên 2. Tài nguyên đất Các loại đất chính trong khu vực gồm các loại đất phát triển trên đá khác nhau: đất feralit màu vàng, đất bazan màu nâu đỏ.