VIÊN TÀI HÀ TẤN PHÁT - GHEBat Tong Kin Dich Bat Trach Chinh Tong i Viên Tài - Hà Tấn Phát Í (Biên soạn) i | Ì BAT TRACH | ;1 CHANH TONG (CHU BAT TRONG KINH DICH) Loại sách khảo cứu tỷ mỳ nhiều năm đúng theo sách cổ truyền Á Đông là Quyển Bát Trạch Minh Cảnh để xem phương hướng, cất nhà, trổ at cửa, xây mã mồ. NHA XUAT BAN LAO DONG Kính thưa quý vị độc giả Bổn sách mà tôi soạn ra và trình bày dưới mắt quý ngài đây, nguyên gốc chữ Nho tựa là “BÁT TRẠCH MINH CANH” chuyên xem phương hướng để cất nhà mà xưa nay người Việt Nam ta thường gọi là “Địa ly”. Nói về địa lý, phần đông ai có học chữ Nho và có đọc Kinh Dịch thi mdi hiéu Bat Trach là quý báu vì sách Bát Trạch là rút một phần trong muôn phần của bộ Kinh Dịch mà làm ra. Dịch có nghĩa là thay đổi biến chuyển theo hai thể Âm và Dương (tối và sáng), do đó mà truy nguyên sự biến hóa vô cùng của vũ trụ gồm cả muôn sự vật trong đời.
Bổn sách này, tôi lựa sẵn tuổi, tuổi nào hạp về phương hướng nào để cất nhà, theo số của Hà Đồ và Lạc Thơ trong Kinh Dịch. Nhà làm sách Bá Trạch quán thông thiên văn, rành Địa lý, am hiểu vũ trụ biến hóa, phải hiểu cả Âm Dương thuộc Ngũ Hành sanh và khắc mới làm ra được. Có lắm người cũng biết chữ Nho và cũng có sách Bát Trạch nhưng không ai chỉ dẫn thì cũng không làm sao mà phân tách tuổi nào biết cung nào tốt hay xấu. Tôi, nay đem ra trình bày bộ sách này được là vì trong gia đình tôi có bổn cũ từ xưa và lập thành sắn.
Do đó, tôi đem ra áp dụng thấy có kết quả rất hoàn toàn, cho nên mới dám đem ra trình bày hầu giúp quý vị nào có cần đến cũng khỏi phải thắc mắc khi muốn gây dựng một _5~ ngôi nhà đúng Phương hướng theo Địa lý, và hiện nay ở chốn thôn quê cũng còn yêu chuộng về khoa xem hướng cất nhà mà không có thầy địa lý, và cũng có người không rành mà lợi dụng khoa này thái quá, cho nên tôi sắp đặt rành rẽ từ tuổi Giáp Tý cho đến Quý Hợi là 60 tuổi mà trong sách gọi là Lực Giáp. Quý vị có bổn sách này thì cứ xem tuổi của quý vị rồi đặt địa bàn (tức phương hướng) thì biết liễn một cách dễ dàng. Bổn sách này dịch lại với sách cổ và rất đúng theo căn nguyên của nó, nên tôi để tựa là “Bát Trạch Chánh Tông ”. Trước khi trình bày bổn Bát Trạch này, tôi cúi đầu tạ ơn các bậc tiền nhân đã dày công nghiên cứu, để cho hậu thế hưởng nhờ, và tôi xin giữ đúng lương tâm chức nghiệp mà cáo thành bộ sách Bát Trạch Chánh Tông này, tôi chẳng dám bịa một lời theo ý riêng của tôi.
Bái bút Tác giả: Viên Tài - Hà Tấn Phát “SỐNG CÓ NHÀ THÁC CÓ MỒ ” (Cổ Ngữ) “Khdp nơi chúng ta lúc nào cũng bị nhuần thấm trong luông tạm gọi là Vũ trụ tuyển kết hợp bằng hàng triệu vi phân tử khác nhau xuyên qua ta hằng ngày, trong suốt đời chúng ta”. Trích trong bài tựa của Maurice de Boglie - Quyển “Les Rayons Cosmique” tác giả Le Prince Ringnet, chương 7. ‘vous sommes en tout moment et en tout liéu baignés pour au.si dies, dans le rayonnenient cosmiquet et traverrés chaque jour, pendant toute notre vie, par plusieurs millions de corpuscules divers qui li composent. Perface de Maurice de Boglie dans Les Rayons Cosmiques par Le Prince Ringne page 7”.
“Câu này trích trong quyển Tử Vi Đẩu Số của Ông Nguyễn Mạnh Bảo”. Chúng ta nên khám phá ra những sự huyển vi của tạo vật có ảnh hưởng đến đời sống của chúng ta thì chúng ta rất thích chí, chẳng khác nào vị thuyền trưởng khi ra biển mà trong tay đã có sẵn chiếc Địa bàn. Viên Tài HÀ TẤN PHÁT — 10— “ag _ hi an A SSS. Đây là bìa quyển "Bát Trạch Minh Cảnh” mà tôi dịch về phần phương hướng nhà cửa và mả mô bằng chữ Việt rất rành rẽ: xin trưng ra để làm bằng.
-11~ Hình thể của quả Địa câu Thev lich S6 hoc A Dong ma ciing goi la “TIEN THIEN BAT QUAI” pat 1 be Nery t ain Nilay Nae ; đệ Ma NUD ĐNô2 & cig fag aunt Nguyén van cua Bat quai thuộc Ngũ Hành nh vay: Can, tam liên, Tây Bắc, Tuất, Hợi Khẩm, trung mãn, chánh Bắc, đương Tý Cấn. phúc huyễn, Đông Bắc, Sửu Dẫn Chấn, ngưỡng bổn, chánh Đông, đương Mẹo Tốn, hạ đoan, Đông Nan,, Thìn Tv Ly, trung nư, chánh Nam, đương Ngọ Khôn, lục đoạn, Tây Nam, Mùi Thân Đoài, thượng khuyết, chánh Tây, đương Dậu CHUONG I Hình thể của quả Địa cầu nw ° x Theo lịch Số học Á Đông (là hình Bát quái) Cung Cần, hướng Tây Bắc, thuộc tuổi Tuất, Hợi Cung Khẩm, chánh hướng Bắc, thuộc tuổi Tý Cung Cấn, hướng Đông Bắc, thuộc tuổi Sửu, Dần Cung Chấn, chánh hướng Đông, thuộc tuổi Mẹo Cung Tốn, hướng Đông Nam, thuộc tuổi Thìn, Ty Cung Ly, chánh hướng Nam, thuộc tuổi Ngọ Cung Khôn, hướng Tây Nam, thuộc tuổi Mùi, Thân Cung Đoài, chánh hướng Tây, thuộc tuổi Dậu Trên đây giải nghĩa tám cung của Hình thể quả Địa cầu theo lịch Số học Á Đông (tức là hình Bát quái). Mỗi cung thuộc về hướng nào và hư#ng ấy thuộc về tuổi nào (là Dia Chi nao). WOG Càn : Trdi (le ciel) Kham : Nui (les liquidé, l’ eau) Can : Nui (les plissemnts Plateau, montagens) Chan : Điện (l' electricité: tonnerre, tonnerrem foudre) Tốn : Gió (Ï ai: le vent) Ly : Lửa (la cheleur: le feu) Khôn : Đất (la terre) Đoài : Đầm (les depressions: Mare et lacs) c wecs —14— nx e a Hình thể của quả Địa cầu THUỘU NGŨ HÀNH0 Cung Cần, Đoài thuộc hành Kim Cung Kham ~ hành Thủy Cung Khôn, Cấn - hành Thổ Cung Ly - hành Hỏa Cung Chấn, Tốn - hành Mộc Trên đây giải nghĩa đủ tám cung, cung nào thuộc về mạng nào.
MƯỜI THIÊN CAN HIỆP Nữi.: ˆ THUỘC VỀ NGŨ HÀNH Giáp hiệp Ất thuộc về Mộc Bính hiệp Đinh - vé Héa Mau hiép Ky _ về Thổ Canh hiệp Tân ~ vé Kim Nhâm hiệp Quý - về Thủy ` MƯỜI HAI ĐỊA CHI XUNG NHAU _THUOC VE NGS HANH Dan, Meo thuộc Mộc Ty, Ngọ — Hỏa Thân. Dậu — Kim Ty Hoi - Thủy Thìn, Tuất, Sửu, Mùi - thd (1) Bát Quái (8 cung) nghĩa là cũng như hình thế quả Địa cầu là trái đất mà chúng ta đứng ở đây. Nơi tròng giữa có hai thể Âm và Dương giao nhau mà sinh tổn cũng như điện lực phải có dây Âm và dây Dương (đây nóng va dây nguội) điều hda mdi phat ra dién iue dang (Négatif et Positif). —~15- THIÊN VĂN LẬP THÀNH THIÊN CANG) VÀ ĐỊA CHI@) THIÊN CAN: Giáp, Ất, Bính Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý là 10 Thiên Can.
ĐỊA CHI: Tý, Sửu, Dần, Mẹo, Thìn, Ty, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi là 12 Địa Chỉ. CAN, CHI THUOC AM DUONG®) THIÊN CAN: Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm thuộc Dương. At, Đinh, Tan, Quý, Kỷ thuộc Am. ĐỊA CHI: Tý, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất thuộc Dương.
Sửu, Mẹo, Ty, Mùi, Dậu, Hợi thuộc Âm. (1) Can: tức là Cán hay là Gốc, Thiên Can tức là gốc tự trời. (2) Chỉ: tức là Chi, là nhánh, Địa Chi tức là nhánh mọc ở đất. (3) Hành: theo luật sinh hóa của năm thế giao nhau mà sanh tồn gọi là Ngũ Hành, thì Thái Âm chịu ảnh hưởng của Thái Dương gọi là Âm-Dương.
Để sanh ra vạn vật gôm cả loài người, cũng như điện lực cần phải có dây nóng và dây nguội mới phát điện được. Trong thân thể ta cũng có đủ Ngũ Hành là: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Nếu thiếu một thế nào gì ta phát bịnh hay là chết mà khoa học hiện tại vẫn ching minh như thế. Như điện lực thì phải có dây âm và dây dương (dây nóng và dây nguội - negatif et aositi mới sanh ra lửa được.
(La raison de ceci - Nombre to est que les nombres I et o ingdiquent lé Forces pri-maires, positives et négatives de Lao’ Univers. Cesforces peuvent égalenment Sappelles male et Femelles - I: positiff, o: négatif) (Ly sé hoc). ~16- CAN, CHI THUỘC NĂM HÀNH VA BON PHƯƠNG BON MUA THIÊN CAN: Giáp, Ất thuộc hành Mộc là phương Đông. Bính, Đinh thuộc hành Hỏa là phương Nam.
Mậu, Kỷ thuộc hành Thổ là Trung ương (luồng giữa). Canh, Tân thuộc hành Kim là phương Tây. Nhâm, Quý thuộc hành Thủy là phương Bắc. DIA CHI: Dan, Meo, Thìn thuộc hành Mộc, giữa mùa xuân là phương Đông.
Tý, Ngọ, Mùi thuộc hành Hỏa, giữa mùa hạ là phương Nam. Thân, Dậu, Tuất thuộc hành Kin:, giữa mùa Thu là phương Tây. Hợi, Tý, Sửu thuộc hành Thủy, giữa mùa đông là phương Bắc. BON CHI: Thìn, Mùi, Tuất, Sửu nói về vị đơn thuộc hành Thổ là bốn tháng quý (bốn tháng cuối mùa là t;áng 3, tháng 6, tháng 9, tháng 12).
Bốn phương duy (bốn phương giáp: Đông Bắc, Tây Bắc, Đông Nam, Tây Nam). MƯỜI HAI THÁNG DỰNG ĐỊA CHI Nước Trung Hoa, từ đời vua Phục Huy mới làm lịch, phân vòng trời đất ra làm 12 phía, lấy 12 Địa Chỉ phối với 10 Thiên Can mà đặt tên phía, định một năm 12 tháng: cứ theo cán sao Bắc Đẩu chuyển về hé dung vô mỗi phía là một tháng. Bắt đầu từ phía Dần như vầy: Tháng Giêng dựng phía Dần (là tháng Dần) — Hai | - Mẹo (là tháng mẹo) - Ba _ Thìn (là tháng Thìn) — Tư - Ty da thang Ty) ~ Năm ~ Ngọ (là tháng Ngọ) - Sdu ~ Mùi (là tháng Mùi) — Bảy - Thân (là tháng Thân) -17— — Tám : _ Dậu (là tháng Dậu) — Chin - Tuất (là tháng Tuất) ~ Mười - Hợi (là tháng Hợi) — Mười một — Tý (là tháng Tý) — Chạp - Sửu (là tháng Sửu) Còn phối với 10 Thiên Can thì bắt đầu từ tháng Giáp Dân, rồi chuyển lần lần đi tới tháng 1 1 là Giáp Tý tháng 12 là Ất Sửu, qua tháng Giêng năm sau là Bính Dẫn. Năm thì lấy hai chữ đầu Can, Chi mà đặt, khởi từ năm Giáp Tý rồi chuyển lần đi cứ 10 Can là một Giáp, nghĩa là trải suốt 10 Can, qua năm thứ 11 là Giáp Tuất, trải qua 6 Giáp tới năm 60 là Quý Hợi thì qua năm 6[ trở lại là Giáp Tý (Lịch Trung Hoa và lịch Việt Nam ta ngày nay đều theo như thế).