Chương 1 CƠ SỞ KHAI THÁC VĂN CHƯƠNG PHẠM HỔ VÀO DẠY HỌC LÀM VĂN Ở TIỂU HỌC Nội dung của Chương này là mô tả, phân tích nhu cầu nguồn mẫu văn chương, thực trạng dạy học làm văn ở tiểu học hiện nay. Từ đó thấy được văn chương của Phạm Hổ phù hợp với dạy học làm văn ở tiểu học. Nhu cầu tham khảo nguồn mẫu văn chương trong dạy học làm văn hiện nay ở tiểu học 1. Thực trạng dạy học làm văn ở tiểu học hiện nay Ở tiểu học, chương trình làm văn được phân chia thành các nội dung theo các kiểu bài: dạy các nghi thức lời nói, nói viết phục vụ đời sống (trao đổi ý kiến, tóm tắt tin tức, giới thiệu địa phương, viết thư, điền vào giấy tờ,…), viết bài văn kể chuyện, viết bài văn miêu tả (tả đồ vật, cây cối, con vật, người, cảnh).
Trong đó, kể chuyện và miêu tả là hai kiểu bài chiếm thời lượng khá nhiều và đòi hỏi học sinh phải có sự vận dụng kiến thức của nhiều bộ môn khoa học khác nhau. Dạy làm văn (viết) là dạy cho học sinh tạo lập, sản sinh ngôn bản. Ngôn bản là chuỗi ngôn từ được sắp xếp theo một quy tắc nhất định, diễn đạt ý của người nói (người viết) trong giao tiếp. Hoạt động giao tiếp bao giờ cũng diễn ra trong một hoàn cảnh cụ thể, thuộc một lĩnh vực nào đó của cuộc sống xã hội.
Sản phẩm giao tiếp được đặt trong một phạm vi giao tiếp nhất định, gắn liền với mục tiêu giao tiếp cụ thể và đòi hỏi phải được diễn đạt theo các phong cách chức năng riêng biệt. Vì vậy, vận dụng những hiểu biết về phong cách ngôn ngữ trong dạy làm văn giúp cho học sinh có kiến thức tạo lập và lĩnh hội tốt các loại văn bản phù hợp với hoàn cảnh và mục đích giao tiếp. Hiện nay, người ta thường phân chia phong cách ngôn ngữ thành 6 loại: phong cách nghệ thuật, phong cách chính luận, phong cách khoa học, phong cách hành chính, phong cách báo chí và phong cách sinh hoạt. Trên cơ sở 9 phân chia này, các kiểu bài dạy làm văn (viết) sẽ hình thành cho học sinh cách dùng từ, diễn đạt theo đúng đặc trưng riêng của từng phong cách ngôn ngữ.
Theo đó, chương trình làm văn ở tiểu học chú trọng nhiều đến việc dạy các kiểu bài miêu tả, kể chuyện nhằm phát triển khả năng sử dụng ngôn từ nghệ thuật cho học sinh. Đồng thời, chương trình cũng bổ sung nhiều kiểu bài thuộc phong cách hành chính, phong cách sinh hoạt, phong cách báo chí phục vụ nhu cầu thực tiễn của người học. Bất kì hoạt động lời nói nào cũng chịu sự chi phối trực tiếp hoặc gián tiếp của các nhân tố tham gia giao tiếp. Do vậy, trong giao tiếp, người nói (người viết) phải chú trọng lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp cho phù hợp.
Việc trang bị thêm kiến thức cho học sinh về các loại phong cách này sẽ giúp cho học sinh chủ động trong cách dùng từ, diễn đạt ý một cách tường minh rõ ràng theo đúng yêu cầu bài tập. Phương pháp dạy học làm văn (viết) ở tiểu học hiện nay cũng đã có nhiều sự đổi mới. Học sinh cũng được chú trọng và phát huy được các năng lực về ngôn ngữ, cách diễn đạt của trẻ để học sinh có thể thỏa sức trong việc bộc lộ cảm xúc, cá tính, tình cảm của mình về cách làm văn. Ở bậc tiểu học, dạy học làm văn được coi là một nội dung chính và rất quan trọng, vì thế mà số tiết học trong nội dung này nhiều hơn với các nội dung khác.
Bởi đây là môn học giúp học sinh phát triển tư duy logic, ngôn ngữ, khả năng giao tiếp và hơn nữa cũng góp phần dạy thêm những phẩm chất, đạo đức của con người thông qua những bài học hay ý nghĩa. Đối với học sinh lớp 2 và lớp 3, dạy học làm văn (viết) qua việc tìm hiểu ngữ liệu giúp trẻ ghi nhớ, hiểu và tự viết các câu cấu trúc đơn giản. Trẻ ở độ tuổi này cũng cần biết về cách nhận diện, ứng dụng các đơn vị của Tiếng Việt để thực hành các kỹ năng nghe – nói – đọc – viết. Học sinh cần đọc thông viết thạo, sáng tạo các văn bản ngắn.
Còn đối với lớp 4 và lớp 5 thì việc dạy làm văn sẽ giúp học sinh trau dồi kỹ năng giao tiếp. Làm văn cũng giúp học sinh biết cách bộc lộ cảm xúc qua văn bản, phát triển những giá trị tốt đẹp trong cảm xúc. Từ đó, các kỹ 10 năng giao tiếp qua văn bản, giao tiếp với cộng đồng cũng được cải thiện. Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình học phân môn Tập làm văn ở cấp bậc tiểu học.
Về thuận lợi: Hiện nay ở các trường Tiểu học đại đa số học sinh đều được quan tâm từ phía nhà trường và các cô giáo bộ môn. Các thầy cô giáo dạy trong nội dung Tập làm văn luôn học hỏi và tìm ra những sáng kiến mới trong quá trình giảng dạy để giúp học sinh hứng thú và yêu thích môn học. Các tiết học trong phân môn Tập làm văn cũng không bị nhàm chán. Cơ sở thiết bị máy móc, máy chiếu, ti vi tại các trường tiểu học cũng được đầu tư giúp học sinh và thầy cô dễ dàng trong việc tiếp cận các kiến thức bên ngoài sách giáo khoa.
Bên cạnh những thuận lợi thì vẫn còn rất nhiều khó khăn từ phía học sinh. Do học sinh tiểu học vẫn còn hiếu động và ham chơi, học sinh chưa tập trung và hiểu hết được tầm quan trọng của việc học đặc biệt là đối với bộ môn Tiếng Việt. Nhiều em học sinh ngại khó, lười suy nghĩ và không thích các tiết tập làm văn vì sợ phải viết nhiều. Vì vậy mà dẫn đến việc giảng dạy bộ môn Tập làm văn trong trường Tiểu học vẫn là phân môn khó đối với học sinh.
Dự thảo đề án Đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông sau năm 2015 đã đưa ra những định hướng xây dựng chương trình mới cũng đã đóng góp một phần không nhỏ vào quá trình dạy làm văn ở Tiểu học. Trong Chương trình Tiếng Việt nhấn mạnh kết hợp dạy học tiếng Việt đã nhấn mạnh tầm quan trọng của môn Tiếng Việt trong việc kết hợp với các môn học khác để tạo ra những nội dung liên quan đến văn hóa, xã hội. Chương trình đặc biệt chú trọng kết hợp dạy Tiếng Việt với dạy Văn hoá và dạy Văn. Ngữ liệu để dạy Tiếng Việt là các văn bản dùng trong đời sống hoặc các trích đoạn từ các tác phẩm văn chương tiêu biểu.
Thông qua những ngữ liệu này, học sinh được học đọc, viết, nghe, nói, vừa được mở rộng hiểu biết về tự nhiên xã hội, văn hoá và văn học. Theo đó, dạy làm văn không tách rời với dạy các môn học khác. Đây là cơ sở để tích hợp nội dung các môn học 11 khác vào ngữ liệu dạy làm văn và tích hợp việc dạy làm văn khi dạy các môn học khác. Ngữ liệu từ các môn học khác được xem là nguồn tích hợp hữu hiệu tạo nên tình huống rèn luyện kỹ năng sử dụng tiếng Việt cho học sinh.
Từ việc khái quát nội dung chương trình làm văn (viết), chúng tôi nhận thấy chương trình đã chú trọng kết hợp đan xen giữa dạy học các văn bản nghệ thuật và các văn bản thông thường. Tần suất học sinh được rèn luyện các kỹ năng miêu tả cũng như các kỹ năng giao tiếp xã hội được nâng cao. Tuy vậy, chương trình còn chưa chú trọng xây dựng các kiểu bài nhằm phát triển ngôn ngữ miêu tả khoa học cho học sinh thông qua các môn học khác. Thêm vào đó, các kiểu bài dạy làm văn còn hạn hẹp ở vấn đề giáo dục những kỹ năng sống thiết thực với nhu cầu thực tiễn.
Thế nên, rất cần thiết để cơ cấu và xây dựng lại các kiểu bài làm văn cho phù hợp hơn trong điều kiện thực tế hiện nay. Đối với học sinh tiểu học, có thể nói làm văn là phân môn khó vì vốn từ của học sinh còn ít nên học sinh còn hạn chế trong cách diễn đạt, chưa biết sắp xếp các ý một cách logic. Quá trình nghiên cứu cho thấy còn rất nhiều em không thích học làm văn, tỏ ra lo lắng khi viết bài. Trên thực tế, khi miêu tả, việc lựa chọn vốn từ biểu đạt là việc làm vô cùng khó khăn đối với học sinh.
Đa số các bài văn mang tính liệt kê các chi tiết của đối tượng miêu tả. Điều này làm cho bài văn trở nên khô khan, thiếu chất biểu cảm trong miêu tả. Câu văn của học sinh thường dài dòng, rời rạc, chưa có sự liên kết, sắp xếp các ý rõ ràng,… Mặt khác, từ việc nghiên cứu một số kế hoạch dạy học, người nghiên cứu cũng nhận thấy đa số các tiết học được dạy một cách đại trà, rập khuôn. Các hoạt động được tổ chức tẻ nhạt dưới hình thức đàm thoại cá nhân, chưa tạo điều kiện cho học sinh phát triển ngôn ngữ.
Từ những hạn chế này cho thấy thực trạng làm văn của học sinh tiểu học đang có chiều hướng xuống dốc rõ rệt. Để dạy học làm văn (viết) có hiệu quả, cần phát huy vai trò tích cực của người học, coi trọng kết quả mà người học đạt được có giá trị ứng dụng như 12 thế nào trong cuộc sống. Như vậy, nội dung chương trình phải đáp ứng thị hiếu, không mang tính hàn lâm xa rời thực tiễn. Theo đó, chương trình cần đề ra “các văn bản phù hợp với lứa tuổi, sở thích, thị hiếu của học sinh đến các yêu cầu tạo lập các loại văn bản thiết thực và gần gũi trong cuộc sống” [1].
Qua đó, người học sẽ thông hiểu, ghi nhớ những gì đã nắm được qua hoạt động chủ động, nỗ lực của chính mình. Theo đó, các kiểu bài dạy làm văn không những phải đa dạng hoá về hình thức, nội dung mà còn phải giúp người học nhận thấy được nhu cầu thiết thực của nó. Khi ấy, người học là chủ thể của hoạt động, không chỉ đặt mình vào những lý thuyết có sẵn mà quan trọng là phải đặt mình vào tình huống có vấn đề của thực tiễn, để từ đó tìm kiếm, khám phá ra những hiểu biết mới cho bản thân. Thực trạng học phần làm văn ở học sinh tiểu học hiện nay vẫn đang ở lứa tuổi tò mò, ham học và hay bắt chước nhưng lại nhanh chán, nhanh quên những văn bản dài và khó.
Học sinh còn bị thụ động trong giờ học, chưa tập trung.