Chương 1: THÀNH PHẦN, NỘI DUNG VÀ GIÁ TRỊ CỦA TÀI LIỆU TẠI KHO LƯU TRỮ TỔNG CỤC HẢI QUAN 1. Quá trình hình thành và phát triển của Hải quan Việt Nam từ năm 1945 đến nay 1. Thuế quan cách mạng Việt Nam (Giai đoạn 1945 - 1954) Cách mạng tháng 8/1945 thành công, lập ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã mở ra một trang sử mới cho đất nước Việt Nam nói chung và ngành Hải quan nói riêng. Ngày 10/9/1945, Sở Thuế quan và Thuế gián thu - tiền thân của ngành Hải quan được thành lập, đánh dấu sự khởi đầu của Hải quan cách mạng Việt Nam với nhiệm vụ chính trị là bám sát và phục vụ kịp thời nhiệm vụ của Cách mạng, tạo nguồn thu cho Ngân sách quốc gia, kiểm soát hàng hoá xuất nhập khẩu, đấu tranh chống buôn lậu giữa vùng tự do và vùng tạm chiếm.
Hải quan Việt Nam trong giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thống nhất đất nước (Giai đoạn 1954 – 1975) Sự kiện quan trọng nhất của Hải quan Việt Nam trong giai đoạn này là ngày 27/02/1960, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã ký Nghị định số 03/CP ban hành Điều lệ Hải quan. Điều lệ Hải quan ra đời đã đánh dấu bước phát triển mới của Hải quan Việt Nam. Về cơ cấu tổ chức của Hải quan Việt Nam ngày một hoàn thiện dần từ Trung ương đến địa phương, các đơn vị Hải quan được thành lập kịp thời đáp ứng yêu cầu cách mạng. Hoạt động Kiểm soát xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh đáp ứng được yêu cầu đặt ra, góp phần hoàn thành nhiệm vụ đối ngoại của Đảng và Nhà nước, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
Hải quan Việt Nam giai đoạn sau khi thống nhất đất nước và trước đổi mới (Giai đoạn 1975 – 1986) Đầu thập kỷ 80, đất nước lâm vào khủng hoảng, nhiều kế hoạch không hoàn thành (năm 1981, xuất khẩu đạt 88%), Chính phủ ban hành một số chủ trương khuyến khích xuất khẩu, mở rộng quyền cho địa phương nhằm khắc phục những khó khăn trong đời sống nhân dân. Hoạt động Hải quan đứng trước 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com những thách thức lớn, đòi hỏi nhận thức về nhiệm vụ và chức năng của ngành phải có những chuyển biến. Trước tình hình này, được sự nhất trí của Bộ Chính trị Trung ương Đảng, ngày 30/8/1984, Hội đồng Nhà nước ra Nghị quyết số 547/NQ/HĐNN phê chuẩn việc thành lập Tổng cục Hải quan, trực thuộc Hội đồng Bộ trưởng. Ngày 20/10/1984, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định 139/HĐBT quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Tổng cục Hải quan.
Tại Điều 1, Nghị định số 139/HĐBT xác định: “Tổng cục Hải quan, cơ quan thuộc Hội đồng Bộ trưởng, là công cụ chuyên chính nửa vũ trang của Đảng và Nhà nước có chức năng: - Kiểm tra và quản lý hàng hóa, hành lý, ngoại hối và các công cụ vận tải xuất nhập qua biên giới nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; - Thi hành chính sách thuế xuất, nhập khẩu; - Ngăn ngừa và chống các vi phạm luật lệ hải quan và các luật lệ khác liên quan đến việc xuất nhập khẩu; - Chống các hoạt động buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới. Nhằm đảm bảo thực hiện đúng đắn chính sách Nhà nước độc quyền về ngoại thương, ngoại hối, góp phần bảo vệ chủ quyền quốc gia, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, phục vụ công tác đối ngoại của Đảng và Nhà nước”. Như vậy, trong thời gian này, Hải quan Việt Nam có sự chuẩn bị sẵn sàng để đón thời cơ mới, hoàn thành tốt nhiệm vụ của người lính gác cửa biên giới và tham gia chiến đấu để bảo vệ biên cương của Tổ quốc cũng như góp phần đẩy mạnh công tác đấu tranh chống buôn lậu, lập lại trật tự, kỷ cương trong quản lý xuất - nhập khẩu. Hải quan Việt Nam những năm đầu đổi mới, hội nhập (Giai đoạn 1987 - 2000) Năm 1980, nền kinh tế nước ta lâm vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng.
Sản xuất kinh doanh kém hiệu quả, nông nghiệp vẫn giữ tính chất độc 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com canh, công nghiệp chiếm tỉ trọng nhỏ trong nền kinh tế và tốc độ tăng không ổn định. Quan hệ đối ngoại, đặc biệt là kinh tế đối ngoại bị hạn chế bởi các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu bị tan rã và sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô. Quan hệ Việt Nam – Trung Quốc chưa được cải thiện, Mỹ vẫn giữ thái độ thù địch với Việt Nam. Để khắc phục tình hình trên, bên cạnh các nhiệm vụ được quy định cụ thể trong Điều lệ Hải quan năm 1960, ngành Hải quan tập trung tạo cơ sở cho quá trình đổi mới, cải cách phát triển và từng bước hiện đại hóa.
Ngày 01/5/1990, Pháp lệnh Hải quan được thông qua và có hiệu lực đã quy định rõ nhiệm vụ của Hải quan: “ Quản lý Nhà nước về Hải quan đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, mượn đường Việt Nam. Đấu tranh chống buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hóa, ngoại hối, tiền Việt Nam qua biên giới”. Nhiệm vụ này chính là kim chỉ nam cho hoạt động của ngành trong những năm 90 của thế kỷ XX. Như vậy, trong giai đoạn 1987 – 2000, Hải quan Việt Nam đã đạt được những thành tích đáng kể trong công cuộc đổi mới.
Hệ thống tổ chức không ngừng được củng cố và phát triển theo hướng hiện đại, chuyên nghiệp. Công cuộc thực hiện cải cách thủ tục hành chính, cải tiến quy trình thủ tục Hải quan, kiểm soát, chống buôn lậu, thu ngân sách … đặc biệt phương pháp quản lý Hải quan hiện đại bắt đầu được áp dụng trong nghiệp vụ Hải quan. Mặt khác, trong công tác xây dựng cơ sở pháp lý, Hải quan Việt Nam đã tích cực tham gia xây dựng các Luật liên quan đến thương mại. Đặc biệt, Pháp lệnh Hải quan ra đời đã nâng vị trí của ngành Hải quan trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc của nhân dân Việt Nam lên tầm cao mới.
Hải quan Việt Nam giai đoạn cải cách, phát triển và hiện đại hóa (từ năm 2001 đến nay) Pháp lệnh Hải quan có hiệu lực từ 01/5/1990 là văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý cao nhất, điều chỉnh các hoạt động trong lĩnh vực Hải quan. Tuy nhiên, pháp lệnh Hải quan chưa phản ánh đầy đủ tinh thần của Hiến 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com pháp năm 1992, chưa đáp ứng kịp thời yêu cầu của các cam kết quốc tế liên quan đến hoạt động Hải quan. Năm 1993, Thủ tướng Chính phủ giao cho Hải quan Việt Nam chuẩn bị dự án Luật Hải quan. Ngày 03/01/2001, Tổng cục Hải quan đã trình Chính phủ Dự án Luật Hải quan.
Ngày 29/6/2001, kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa X thông qua Luật Hải quan gồm 8 Chương, 82 Điều, quy định quản lý Nhà nước về Hải quan và có hiệu từ 01/01/2002. Luật Hải quan ra đời đánh dấu việc hoàn thiện hệ thống pháp luật Hải quan với mục tiêu thể chế hóa đường lối, chính sách, cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp, nội luật hóa các quy định của các Điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia. Mặt khác, Luật Hải quan cũng tạo ra khuôn khổ pháp lý thống nhất, đồng bộ phù hợp với cơ chế quản lý kinh tế, thúc đẩy tiến trình cải cách, tạo thuận lợi cho hội nhập quốc tế, tham gia bảo vệ lợi ích, chủ quyền và an ninh quốc gia, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đây thực sự là bước phát triển về chất, chứng tỏ năng lực thực thi pháp luật đáp ứng yêu cầu hội nhập của Hải quan Việt Nam.
Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Hải quan Tại Quyết định số 02/2010/QĐ-TTg ngày 15/01/2010 của Thủ tướng Chính phủ, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Hải quan trực thuộc Bộ Tài chính được quy định cụ thể như sau: 1. Vị trí và chức năng Tổng cục Hải quan là cơ quan trực thuộc Bộ tài chính, thực hiện chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ tài chính quản lý Nhà nước về Hải quan và tổ chức thực thi pháp luật về Hải quan. Tổng cục Hải quan có tư cách pháp nhân, con dấu có hình Quốc huy, tài khoản riêng tại Kho bạc Nhà nước và trụ sở tại thành phố Hà Nội. Nhiệm vụ và quyền hạn 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Giúp Bộ trưởng Bộ Tài chính trong việc soạn thảo các văn bản liên quan đến lĩnh vực Hải quan để Bộ Tài chính trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định: Các dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội; dự thảo nghị định của Chính phủ; dự thảo quyết định của Thủ tướng Chính phủ về Hải quan; Chiến lược, quy hoạch, chương trình mục tiêu quốc gia; Các đề án, dự án quan trọng về Hải quan; Dự toán thu thuế xuất nhập khẩu hàng năm theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước.
- Trình Bộ trưởng Bộ Tài chính xem xét, quyết định: Dự thảo thông tư và các văn bản khác về Hải quan; Kế hoạch hoạt động hàng năm của ngành Hải quan. - Ban hành văn bản hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ; văn bản cá biệt thuộc phạm vi quản lý của Tổng cục Hải quan. - Tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án, đề án về Hải quan sau khi được cấp có thẩm quyền ban hành hoặc phê duyệt. - Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về Hải quan.
- Tổ chức thực hiện các nhiệm vụ: Kiểm tra, giám sát Hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh; phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh; Phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới trong phạm vi địa bàn hoạt động Hải quan; thực hiện các biện pháp phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới ngoài phạm vi địa bàn hoạt động hải quan theo quy định của Chính phủ. Đồng thời, tổ chức thực hiện pháp luật về thuế và các khoản thu khác đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; Kiểm tra sau thông quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.