Luận văn: Thực trạng và giải pháp khai thác tài chính đất đai tại huyện Thạch Hà

Luận văn phân tích thực trạng khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai tại Thạch Hà, Hà Tĩnh, đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý.

Chuyên ngành

Quản Lý Đất Đai

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2018

121
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Vai trò của khai thác tài chính đất đai Thạch Hà hiện nay

Khai thác tài chính từ đất đai đóng vai trò trụ cột trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của huyện Thạch Hà. Đây không chỉ là nguồn lực vật chất mà còn là công cụ tài chính quan trọng, quyết định tốc độ và sự bền vững của quá trình đô thị hóa, hiện đại hóa. Nguồn lực này, khi được quản lý và khai thác hiệu quả, sẽ tạo ra nguồn thu ngân sách nhà nước từ đất đáng kể, phục vụ cho việc đầu tư vào cơ sở hạ tầng, an sinh xã hội và các dự án trọng điểm. Nghiên cứu của Trần Cao Sơn (2018) chỉ ra rằng, trong giai đoạn 2014-2016, nguồn thu này chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu ngân sách của huyện. Tuy nhiên, việc khai thác bền vững đòi hỏi một hệ thống chính sách đất đai minh bạch và các phương pháp quản lý tiên tiến, phù hợp với nguyên tắc thị trường.

1.1. Cơ sở lý luận về nguồn lực tài chính từ đất đai tại địa phương

Nguồn lực tài chính từ đất đai được định nghĩa là các giá trị tiền tệ hình thành thông qua quan hệ kinh tế giữa Nhà nước (đại diện chủ sở hữu toàn dân) và các chủ thể sử dụng đất. Về bản chất, đây là quá trình chuyển hóa địa tô chênh lệch và các giá trị gia tăng từ đất thành nguồn vốn cho ngân sách. Các hình thức khai thác chính bao gồm: thu tiền sử dụng đất khi giao đất hoặc công nhận quyền sử dụng, thu tiền cho thuê đất, và các loại thuế liên quan. Theo luận văn của Trần Cao Sơn, các chính sách đất đai như Luật Đất đai 2013 tạo hành lang pháp lý để thực hiện các quyền này. Mục tiêu không chỉ là tối đa hóa nguồn thu từ đất, mà còn là điều tiết thị trường, khuyến khích hiệu quả sử dụng đất, và đảm bảo công bằng xã hội.

1.2. Bối cảnh phát triển kinh tế xã hội Thạch Hà và nhu cầu vốn

Huyện Thạch Hà, với vị trí địa lý thuận lợi và tiềm năng từ mỏ sắt Thạch Khê, đang trong giai đoạn chuyển dịch cơ cấu kinh tế mạnh mẽ. Giai đoạn 2014-2016 chứng kiến sự tăng trưởng kinh tế bình quân trên 14%, kéo theo nhu cầu vốn đầu tư cho hạ tầng giao thông, khu công nghiệp và các khu đô thị mới. Nguồn vốn này phần lớn phụ thuộc vào khả năng khai thác tài chính đất đai Thạch Hà. Việc đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội Thạch Hà đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tối ưu hóa nguồn thu từ đất để tái đầu tư, tạo động lực phát triển. Do đó, việc đánh giá đúng thực trạng và đề ra giải pháp hiệu quả là nhiệm vụ chiến lược, quyết định sự thành công của các mục tiêu dài hạn mà huyện đã đề ra.

II. Những bất cập trong quản lý đất đai Thạch Hà giai đoạn qua

Mặc dù đạt được những kết quả tích cực về tổng thu, công tác khai thác tài chính đất đai Thạch Hà vẫn còn nhiều hạn chế và thách thức. Vấn đề lớn nhất là sự phụ thuộc quá mức vào các khoản thu không bền vững, chủ yếu đến từ giao đất và chuyển mục đích sử dụng. Thực trạng này tiềm ẩn rủi ro khi quỹ đất ngày càng cạn kiệt. Bên cạnh đó, hệ thống chính sách còn chồng chéo, công tác quản lý đất đai Thạch Hà đôi khi còn mang nặng tính hành chính, chưa theo kịp diễn biến của thị trường. Những yếu kém này dẫn đến tình trạng lãng phí tài nguyên đất, thất thu ngân sách và phát sinh các vụ khiếu nại, tố cáo về đất đai, ảnh hưởng đến môi trường đầu tư và sự phát triển chung.

2.1. Thực trạng cơ cấu nguồn thu từ đất thiếu tính bền vững

Phân tích số liệu giai đoạn 2014-2016 cho thấy, thu ngân sách nhà nước từ đất của Thạch Hà chủ yếu dựa vào khoản tiền sử dụng đất (thu một lần). Đây là nguồn thu không ổn định và thiếu bền vững vì phụ thuộc vào quỹ đất có hạn. Trong khi đó, các khoản thu mang tính thường xuyên như thuế sử dụng đất phi nông nghiệp lại chiếm tỷ trọng rất nhỏ. Sự mất cân đối này cho thấy chính sách tài chính chưa thực sự khuyến khích việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất mà chủ yếu tập trung vào khai thác giá trị đất thô. Tình trạng này nếu kéo dài sẽ gây khó khăn cho việc cân đối ngân sách trong tương lai và dẫn đến nguy cơ lãng phí tài nguyên đất khi các dự án không được triển khai hiệu quả sau khi giao đất.

2.2. Hạn chế trong quy hoạch và giải phóng mặt bằng

Công tác quy hoạch sử dụng đất huyện Thạch Hà còn tồn tại một số bất cập. Việc dự báo, định hướng mang tính chiến lược dài hạn chưa được quan tâm đúng mức, dẫn đến bị động trong việc tạo lập quỹ đất sạch cho các dự án lớn. Quá trình giải phóng mặt bằng thường xuyên gặp khó khăn, kéo dài do chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư chưa thực sự thỏa đáng và kịp thời. Sự thiếu đồng bộ giữa quy hoạch và kế hoạch triển khai không chỉ làm chậm tiến độ các dự án mà còn tạo kẽ hở cho đầu cơ, đẩy giá đất Thạch Hà lên cao một cách bất hợp lý, gây khó khăn cho cả nhà đầu tư và người dân có nhu cầu thực.

III. Phương pháp hoàn thiện chính sách và quy hoạch đất đai Thạch Hà

Để giải quyết các tồn tại, giải pháp nền tảng là phải hoàn thiện đồng bộ hệ thống chính sách và công tác quy hoạch. Một chính sách đất đai linh hoạt, phù hợp với thực tiễn địa phương sẽ là kim chỉ nam cho mọi hoạt động quản lý. Song song đó, việc nâng cao chất lượng quy hoạch sử dụng đất huyện Thạch Hà theo hướng chiến lược, dài hạn và có tầm nhìn sẽ tạo ra quỹ đất sạch, tối ưu hóa giá trị và đảm bảo hiệu quả sử dụng đất. Đây là hai trụ cột chính, tạo tiền đề cho việc khai thác nguồn lực tài chính từ đất một cách minh bạch, công bằng và bền vững, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Thạch Hà.

3.1. Đổi mới chính sách tài chính và giá đất theo cơ chế thị trường

Cần xây dựng một chính sách đất đai mới, trong đó Nhà nước chủ động điều tiết giá đất Thạch Hà thông qua quan hệ cung-cầu, thay vì áp đặt giá hành chính. Việc xác định giá đất phải dựa trên các phương pháp khoa học, phản ánh đúng giá trị thị trường nhưng có sự kiểm soát của nhà nước để tránh đầu cơ. Luận văn của Trần Cao Sơn (2018) đề xuất cần đảm bảo nguyên tắc công khai, minh bạch trong định giá. Điều này không chỉ giúp tăng nguồn thu từ đất một cách hợp lý mà còn giảm thiểu các khiếu nại, tố cáo về đất đai liên quan đến đền bù, giải phóng mặt bằng.

3.2. Nâng cao chất lượng quy hoạch và tạo lập quỹ đất sạch

Chất lượng của quy hoạch sử dụng đất huyện Thạch Hà phải được đặt lên hàng đầu. Quy hoạch cần đi trước một bước, có tầm nhìn xa, tích hợp với quy hoạch phát triển ngành và vùng. Trên cơ sở quy hoạch đã được duyệt, chính quyền cần chủ động tạo lập quỹ đất sạch thông qua việc thu hồi đất theo kế hoạch, đầu tư hạ tầng đồng bộ. Quỹ đất sạch này sẽ là tài sản quý giá để tổ chức đấu giá quyền sử dụng đất một cách công khai, thu hút các nhà đầu tư có năng lực thực sự, qua đó tối đa hóa thu ngân sách nhà nước từ đất và đảm bảo các dự án được triển khai đúng tiến độ, mục tiêu.

IV. Bí quyết tối ưu thu ngân sách từ đất qua cải cách hành chính

Tối ưu hóa nguồn thu từ đất không chỉ nằm ở chính sách mà còn phụ thuộc rất lớn vào hiệu quả thực thi. Do đó, cải cách hành chính lĩnh vực đất đai là giải pháp đột phá, giúp khơi thông các điểm nghẽn và chống thất thoát. Việc đơn giản hóa thủ tục, ứng dụng công nghệ thông tin và tăng cường minh bạch thông tin đất đai sẽ tạo ra một môi trường đầu tư hấp dẫn, giảm chi phí không chính thức cho doanh nghiệp và người dân. Khi bộ máy quản lý hoạt động hiệu quả, các công cụ tài chính như đấu giá quyền sử dụng đất mới thực sự phát huy hết tác dụng, mang lại nguồn thu tối đa và bền vững cho ngân sách.

4.1. Đẩy mạnh đấu giá quyền sử dụng đất và các công cụ tài chính

Cần mở rộng và áp dụng phổ biến hình thức đấu giá quyền sử dụng đất đối với các khu đất có giá trị thương mại cao. Quy trình đấu giá phải được thực hiện công khai, minh bạch, cạnh tranh lành mạnh để lựa chọn nhà đầu tư tốt nhất và xác định giá trị đất sát với thị trường nhất. Bên cạnh đó, cần rà soát lại các chính sách thuế, phí liên quan đến đất đai để điều tiết hợp lý các khoản thu nhập phát sinh từ chuyển nhượng đất, chống đầu cơ và khuyến khích sử dụng đất đúng mục đích. Việc đa dạng hóa các công cụ tài chính sẽ giúp cơ cấu lại nguồn thu từ đất, giảm phụ thuộc vào tiền sử dụng đất.

4.2. Hiện đại hóa quản lý và minh bạch hóa thông tin đất đai

Giải pháp cốt lõi là đẩy mạnh cải cách hành chính lĩnh vực đất đai thông qua việc xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu đất đai số hóa, liên thông và cập nhật. Minh bạch thông tin đất đai về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, giá đất, và các thủ tục hành chính sẽ giúp người dân và doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận, giám sát. Điều này không chỉ nâng cao năng lực quản lý đất đai Thạch Hà mà còn hạn chế tiêu cực, tham nhũng. Áp dụng cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục đất đai sẽ rút ngắn thời gian, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động đầu tư và giao dịch.

V. Hướng dẫn phát triển thị trường bất động sản Thạch Hà bền vững

Một thị trường bất động sản Thạch Hà phát triển lành mạnh và bền vững là kết quả tổng hòa của các giải pháp về chính sách, quy hoạch và quản lý. Thị trường này không chỉ là kênh huy động vốn hiệu quả mà còn phản ánh sức khỏe của nền kinh tế. Để thị trường vận hành ổn định, cần có sự can thiệp, điều tiết hợp lý của Nhà nước để cân bằng cung - cầu, ngăn chặn các cơn sốt đất ảo và bảo vệ quyền lợi của các bên tham gia. Việc giải quyết tốt bài toán bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và tạo lập một môi trường kinh doanh minh bạch là chìa khóa để thu hút đầu tư dài hạn và thúc đẩy sự phát triển bền vững.

5.1. Xây dựng cơ chế điều tiết và ổn định thị trường bất động sản

Nhà nước cần đóng vai trò điều tiết thị trường bất động sản Thạch Hà thông qua các công cụ quy hoạch, chính sách tín dụng và thuế. Cần có cơ chế giám sát chặt chẽ các dự án bất động sản để đảm bảo chủ đầu tư thực hiện đúng cam kết về tiến độ và chất lượng. Công bố thông tin đầy đủ về các dự án đủ điều kiện giao dịch sẽ giúp thị trường minh bạch hơn, bảo vệ người mua. Việc điều tiết này giúp ngăn ngừa tình trạng đầu cơ, bong bóng bất động sản, giữ cho giá đất Thạch Hà ổn định, tạo điều kiện cho cả người có thu nhập trung bình tiếp cận được nhà ở.

5.2. Đảm bảo hài hòa lợi ích trong bồi thường tái định cư

Công tác giải phóng mặt bằng là khâu nhạy cảm và then chốt. Để thành công, chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư phải đảm bảo nguyên tắc hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, nhà đầu tư và người dân bị thu hồi đất. Đơn giá bồi thường cần tiệm cận giá thị trường. Các khu tái định cư phải được đầu tư hạ tầng kỹ thuật và xã hội tốt hơn hoặc bằng nơi ở cũ. Kinh nghiệm từ Đà Nẵng cho thấy, khi quyền lợi người dân được đảm bảo thỏa đáng, họ sẽ đồng thuận và ủng hộ các dự án, giúp đẩy nhanh tiến độ và tạo sự ổn định xã hội.

VI. Định hướng khai thác đất đai vì KTXH Thạch Hà bền vững

Nhìn về tương lai, việc khai thác tài chính đất đai Thạch Hà cần chuyển từ tư duy khai thác theo chiều rộng sang chiều sâu. Mục tiêu cuối cùng không phải là con số tuyệt đối về ngân sách, mà là việc sử dụng nguồn lực đất đai như một đòn bẩy cho sự phát triển kinh tế - xã hội Thạch Hà một cách toàn diện và bền vững. Điều này đòi hỏi một tầm nhìn chiến lược, sự quyết tâm chính trị trong việc thực thi các giải pháp đã đề ra, và sự đồng thuận của toàn xã hội. Chỉ khi đó, "tấc đất" mới thực sự là "tấc vàng", mang lại giá trị lâu dài cho cả thế hệ hôm nay và mai sau.

6.1. Tầm nhìn dài hạn cho công tác quản lý đất đai Thạch Hà

Công tác quản lý đất đai Thạch Hà cần được xây dựng trên một tầm nhìn dài hạn, gắn liền với mục tiêu phát triển bền vững. Thay vì tập trung vào các nguồn thu trước mắt, cần ưu tiên các chính sách khuyến khích đầu tư dài hạn, sử dụng công nghệ cao và thân thiện với môi trường. Phải coi việc bảo vệ đất nông nghiệp, đất rừng phòng hộ và các khu vực cảnh quan sinh thái là một phần của chiến lược khai thác, đảm bảo sự cân bằng giữa phát triển và bảo tồn. Nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý đất đai là yếu tố quyết định để hiện thực hóa tầm nhìn này.

6.2. Sử dụng hiệu quả nguồn thu từ đất để tái đầu tư phát triển

Nguồn thu ngân sách nhà nước từ đất phải được quản lý chặt chẽ và sử dụng một cách hiệu quả nhất. Ưu tiên hàng đầu là tái đầu tư vào các công trình hạ tầng kỹ thuật và xã hội thiết yếu, như giao thông, trường học, bệnh viện, và các hệ thống xử lý môi trường. Việc công khai, minh bạch trong phân bổ và sử dụng nguồn vốn này sẽ tạo dựng niềm tin trong nhân dân. Khi người dân thấy được lợi ích trực tiếp từ việc khai thác tài nguyên đất, họ sẽ ủng hộ và tham gia tích cực hơn vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội Thạch Hà, tạo nên một vòng tuần hoàn phát triển tích cực.

04/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VÁN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về nguồn lực tài chính từ đất đai Nguồn lực là hệ thống những yếu tố tự nhiên, xã hội có ích đối với sự phát triển của xã hội loài người, thông qua việc khai thác, sử dụng chúng mà con người có thể tạo ra những sản phẩm phù hợp với nhu cầu của mình.

Tùy theo trình độ xã hội, lực lượng sản xuất và sự phân công lao động xã hội, các nguồn lực được khai thác nhằm phục vụ cho nhu cầu của con người rất khác nhau. Do đó, vị trí, vai trò của các nguồn lực là rất khác nhau [40]. Nguồn lực phát triển kinh tế có thể phân theo ngành, theo lĩnh vực,. Theo nhận thức phổ biến hiện nay, các nguồn lực bao gồm: nguồn lực con người, nguồn lực đất đai, nguồn lực tài chính, nguồn lực khoa học công nghệ,.

hay cách hiểu tương tự là vốn, lao động, đất đai, tri thức [40]. Trong hệ thống các nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội kể trên, nguồn lực đất đai luôn có vị trí rất quan trọng. Vai trò đó còn càng quan trọng hơn đối với các quốc gia có trình độ phát triển thấp, đặc biệt đối với nền kinh tế còn mang nặng đặc trưng nông nghiệp. Nguồn lực tài chính là khối lượng giá trị dưới hình thái tiền tệ được hình thành trong quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ, phản ánh các mối quan hệ kinh tế - xã hội trong phân phối nhằm đáp ứng các yêu cầu chi tiêu bằng tiền để thực hiện quá trình tái sản xuất các mặt hoạt động của các chủ thể trong xã hội [40].

Như vậy, bản chất của nguồn lực tài chính là phạm trù phân phối; đó là sự phân phối bằng giá trị chứ không phải bằng hiện vật và thông qua hiện vật. Nguồn lực tài chính được biểu hiện rất khác nhau, tùy theo nguồn gốc hình thành mà chủ thể có thể thực hiện để có được các quỹ tiền tệ. Thông qua các nguồn lực tài chính mà những chủ thể trong xã hội có được hệ thống các quỹ tiền tệ tập trung và không tập trung vận động độc lập với các chức năng cất trữ hay phương tiện thanh toán. Nguồn lực tài chính là sự vận động của tiền tệ.

Với cách hiểu như vậy, để hình thành nguồn tài chính hay các quỹ tiền tệ vận động tập trung, các chủ thể trong xã hội có thể khai thác từ nhiều nguồn lực khác nhau trong đó có nguồn lực từ đất đai. Nguồn lực tài chính từ đất đai Nguồn lực tài chính từ đất đai là nguồn lực tài chính được hình thành thông qua quan hệ kinh tế giữa các chủ thể sở hữu và sử dụng đất đai trong một xã hội nhất định và chịu sự chi phối của chế độ sở hữu của xã hội đó [40]. PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 4 Với ý nghĩa như vậy, nguồn lực tài chính từ đất đai chỉ có thể được hình thành và phát triển khi mà các quan hệ đất đai được thị trường hóa. Tức là chúng có thể được mua bán và trao đổi trên thị trường.

Địa tô và bản chất của địa tô a. Địa tô Địa tô là phần sản phẩm thặng dư do những người sản xuất trong nông nghiệp tạo ra và nộp cho người chủ sở hữu ruộng đất. Địa tô gắn liền với sự ra đời và tồn tại của chế độ tư hữu về ruộng đất. Đã từng tồn tại trong các chế độ chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và cả trong thời kì đầu của chủ nghĩa xã hội.

Trong chế độ chiếm hữu nô lệ, địa tô là do lao động của nô lệ và những người chiếm hữu ruộng đất nhỏ tự do tạo ra. Trong chế độ phong kiến, địa tô là phần sản phẩm thặng dư do nông nô tạo ra và bị chúa phong kiến chiếm đoạt, có khi còn bao gồm cả một phần sản phẩm tất yếu. Trong chủ nghĩa tư bản, do còn chế độ tư hữu về ruộng đất trong nông nghiệp nên vẫn tồn tại địa tô. Về thực chất, địa tô tư bản chủ nghĩa chính là phần giá trị thặng dư thừa ra ngoài lợi nhuận bình quân và do nhà tư bản kinh doanh nông nghiệp trả cho địa chủ.

Nguồn gốc của địa tô tư bản chủ nghĩa vẫn là do lao động thặng dư của công nhân nông nghiệp làm thuê tạo ra. địa tô tư bản chủ nghĩa phản ánh quan hệ giữa ba giai cấp: địa chủ, tư bản kinh doanh nông nghiệp và công nhân nông nghiệp làm thuê. Trong chủ nghĩa tư bản, có các loại địa tô: Địa tô chênh lệch, địa tô tuyệt đối và địa tô độc quyền. Trong chủ nghĩa xã hội, khi ruộng đất thuộc sở hữu toàn dân, không còn là tư hữu của địa chủ hay nhà tư bản, thì những cơ sở kinh tế để hình thành địa tô tuyệt đối và địa tô độc quyền cũng bị xoá bỏ, nhưng vẫn tồn lại địa tô chênh lệch, song nó thuộc sở hữu của nhà nước và khác về bản chất với địa tô chênh lệch dưới chủ nghĩa tư bản.

Ở Việt Nam, ruộng đất thuộc sở hữu toàn dân, là tư liệu sản xuất đặc biệt của nông nghiệp, lâm nghiệp, không gì thay thế được, và là tài nguyên quý giá của quốc gia. Nhà nước giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài cho nông dân, và người sử dụng đất phải nộp thuế sử dụng đất; cho người nước ngoài thuê đất để lập doanh nghiệp hay để xây dựng trụ sở cơ quan ngoại giao; cho phép các tổ chức, cá nhân người Việt Nam tham gia xí nghiệp liên doanh với người nước ngoài được góp vốn bằng giá trị đất sử dụng. Tuy hình thức địa tô tuyệt đối không còn, nhưng ruộng đất vẫn là một tư liệu sản xuất có giá trị và người sử dụng vẫn phải trả giá như là một loại địa tô [29]. Bản chất của địa tô Nhà tư bản kinh doanh nông nghiệp phải thuê ruộng đất của địa chủ và thuê công nhân để tiến hành sản xuất.

Do dó nhà tư bản phải trích một phần giá trị thặng dư do công nhân tạo ra để trả cho địa chủ dưới hình thức địa tô [29]. PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 5 Địa tô là một bộ phận lợi nhuận siêu ngạch ngoài lợi nhuận bình quân của tư bản đầu tư trong nông nghiệp do công nhân nông nghiệp tạo ra mà nhà tư bản kinh doanh nông nghiệp phải nộp cho địa chủ với tư cách là người sở hữu ruộng đất [29]. Các hình thức địa tô - Địa tô tuyệt đối: Loại địa tô mà các nhà tư bản kinh doanh nông nghiệp nhất thiết phải nộp cho địa chủ, do chế độ độc quyền tư hữu về ruộng đất trong nông nghiệp tư bản chủ nghĩa. Do cấu tạo hữu cơ của tư bản trong nông nghiệp thấp hơn trong công nghiệp, nên với một lượng tư bản ứng ra như nhau, có tỉ suất giá trị thặng dư như nhau, nhưng giá trị thặng dư được tạo ra trong nông nghiệp bao giờ cũng cao hơn trong công nghiệp.

Chế độ độc quyền tư hữu về ruộng đất đã ngăn trở sự tự do di chuyển tư bản từ các ngành khác vào nông nghiệp nên trong nông nghiệp tư bản chủ nghĩa, giá trị của nông sản phẩm cao hơn giá cả sản xuất chung. Số chênh lệch giữa giá trị của nông sản phẩm và giá cả sản xuất chung chính là Địa tô tuyệt đối. Nguồn gốc của Địa tô tuyệt đối là một bộ phận của giá trị thặng dư do lao động không công của công nhân nông nghiệp làm thuê tạo ra. Trong chủ nghĩa tư bản, Địa tô tuyệt đối làm tăng giá cả nông sản phẩm, ảnh hưởng xấu đến đời sống của những người lao động.

Việc quốc hữu hoá ruộng đất sẽ xoá bỏ chế độ độc quyền tư hữu về ruộng đất và do đó sẽ xoá bỏ Địa tô tuyệt đối. Địa tô tuyệt đối là số lợi nhuận siêu ngạch dôi ra ngoài lợi nhuận bình quân, hình thành nên bởi chênh lệch giữa giá trị nông sản với giá cả sản xuất chung của nông phẩm [29]. - Địa tô chênh lệch: Loại địa tô mà chủ đất thu được do có sở hữu những ruộng đất có điều kiện sản xuất thuận lợi hơn như ruộng đất có độ màu mỡ cao hơn, có vị trí gần thị trường tiêu thụ hơn, hoặc tư bản đầu tư thêm có hiệu suất cao hơn. Là độ chênh lệch giữa giá cả sản xuất xã hội và giá cả sản xuất cá biệt.

Trong nông nghiệp, do sản lượng thu được trên những ruộng đất có điều kiện sản xuất thuận lợi vẫn không đủ đáp ứng nhu cầu của xã hội, nên người ta còn phải kinh doanh trên cả những thửa ruộng có điều kiện sản xuất kém thuận lợi, loại đất xấu và không thuận lợi về vị trí. Giá cả sản xuất xã hội của nông phẩm lại được quy định trên những ruộng đất có điều kiện sản xuất xấu nhất. Do đó, những người kinh doanh trên ruộng đất loại tốt và loại vừa có thể thu được một khoản lợi nhuận bình quân bằng số chênh lệch giữa giá cả sản xuất xã hội và giá cả sản xuất cá biệt. Vì ruộng đất thuộc sở hữu của địa chủ nên lợi nhuận phụ thêm đó được chuyển cho địa chủ dưới hình thức địa tô chênh lệch.

Vậy địa tô chênh lệch gắn liền với sự độc quyền kinh doanh tư bản chủ nghĩa về ruộng đất. Nguồn gốc của địa tô chênh lệch do lao động nông nghiệp tạo ra. Như vậy, địa tô chênh lệch là phần lợi nhuận siêu ngạch ngoài lợi nhuận bình quân thu được trên ruộng đất có điều kiện sản xuất thuận lợi hơn. Nó là số chênh lệch giữa giá cả sản xuất chung được quyết định bởi điều kiện sản xuất trên ruộng đất xấu nhất và giá cả sản xuất cá biệt trên ruộng đất tốt và trung bình [29].

PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 6 Có hai loại địa tô chênh lệch: địa tô chênh lệch I và địa tô chênh lệch II. Địa tô chênh lệch I là địa tô chênh lệch thu được trên những ruộng đất có độ màu mỡ tự nhiên trung bình và tốt, có vị trí gần thị trường tiêu thụ [29]. Địa tô chênh lệch II là địa tô chênh lệch thu được do thâm canh [29]. Địa tô chênh lệch còn tồn tại cả trong điều kiện của chủ nghĩa xã hội, song được phân phối một phần dưới hình thức thu nhập thuần tuý phụ thêm của các hợp tác xã nông nghiệp và của nông dân, một phần dưới hình thức thu nhập của nhà nước.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ