phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục các tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc xây dựng gồm 3 chƣơng: CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VÀ VAI TRÒ CỦA NGUỒN TIN ĐIỆN TỬ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO, NGHIÊN CỨU KHOA HỌC TẠI TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÂY DỰNG, TỔ CHỨC VÀ KHAI THÁC NGUỒN TIN ĐIỆN TỬ TẠI TRUNG TÂM THÔNG TIN THƢ VIỆN TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG CHƢƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÔNG TÁC XÂY DỰNG, TỔ CHỨC VÀ KHAI THÁC NGUỒN TIN ĐIỆN TỬ TẠI TRUNG TÂM THÔNG TIN THƢ VIỆN TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VÀ VAI TRÕ CỦA NGUỒN TIN ĐIỆN TỬ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO, NGHIÊN CỨU KHOA HỌC TẠI TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG 1. Khái quát chung về nguồn tin điện tử 1. Một số khái niệm cơ bản Nguồn tin Ngày nay, trong hoạt động TT-TV, cùng với thuật ngữ “vốn tài liệu” là sự xuất hiện thuật ngữ “nguồn tin”. Ở một khía cạnh nào đó nguồn tin có thể đƣợc hiểu là vốn tài liệu nhƣng không chỉ là vốn tài liệu hiện có tại cơ quan, đơn vị nhất định mà là vốn tài liệu có thể huy động, chia sẻ từ nhiều nơi nhằm đáp ứng các yêu cầu tin cụ thể.
Nguồn tin tồn tại dƣới nhiều vật mang tin và con ngƣời có thể khai thác và sử dụng chúng theo nhiều cách khác nhau với các mục đích khác nhau. Có nhiều định nghĩa khác nhau về nguồn tin: - Theo nghĩa rộng, nguồn tin tƣơng đƣơng với tiềm lực thông tin. Theo nghĩa này, nguồn tin bao gồm bản thân nguồn tin và các yếu tố khác nhau tạo nên hoạt động thông tin nhƣ cơ sở vật chất, kinh phí và nhân lực. - Theo nghĩa hẹp, nguồn tin đƣợc hiểu là đối tƣợng phát triển, truy cập, khai thác, sử dụng, quản trị và chia sẻ nhằm đáp ứng nhu cầu tin của nhóm ngƣời dùng tin nhất định.
Nguồn tin đƣợc phát triển, tổ chức, quản lý, kiểm soát để có thể truy cập và chia sẻ dễ dàng. Nguồn tin bao gồm: các dữ liệu đƣợc thể hiện dƣới dạng văn bản, số, hình ảnh hoặc âm thanh đƣợc ghi lại trên phƣơng tiện theo quy ƣớc hoặc không theo quy ƣớc, các sƣu tập kiến thức của con ngƣời, những kiến thức của tổ chức có thể truy cập và có giá trị cho ngƣời sử dụng. Nguồn tin là phần cốt lõi của tiềm lực thông tin, đƣợc kiểm soát giúp con ngƣời có thể truy cập, tìm kiếm, khai thác sử dụng đƣợc và phục vụ cho các mục đích khác nhau trong hoạt động của con ngƣời. Theo đó, nguồn tin là 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sản phẩm trí tuệ, là sản phẩm lao động khoa học, kiến thức, suy nghĩ, sáng tạo của con người, phản ánh những thông tin được kiểm soát và ghi lại dưới một dạng vật chất nào đó.
Nguồn lực thông tin Muốn khai thác và sử dụng nguồn tin hợp lý, đòi hỏi nguồn tin phải đƣợc quản trị, đƣợc quản lý. Quản lý thông tin là phải đƣa thông tin vào sử dụng, quay vòng và đƣa thông tin đến đúng với ngƣời dùng tin (NDT) giúp họ tạo ra những sản phẩm mới. Với cách quản lý nhƣ vậy, thông tin chính là tài sản, là nguồn lực của xã hội. Nguồn lực thông tin khác hẳn với các loại nguồn lực khác trong xã hội.
Nếu nhƣ các nguồn lực khác càng sử dụng nhiều càng cạn kiệt thì ngƣợc lại, nguồn lực thông tin càng dùng nhiều, càng phong phú và càng có tính giá trị gia tăng vì mỗi ngƣời dùng thông tin lại tạo ra thông tin mới. Nguồn lực thông tin phản ánh một phần kết quả hoạt động sáng tạo của con người, một bộ phận của tiềm lực thông tin được kiểm soát, tổ chức- giúp cho con người có thể dễ dàng truy cập, khai thác và sử dụng phục vụ cho các mục tiêu phát triển.[18] Nguồn lực thông tin và thông tin tiềm năng cần đƣợc phân biệt rõ ràng. Thông tin tiềm năng là thông tin tồn tại ở dạng tự nhiên và xã hội, nhƣng để khai thác đƣợc phải đƣa vào quản lý thông qua thu thập, xử lý, lƣu trữ và có thể truy nhập tới đƣợc. Những thông tin đã đƣợc quản lý, kiểm soát phục vụ đƣợc cho lợi ích phát triển thì đƣợc gọi là nguồn lực thông tin.
Đối với những nƣớc đang phát triển việc biến thông tin tiềm năng thành nguồn lực thông tin là một vấn đề rất khó khăn và phức tạp. Do vậy mỗi quốc gia cần phải có chiến lƣợc biến những thông tin tiềm năng thành nguồn lực thông tin và đƣa chúng vào sử dụng, khai thác phục vụ các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tài liệu điện tử Thuật ngữ “tài liệu điện tử” đã xuất hiện vào đầu những năm 1990, tại thời điểm đó, trong các sách trong nƣớc và nƣớc ngoài có các thuật ngữ đƣợc chấp nhận chung là “tài liệu đọc đƣợc bằng máy”, “tài liệu trên vật mang là máy tính (từ tính)”, “tài liệu đƣợc máy tính dẫn hƣớng” và “đồ họa máy tính”. Cụ thể từ đó tới nay có rất nhiều định nghĩa về tài liệu điện tử: - Ở nƣớc Nga, khái niệm tài liệu điện tử lần đầu tiên xuất hiện trong Luật liên bang về “Chữ ký điện tử số”: “tài liệu điện tử - đó là tài liệu mà thông tin của nó được thể hiện dưới dạng điện tử - số”.
Định nghĩa này không ràng buộc khái niệm “tài liệu điện tử” với cả những vật mang tin đặc biệt (ví dụ nhƣ máy tính) lẫn các phƣơng tiện bảo mật thông tin và chứng nhận tác giả (ví dụ nhƣ chữ ký điện tử số), nó còn tạo sự nhấn mạnh cơ bản vào phƣơng pháp diễn đạt thông tin.[5] - Theo định nghĩa của Lƣu trữ quốc gia Mỹ, tài liệu điện tử, đó là tài liệu chứa đựng thông tin số, đồ thị và văn bản có thể đƣợc ghi trên bất cứ vật mang máy tính nào (nghĩa là chứa thông tin đƣợc ghi dƣới hình thức thích hợp cho xử lý chỉ nhờ sự hỗ trợ của máy tính) - Cũng có một số khái niệm khác đƣợc đƣa ra nhƣ: + Tài liệu điện tử là toàn bộ tài liệu do cơ quan, tổ chức tạo ra dƣới dạng điện tử, đƣợc xem nhƣ một hệ thống thông tin điện tử và đƣợc hỗ trợ bằng các phƣơng tiện kỹ thuật điện tử; + TLĐT là tài liệu đƣợc tạo ra, gửi, truyền và nhận đƣợc hoặc lƣu trữ bằng phƣơng tiện điện tử; + TLĐT là những phiên bản trong máy tính của các tài liệu truyền thống đƣợc tạo ra và lƣu trữ bởi các cơ quan, tổ chức; + TLĐT là tài liệu mà thông tin của nó đƣợc thể hiện dƣới dạng điện tử, đƣợc tạo ra, chuyển giao và lƣu trữ bằng các phƣơng tiện điện tử hoặc trong môi trƣờng điện tử; 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com + Tài liệu điện tử là một hình thức trình bày tài liệu dƣới dạng tập hợp các thực hiện liên quan với nhau trong môi trƣờng điện tử và các thực hiện liên quan với nhau tƣơng ứng với chúng trong môi trƣờng số. Tóm lại, tuy các định nghĩa trên đây về tài liệu điện tử phản ánh các cách tiếp cận khác nhau nhƣng chúng đều có chung các yếu tố cơ bản nhƣ nội dung thông tin, vật mang điện tử, cách thức thể hiện và phƣơng thức xử lý, lƣu trữ, bảo quản, phổ biến bằng phƣơng tiện điện tử, kỹ thuật số. Theo tác giả luận văn, tài liệu điện tử chính là nội dung thông tin đƣợc tạo ra, thu thập, xử lý, bảo quản và phổ biến bằng phƣơng tiện điện tử, kỹ thuật số, có khả năng chia sẻ, trao đổi trong môi trƣờng nối mạng. Cách hiểu về tài liệu điện tử nhƣ thế này cũng phù hợp với xu hƣớng phát triển của ngành công nghiệp thông tin hiện đại, trong đó có bộ phận cốt lõi là phát triển nội dung thông tin (content).
Nguồn tin điện tử + Theo nghĩa hẹp: khái niệm “Nguồn tin điện tử” là các loại tài liệu nhƣ sách, báo, tạp chí, các trang Web, các cơ sở dữ liệu (CSDL) đƣợc bao gói hay đƣợc lƣu trữ trên các vật mang tin mà ngƣời ta chỉ có thể tiếp cận chúng thông qua các phƣơng tiện điện tử nhƣ máy tính. Theo nghĩa này thì “Nguồn tin điện từ’ sẽ không bao gồm các phần mềm máy tính nhƣ hệ điều hành, phần mềm tiện ích, hệ quản trị CSDL, các chƣơng trình máy tính chuyên dụng hay các trang thông tin đặc biệt nhƣ phim ảnh, âm nhạc đã đƣợc số hóa.[6] +Theo nghĩa rộng: “Nguồn tin điện từ’ ngoài các tài liệu nhƣ sách điện tử, báo điện tử, CSDL còn bao gồm các phần mềm, các chƣơng trình chạy trên máy tính, các file multimedia, các trang Web,. tức là tất cả những gì có thể đọc đƣợc, truy cập đƣợc thông qua máy tính hay mạng máy tính điện tử. Quan niệm này đƣợc nhiều ngƣời đồng tình và ủng hộ, nó phản ánh đúng bản chất của khái niệm “điện tử’ hay “số hóa”.[6] 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com * Đặc điểm ưu việt của nguồn tin điện tử: Nguồn tin điện tử có một số đặc điểm ƣu việt nhƣ sau: + Dễ truy cập và đa truy cập : nguồn tin điện tử trực tuyến trên mạng có thể đƣợc truy cập một cách dễ dàng từ mọi lúc, mọi nơi và và nhiều ngƣời dùng tin có thể cùng sử dụng, chia sẻ; + Tốc độ xử lý, phổ biến nhanh: Tốc độ phổ biến thông tin điện tử- số hiện nay đã đạt đến mức tức thời nhờ các phƣơng tiện tin học và viễn thông, đặc biệt là mạng Internet.
Nhiều bài báo dƣới dạng điện tử có thể đến với ngƣời đọc sớm hơn rất nhiều so với thời điểm chúng đƣợc công bố trên các trang tạp chí in trên giấy. + Không gian lƣu trữ, bảo quản càng ngày càng đƣợc tối ƣu theo hƣớng tiết kiệm , thuận tiện và hiệu quả : Mật độ thông tin ghi trên các thiết bị nhớ, bảo quản ngày một tăng, giá thành ngày một rẻ, tốc độ truy cập, xử lý ngày một tăng. + Thuận lợi trong bảo trì: nguồn tin điện tử có khả năng tái sử dụng, tính liên tác (Interoperability) trong các thao tác cập nhật mới, loại bỏ trùng lặp và lỗi thời, sắp xếp lại. + Bảo hiểm và an toàn: trong nhiều trƣờng hợp đối với tài liệu quý, hiếm, bản gốc của tài liệu cần đƣợc bảo vệ thì phiên bản thông tin điện tử sẽ là sự thay thế cần thiết cho ngƣời dùng tin.