Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KHAI THÁC LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG CHO PHÁT TRIỂN DU LỊCH LỄ HỘI 1. Lễ hội và lễ hội truyền thống 1. Khái niệm lễ hội Cho đến hiện nay, khái niệm lễ hội vẫn còn nhiều cách hiểu và lý giải khác nhau trong giới nghiên cứu.
Từ điển Bách Khoa Việt Nam trong mục từ “Lễ hội” đề cập đến lễ hội truyền thống khi định nghĩa “Lễ hội là hoạt động của một tập thể người, liên quan đến tín ngưỡng và tôn giáo”. Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên (1998, tái bản 2007) cũng định nghĩa “lễ hội là cuộc vui chung có tổ chức, có các hoạt động lễ nghi mang tính văn hóa truyền thống” với hai ví dụ là “Lễ hội đền Hùng và Lễ hội hóa trang” (Hoàng Phê, 2002). Ngoài ra “lễ là các hoạt động đạt tới trình độ nghi lễ, hội là các hoạt động nghi lễ đạt tới trình độ cao hơn, trong đó có các hoạt động văn hóa truyền thống” (R. “Lễ (cuộc lễ) phản ánh những sự kiện đặc biệt, về mặt hình thức lễ trong các dịp này trở thành hệ thống những nghi thức có tính chất phổ biến được quy định một cách nghiêm ngặt, nhiều khi đạt đến trình độ “cải diễn hóa” cùng với không khí trang nghiêm đóng vai trò chủ đạo.
Đây chính là điểm giao thoa giữa Lễ với Hội, và có lẽ cũng vì vậy mà người ta nhập hai từ lễ hội”. Thực tế đã chứng minh một trong những quan điểm lý thuyết nhận được sự đồng thuận cao về hai thành tố cấu trúc nên lễ hội (phần lễ tức là nghi lễ, là mặt thứ nhất: tinh thần, tôn giáo tín ngưỡng linh thiêng; phần hội tức là hội hè, là phần thứ hai: vật chất, văn hóa nghệ thuật đời thường). Có quan niệm chia tách lễ hội thành hai thành tố khác nhau và độc lập trong cấu trúc lễ hội dựa trên thực tế có những sinh hoạt dân gian, văn hóa dân gian có lễ mà không có hội hoặc ngược lại. Có quan niệm ngược lại, nhấn mạnh “tính nguyên hợp” của lễ hội truyền thống, tức là quan hệ nghệ thuật ấy (lễ hội) người ta nhận thức hiện thực như một tổng thể chưa bị chia cắt.
Trần Ngọc Thêm (2001) cho rằng trong các bộ phận cấu thành nên tài nguyên du lịch nhân văn thì lễ hội là một tài nguyên rất có giá trị để phục vụ cho phát triển du lịch. Lễ hội là hình thức sinh hoạt tập thể của nhân dân sau những ngày lao động vất vả. Lễ hội là một dịp để mọi người hướng về một sự kiện lịch sử của đất nước. Lễ hội cũng là dịp để con người tưởng nhớ đến ông bà, tổ tiên, những vị anh hùng dân tộc.
Với lễ hội truyền thống, đây còn là dịp để người dân lao động bày tỏ lòng thành kính của mình đối với các lực lượng siêu nhiên (cảm tạ thần linh đã trợ giúp mình có được mùa màng bội thu và cầu mong có một cuộc sống ấm no, hạnh phúc). Có thể nói, lễ hội là sự kiện liên quan đến những sinh hoạt tín ngưỡng của nhân dân Lễ hội luôn gắn với văn hóa của người dân Việt Nam, với cuộc sống nông nghiệp của họ. Nguyễn Chí Bền (2012) cho rằng “Lễ hội là một hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng, ra đời và phát triển trong xã hội loài người. Ở Việt Nam, lễ hội gắn bó với làng xã như một thành tố không thể thiếu vắng trong đời sống cộng đồng.
Là những cư dân nông nghiệp sống với nghề trồng lúa nước, vòng quay của thiên nhiên và mùa vụ tạo ra trong con người những nhu cầu tâm linh mà lễ hội chính là nơi, là cơ hội thỏa mãn nhu cầu tâm linh ấy của họ”. Lễ hội là một phần không thể thiếu trong đời sống của người nông dân. Sau một thời gian làm việc vất vả thì tham gia lễ hội là cách để họ cảm thấy thoải mái, nhẹ nhõm. Yếu tố tâm linh trong lễ hội được nhắc đến trong khá nhiều quan điểm định nghĩa lễ hội truyền thống: luôn có các nhân vật trung tâm được thờ phụng, tôn vinh những hình tượng thiêng, được định danh là “Thần” – những người có thật trong lịch sử dân tộc hoặc huyền thoại, hình tượng các vị thần linh (anh hùng chống giặc ngoại xâm, những người khai phá vùng đất mới, tạo dựng nghề nghiệp, những người chóng chọi với thiên tai, trừ ác thú, những người chữa bệnh cứu người.) đã hội tụ những phẩm chất cao đẹp của con người.
Lễ hội gần gũi với con người và thường được diễn ra ở nơi thiêng liêng như đình, chùa. để thể hiện sự tôn kính. Lễ hội là nơi người dân được thể hiện sự tín ngưỡng và tham gia vào các trò vui chơi. “Lễ và hội hòa quyện, xoắn xít với nhau đề cùng nhau biểu hiện một giá trị nào đó của một cộng đồng.
Trong lễ cũng có hội và trong hội cũng có lễ”. Nguyễn Quang Lê (1999) cho rằng Bất kỳ một lễ hội nào cũng bao gồm hai hệ thống đan quyện và giao thoa với nhau: Hệ thống lễ bao gồm các nghi lễ của tín ngưỡng dân gian và tôn giáo cùng với các lễ vật được sử dụng làm đồ lễ mang tính linh thiêng, được chuẩn bị rất chu đáo và nghiêm túc. Thông qua các nghi lễ này con người được giao cảm với thế giới siêu nhiên là các thần thánh (nhiên thần và nhân thần), do chính họ tưởng tượng ra và mong các thần thánh bảo trợ và có tác động tốt đẹp đến tương lai cuộc sống tốt đẹp của mình. Hệ thống hội bao gồm các trò vui, trò diễn và các kiểu diễn xướng dân gian, cụ thể là các trò vui chơi giải trí, các đám rước và ca múa dân gian… Chúng đều mang tính vui nhộn, hài hước, song đôi khi chưa thể tách ra khỏi việc thờ cúng.
Ngô Đức Thịnh (1993) diễn giải: Tính tổng thể của lễ hội không phải là thực thể “chia đôi” như người ta quan niệm mà nó hình thành trên cơ sở một cốt lõi nghi lễ, tín ngưỡng nào đó (thường là tôn thờ một vị thần linh - lịch sử hay một thần linh nghề nghiệp nào đó) rồi từ đó nảy sinh và tích hợp các hiện tượng văn hóa phái sinh đề tạo nên một tổng thể lễ hội cho nên trong một lễ hội phần lễ là phần gốc rễ chủ đạo, phần hội là phần phát sinh tích hợp. Như vậy khái niệm lễ hội trong quan điểm nghiên cứu lâu nay tại Việt Nam thường bao hàm nghĩa “truyền thống” trong đó, và vì thế, để phân biệt cụm từ “hiện đại” hay “đương đại” được thêm vào sau thành “lễ hội hiện đại”, “lễ hội đương đại”, để chỉ những lễ hội mới hay lễ hội du nhập của giai đoạn hiện tại. Quy chế tổ chức lễ hội ban hành kèm theo Quyết định số 39/2001/QĐ-BVHTT ngày 23/8/2001 của Bộ trưởng Bộ VHTT đã đưa ra 4 loại lễ hội ở Việt Nam thuộc đối tượng cần điều chỉnh là: Lễ hội dân gian, lễ hội lịch sử cách mạng, lễ hội tôn giáo, lễ hội du nhập từ nước ngoài vào Việt Nam. Sau này, Nghị định số 11/2006/NĐ- CP ngày 18/01/2006 của Chính phủ ban hành Quy chế hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng bổ sung lễ hội văn hóa du lịch.
Tóm lại, trong nghiên cứu này, học viên thống nhất với cách hiểu lễ hội là: 1) Lễ là hệ thống các hành vi, động tác nhằm biểu hiện lòng tôn kính của con người đối với thần linh, phản ánh những ước mơ chính đáng của con người trước cuộc sống mà bản thân họ chưa có khả năng thực hiện; 2) Hội là tập hợp các trò diễn có tính nghi lễ, các cuộc vui chơi, giải trí tại một thời điểm nhất định, thường trong khuôn viên các công trình tôn giáo, hay ở sát chúng, có đông người tham gia, là đời sống văn hóa hàng ngày và một phần đời sống cá nhân và cả cộng đồng, nhân kỉ niệm một sự kiên quan trọng đối với một cộng đồng xã hội. Lễ hội là một sản phẩm của xã hội quá khứ, được truyền lại tới ngày nay và nó được người dân, cộng đồng tiếp nhận và thực hành trong đời sống sinh hoạt, tín ngưỡng. Thuật ngữ lễ hội festival bắt nguồn từ từ Latinh festum, có nghĩa là “sự vui vẻ, chè chén no say của cộng đồng.” Trong cách sử dụng gần đây, festival có thể mang các nghĩa là lễ hội tôn giáo hoặc thế tục, lễ tưởng niệm thường niên về một nhân vật, hoặc một sự kiện đáng nhớ, thời kỳ thu hoạch vụ mùa; một chuỗi các hoạt động trong lĩnh vực mỹ thuật nhằm tưởng nhớ một tác giả, hoặc hướng tới một trường phái nào đó hoặc thông tin đại chúng (ví dụ Shakespeare, âm nhạc, rạp chiếu phim); hoặc buổi liên hoan đình đám vui vẻ mang tính cộng đồng. Lễ hội ở Việt Nam là một đề tài được quan tâm hàng đầu trong nghiên cứu văn hóa dân gian và cả trong quản lý di sản văn hóa của các cấp có thẩm quyền liên quan.
Đề tài này giới hạn trong khuôn khổ những lễ hội truyền thống được tổ chức trong các tộc người. Lễ hội hình thành, phát triển và ngày nay được tổ chức nhằm tưởng nhớ tới các vị thần thánh, thành hoàng, anh hùng dân tộc. Nhìn nhận trên góc độ tính phổ biến của nó, lễ hội có thể được coi như sự kiện xã hội và mang tính phức hợp nhất vẫn còn tồn tại trong truyền thống. Đặc điểm của lễ hội - Lễ hội thường gắn bó với một cộng đồng dân cư nhất định: Nếu Tết âm lịch là sinh hoạt của cả cộng đồng thì ngày hội là ngày Tết của của một cộng đồng dân cư nhất định nào đó.
Lễ hội gắn bó với từng làng quê, các làng quê khác nhau thì ngày hội làng cũng khác nhau. Mặt khác, lễ hội mang tính tộc người rất rõ. Các dân tộc khác nhau sẽ có những lễ hội khác nhau. Chẳng hạn, Đồ Sơn nổi tiếng với lễ hội chọi trâu, hội Lim thì chỉ có ở Bắc Ninh, người Chăm được biết đến với lễ hội Ka Te, lễ hội Lồng Tồng là lễ hội của người Tày.
Trong lễ hội thường có người tham dự là những người tổ chức, người dân địa phương, những người hành hương, khách du lịch,. - Không gian, thời gian của lễ hội: Lễ hội thường được tổ chức tại các di tích lịch sử - văn hóa, các danh lam thắng cảnh, những địa danh nổi tiếng, hoặc ngay tại các sân đình, đền chùa,. Để tổ chức lễ hội, cần phải có không gian rộng và có các điều kiện về cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng cần thiết.