Chương 1. Cơ sở lý luận về văn hóa Phật giáo và tổng quan về văn hóa Phật giáo Huế. Thực trạng khai thác các giá trị văn hóa Phật giáo trong hoạt động du lịch tại thành phố Huế. Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả khai thác giá trị văn hóa Phật giáo phục vụ phát triển du lịch tại thành phố Huế.
SV: Vũ Thị Ngọc Hà Page 8 Khai thác giá trị văn hóa Phật giáo phục vụ phát triển du lịch tại thành phố Huế”. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA PHẬT GIÁO VÀ TỔNG QUAN VỀ VĂN HÓA PHẬT GIÁO HUẾ 1. Giới thiệu về văn hóa Phật giáo Cũng như trường hợp tôn giáo, triết học, thẩm mỹ…, thật khó tìm một định nghĩa xác đáng cho văn hóa. Trong ý nghĩa chung, văn hóa là một mẫu thức tập hợp kiến thức, tín ngưỡng và thái độ ứng xử của con người.
Như thế, văn hóa bao gồm ngôn ngữ, tư tưởng, niềm tin, tập quán, luật tắc, thể chế, công cụ, kỹ thuật, nghệ thuật, nghi lễ và các thành tố liên hệ khác. Sự phát triển văn hóa tùy thuộc vào khả năng học tập và truyền đạt kiến thức từ thế hệ trước cho thế hệ sau. Văn hóa, nói theo nghĩa đen của nó, là dùng cái đẹp (văn) để giáo hóa người. Phật giáo lấy việc độ sanh làm cứu cánh, do đó văn hóa được xem như nền tảng của Phật giáo.
Và như thế, văn hóa Phật giáo bao gồm cả hệ thống giáo lý, tư tưởng triết học, mỹ học, ngôn ngữ biên soạn kinh điển (Phạn, Pali), tập tục, qui tắc. Tuy nhiên, trong phạm vi của đề tài này, chỉ xin đề cập đến những giá trị văn hóa Phật giáo cụ thể như kiến trúc, điêu khắc, hội họa, âm nhạc và vũ đạo, ẩm thực Phật giáo và gọi chung là các loại hình nghệ thuật Phật giáo. Vài nét về giá trị văn hóa Phật giáo thế giới Trước hết chúng ta tìm hiểu sơ qua quá trình phát triển của Nghệ thuật Phật giáo. Thời kỳ đầu, nghệ thuật Phật giáo chỉ hạn chế trong các bức vẽ hoặc điêu khắc về chân Phật, tòa Kim cương, cội Bồ-đề … để tượng trưng cho Đức Phật.
Đến khi Phật giáo Đại thừa phát triển, nhờ sự tiến bộ của xã hội mà hình tượng Phật được tôn tạo, các loại hình nghệ thuật khác cũng theo đó mà phát triển. Hội họa: Nghệ thuật hội họa ra đời tại Ấn Độ từ rất sớm, dấu tích để lại trong các bức bích họa tại quần thể chùa hang Ajanta ở miền Trung Ấn có niên đại từ trước công nguyên. Ở Trung Quốc, các danh họa nhiều đời cũng thường vẽ nhiều bích họa cho các tự viện, nổi tiếng có các vị Cố Khải Chi, Lục Thám Vi, Trương Tăng Dao, Viên Tử Ngang, Ngô Đạo Tử, Lý Công Lân. Ngoài ra, tranh thủy mặc được xem là phong cách đặc hữu của Thiền tông Trung Quốc, chỉ với hai mầu đen trắng mà phát họa được tinh thần khai phóng của tâm linh cũng như làm SV: Vũ Thị Ngọc Hà Page 9 Khai thác giá trị văn hóa Phật giáo phục vụ phát triển du lịch tại thành phố Huế”.
cho thế giới ngoại tại sống động, lung linh. Từ đời Tống về sau, các bích họa khổ lớn dần dần ít đi, được thay thế bằng tượng Tổ sư, La hán; mặc hội và thư pháp nhân đó cũng phát triển. Ở Nhật Bản, vào thời Muromachi (thế kỷ XV), giới Thiền họa mô phỏng theo mặc họa đời Tống của Trung Quốc phát triển rực rỡ, nổi tiếng có các vị Như Chuyết, Chu Văn, Tuyết Chu. Tóm lại, nghệ thuật hội họa Phật giáo tập trung ở chủ đề miêu tả Phật tượng, Tổ sư, về sau phát triển và mượn ngoại cảnh để biểu hiện nội tâm.
Tuy không phong phú về hình thể, song nó là kho tàng quý báu về hội họa của Đông phương [6; 8]. Điêu khắc: Việc đắp tạo và điêu khắc tượng Phật đến thế kỷ I mới bắt đầu thịnh hành. Đại tháp Amaravati được xây dựng vào thế kỷ IV - V, trên lan can có Phật truyện đồ với những dụng cụ bằng vàng. Di phẩm nổi tiếng nhất về nghệ thuật điêu khắc là tượng khắc trong động đá Ajantà ở Panjab, được khen là “Cung nghệ thuật phương Đông”.
Bên trong có nhiều bích họa, còn bên ngoài có nhiều điêu khắc, các nhân vật đều rất trang nghiêm sinh động, đậm hơi thở tôn giáo. [6; 8] Nói chung, Phật tượng có nhiều loại, được đúc tạo bằng nhiều chất liệu như vàng, bạc, gỗ, đá, xi măng, thạch cao …, kiểu dáng cũng rất đa dạng. Khi Phật giáo truyền đến các nước Trung Quốc, Nhật Bản, nghệ thuật điêu khắc tượng Phật phát triển cực thịnh. Phật tượng phần nhiều được đúc bằng kim loại để thờ trong chùa viện, có khi điêu khắc trong các hang động, tạo tượng to lớn giữa cảnh quan thiên nhiên để mọi người chiêm bái, hoặc khắc chạm cả sườn núi, vách núi làm Đại Phật.
Nói chung, càng về sau tượng Phật càng được nhân cách hóa, là do ảnh hưởng cung đình Trung Quốc mà các thời đại Tùy, Đường, Tống, tượng Phật được khắc tạo rất đẹp, đầy đặn và sinh động, y quan lộng lẫy, nét mặt hiền từ. [6; 8] Ngày nay, nghệ thuật điêu khắc, đắp vẽ tượng Phật đã phát triển đến mức hoàn mỹ. Nghệ thuật truyền thống kết hợp với kỹ thuật và thẩm mỹ Tây phương, như kỷ hà học, lập thể … làm cho nghệ thuật điêu khắc, phù điêu, đắp tạo tượng Phật ngày càng tinh xảo và hiện đại. Nhưng giá trị cổ điển vẫn là giá trị văn hóa, giúp chúng ta hiểu rõ được nhận thức và tâm hồn của mỗi dân tộc qua nhiều thời đại khác nhau.
Kiến trúc: Trong các loại hình nghệ thuật Phật giáo, nghệ thuật kiến trúc là phong phú nhất, chúng bao gồm rất nhiều hình thức, và mỗi hình thức cũng có SV: Vũ Thị Ngọc Hà Page 10 Khai thác giá trị văn hóa Phật giáo phục vụ phát triển du lịch tại thành phố Huế”. nhiều cách thể hiện khác nhau. Khi Đức Phật còn tại thế, tương truyền đã có tinh xá Kỳ Viên thiết trí đầy đủ bản điện, liêu xá, nhà kho, nhà khách, nhà bếp, nhà kinh hành, nhà tắm, tiền đường, ao sen, nhà dưỡng bệnh. Nhưng những kiến trúc đương thời còn lại về sau chủ yếu có Tháp (Stùpa), Tháp viện (Caitya-grïha), Tăng viện (Vihàra), Tháp nhọn (Sùikhara).
Thông thường các hình thức này cấu thành một ngôi già lam, vật liệu chủ yếu là gạch, đá. Nói chung, kiến trúc Phật giáo của các nước thường tùy theo nhân văn và địa lý ở mỗi vùng mà có điểm đặc sắc riêng. Các kiến trúc ở Tích Lan phần lớn giống ở Ấn Độ; còn Miến Điện, Thái Lan, Campuchia thì có xen tạp kiến trúc bằng gỗ. Boro - Budur ở Java (Indonesia) là một kiến trúc bằng đá đại quy mô biểu hiện cho Mạn-đồ-la 9 tầng của Mật giáo1.
Các đại tự viện ở Tây Tạng thì phần nhiều được xây cất trên những gò đất nghiêng dưới chân núi, phối hợp với nhiều loại kiến trúc liên tiếp tại một chỗ, tạo thành một cảnh quan đường phố như phong cách châu Âu. Kiến trúc Phật giáo Trung Quốc phần nhiều mô phỏng theo hoàng cung, lấy sự đối xứng để phối hợp tả hữu, sơn môn và điện Thiên vương, điện Đại hùng, Pháp đường, Phương trượng đều xếp thẳng hàng. Hai bên trái và phải theo thứ lớp thiết trí lầu chuông trống, điện già lam và điện Tổ sư, khách đường và Vân thủy đường. Kiến trúc của Phật giáo Trung Quốc có thể nói đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật nhờ sự bảo trợ của triều đình [6; 9].
Các nước Phật giáo theo hệ Bắc truyền phần nhiều ảnh hưởng phong cách này, nhưng màu sắc và vật liệu thì tùy không gian và thời gian mà có thay đổi. Nhật Bản thì nhẹ nhàng đơn giản, Việt Nam thì ấp ủ hài hòa. Nói chung, kiến trúc Phật giáo là nét son trong văn hóa nghệ thuật phương Đông. Thi ca: Thi ca là một loại văn vần, ngôn từ hàm súc, chuyển tải nội dung sâu sắc.
Tác dụng của thi ca là nhằm răn bảo nhân sinh, hoặc miêu tả trạng thái nội tâm, hoặc thuật lại sự vật với một thể điệu riêng. Nói chung, đó là một nét đẹp giao cảm giữa cảnh vật tự nhiên và nội tại, do đó trong Phật giáo, thể tài thi ca vô cùng phong phú. Ở Ấn Độ, hình thức ban sơ của thi ca được gọi là Già-đà (Phạn: Gàthà), dịch ý là Kệ tụng. Về thể luật, kệ tụng có nhiều thể khác nhau.
Thơ Phật giáo xưa nhất là 1 Mạn-đồ-la là một cái đàn hình tròn, hình vuông, hình hoa sen hay tam giác, thường được làm bằng vàng, bạc … dùng để phối trí hình tượng, chủng tử, ấn, chân ngôn của chư tôn trong Mật giáo [6]. SV: Vũ Thị Ngọc Hà Page 11 Khai thác giá trị văn hóa Phật giáo phục vụ phát triển du lịch tại thành phố Huế”. Ở Trung Quốc, thi ca Phật giáo phần lớn miêu tả tâm cảnh khai ngộ của Thiền tăng. Qua các triều đại Đường-Tống, thi ca Phật giáo được sáng tác rất nhiều, được tập hợp trong các Ngữ lục, hoặc những áng thơ gom thành thi tập, hoặc những trường ca chuyển tải nội dung chứng đạo… Các thi nhân nổi tiếng đời Đường như Vương Duy, Bạch Cư Dị đã để lại rất nhiều thơ có phong vị Phật giáo.
[6; 10] Tóm lại, tùy theo mỗi không gian và thời gian, tùy theo cảm quan nội tại của từng tác giả, thi ca Phật giáo đã trở thành một kho tàng quý báu trong rừng hoa văn học nghệ thuật của nhân loại. Âm nhạc: Âm nhạc Phật giáo kế thừa nền âm nhạc cổ điển Ấn Độ, xuất hiện vào khoảng 2000 năm đến 1500 trước Tây lịch. Vào thế kỷ II, âm nhạc Phật giáo đã phát triển mạnh mẽ, đến thế kỷ V - VI thì rất hưng thịnh, truyền sang các nước Tây Vực, Trung Quốc, thúc đẩy nền vũ nhạc cung đình nhà Đường phát triển cao độ. Vở ca kịch đại quy mô đầu tiên của Phật giáo là Long vương chi hỷ (Nagananda) do vua Giới Nhật soạn vào thế kỷ VII.
Đến đời vua Vũ Đế (nhà Ngụy, Trung Quốc), ông Tào Thực (Trần Tư Vương), một thiên tài về âm nhạc vốn rất say mê Phạn khúc, ông từng sáng chế pháp Phạn bái tại Ngư Sơn, huyện Đông A, tỉnh Sơn Đông. Nền tảng Thanh minh Trung Quốc từ đây mới được thiết lập, thay vì dùng cách ca xướng “Thất âm giai” như Ấn Độ thì Trung Quốc dùng “Ngũ âm giai”. Âm nhạc Phật giáo phát triển theo sự truyền bá giáo lý, truyền đến các nước Đông Nam Á và mang tính chất đặc thù của mỗi dân tộc.