Khái Niệm Về Con Người Trong Triết Học Khai Sáng Pháp

Luận văn thạc sĩ phân tích ussh quan niệm về con người trong triết học khai sáng pháp, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải pháp khả thi cho thực tiễn.

Chuyên ngành

Triết Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2007

90
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: BỐI CẢNH VÀ TIỀN ĐỀ RA ĐỜI TRIẾT HỌC KHAI SÁNG PHÁP VỀ CON NGƯỜI

1.1. Bối cảnh ra đời triết học Khai sáng Pháp về con người

1.2. Những tiền đề tư tưởng cho sự hình thành quan niệm về con người trong triết học Khai sáng Pháp

1.3. Sự ra đời của triết học Khai sáng Pháp

2. CHƯƠNG 2: NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA QUAN NIỆM VỀ CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC KHAI SÁNG PHÁP

2.1. Những nét khái quát trong quan niệm về con người của triết học Khai sáng Pháp

2.2. Quan niệm về con người ở một số triết gia tiêu biểu

2.3. Quan niệm của Môngtéxkiơ về con người

2.4. Con người trong triết học của Rútxô

2.5. Quan niệm của Điđrô về con người

2.6. Một số giá trị và hạn chế của quan niệm về con người trong triết học Khai sáng Pháp

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Khái Niệm Con Người Trong Triết Học Khai Sáng Pháp

Triết học Khai sáng Pháp đã đóng góp một cách mạnh mẽ vào việc hình thành khái niệm về con người. Trong bối cảnh xã hội và văn hóa của thế kỷ XVIII, các triết gia như Môngtéxkiơ, Rútxô và Điđrô đã đưa ra những quan điểm mới mẻ về giá trị và bản chất của con người. Họ nhấn mạnh tầm quan trọng của lý tính, tự do và bình đẳng, từ đó tạo ra một nền tảng vững chắc cho các tư tưởng nhân bản sau này.

1.1. Bối Cảnh Lịch Sử Hình Thành Triết Học Khai Sáng

Thế kỷ XVIII là thời kỳ chứng kiến sự chuyển mình mạnh mẽ của Châu Âu. Các phát minh khoa học và sự phát triển kinh tế đã tạo ra một môi trường thuận lợi cho triết học Khai sáng phát triển. Những tư tưởng mới về con người bắt đầu xuất hiện, phản ánh sự thay đổi trong nhận thức xã hội.

1.2. Những Triết Gia Tiêu Biểu Và Quan Niệm Về Con Người

Môngtéxkiơ, Rútxô và Điđrô là những triết gia tiêu biểu trong triết học Khai sáng Pháp. Họ đã đưa ra những quan điểm khác nhau về con người, từ đó hình thành nên một bức tranh đa dạng về giá trị và bản chất con người trong xã hội.

II. Vấn Đề Và Thách Thức Trong Quan Niệm Về Con Người

Mặc dù triết học Khai sáng Pháp đã đưa ra nhiều quan điểm tích cực về con người, nhưng cũng không thiếu những thách thức và vấn đề. Sự phân chia giai cấp, bất bình đẳng xã hội và những hạn chế trong tư tưởng đã tạo ra những mâu thuẫn trong quan niệm về con người.

2.1. Sự Phân Chia Giai Cấp Và Ảnh Hưởng Đến Con Người

Trong xã hội Khai sáng, sự phân chia giai cấp rõ rệt đã ảnh hưởng đến cách nhìn nhận về con người. Giai cấp tư sản và giai cấp lao động có những quan điểm khác nhau về giá trị và vai trò của con người trong xã hội.

2.2. Những Hạn Chế Trong Tư Tưởng Về Con Người

Mặc dù triết học Khai sáng đã đề cao giá trị con người, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế trong tư tưởng. Những quan điểm duy lý đôi khi đã bỏ qua những khía cạnh cảm xúc và tinh thần của con người.

III. Phương Pháp Và Giải Pháp Chính Trong Triết Học Khai Sáng

Triết học Khai sáng Pháp đã đưa ra nhiều phương pháp và giải pháp để giải quyết các vấn đề liên quan đến con người. Những tư tưởng về tự do, bình đẳng và bác ái đã trở thành nền tảng cho các giải pháp xã hội.

3.1. Tư Tưởng Về Tự Do Và Bình Đẳng

Tự do và bình đẳng là hai giá trị cốt lõi trong triết học Khai sáng. Các triết gia đã nhấn mạnh rằng mỗi con người đều có quyền tự do và bình đẳng, từ đó tạo ra một xã hội công bằng hơn.

3.2. Giá Trị Của Bác Ái Trong Quan Niệm Về Con Người

Bác ái không chỉ là một giá trị đạo đức mà còn là một phương pháp để xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa con người với nhau. Triết học Khai sáng đã khuyến khích sự phát triển của lòng nhân ái trong xã hội.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Quan Niệm Về Con Người

Các quan niệm về con người trong triết học Khai sáng Pháp đã có những ứng dụng thực tiễn quan trọng trong xã hội hiện đại. Những tư tưởng này đã góp phần vào việc xây dựng các giá trị nhân văn và phát triển con người toàn diện.

4.1. Ảnh Hưởng Đến Các Giá Trị Xã Hội Hiện Đại

Những tư tưởng của triết học Khai sáng đã ảnh hưởng sâu sắc đến các giá trị xã hội hiện đại như tự do, bình đẳng và nhân quyền. Chúng đã trở thành nền tảng cho các phong trào xã hội và chính trị.

4.2. Phát Triển Con Người Toàn Diện Trong Xã Hội

Việc phát triển con người toàn diện không chỉ dừng lại ở khía cạnh vật chất mà còn bao gồm cả tinh thần và đạo đức. Triết học Khai sáng đã đặt ra những tiêu chí quan trọng cho sự phát triển này.

V. Kết Luận Về Khái Niệm Con Người Trong Triết Học Khai Sáng Pháp

Triết học Khai sáng Pháp đã để lại một di sản tư tưởng phong phú về con người. Những quan niệm này không chỉ có giá trị trong bối cảnh lịch sử mà còn tiếp tục ảnh hưởng đến tư tưởng và hành động của con người trong xã hội hiện đại.

5.1. Di Sản Tư Tưởng Của Triết Học Khai Sáng

Di sản tư tưởng của triết học Khai sáng vẫn còn nguyên giá trị. Những tư tưởng về tự do, bình đẳng và bác ái tiếp tục được phát huy trong xã hội hiện đại.

5.2. Tương Lai Của Quan Niệm Về Con Người

Tương lai của quan niệm về con người trong triết học Khai sáng sẽ tiếp tục được nghiên cứu và phát triển. Những giá trị này cần được bảo tồn và phát huy trong bối cảnh xã hội hiện đại.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh quan niệm về con người trong triết học khai sáng pháp

Trích đoạn nội dung tài liệu

Mở đầu cho tiến trình đó là phong trào phục hưng, mà nơi xuất phát và cũng là trung tâm chính là ở Italy. Phục hưng đã trở thành trào lưu văn hoá tư tưởng trong suốt thế kỷ XIV - XV, và đạt cực thịnh ở thế kỷ XVI. Những giá trị văn hoá, tinh thần, nhân văn cổ đại, kể cả Cơ đốc giáo sơ kỳ, sau cả mười thế kỷ bị lãng quên nay được phục hồi. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Việc “phá hoại” ý thức hệ phong kiến - tôn giáo và việc đề cao tự do của con người, khôi phục và phát triển những giá trị nhân văn, có thể xem là hai thành tựu lớn của văn hoá phục hưng.

Bắt đầu từ nửa sau thế kỷ XVI, phong trào cải cách tôn giáo cũng góp phần tạo dựng một bộ mặt xã hội mới cho Châu Âu, góp phần làm cho liên minh nhà nước - nhà thờ ngày một lỏng lẻo hơn. Tân giáo Luther và Tân giáo Calvin ra đời, chủ trương đơn giản hoạt động của giáo hội, đặt niềm tin vào con người chứ không phải bằng nghi thức tôn giáo bên ngoài, dân chủ hơn trong cộng đồng tôn giáo, cũng như phóng khoáng hơn trong quan hệ tôn giáo - xã hội. Với Tân giáo, Cơ đốc giáo đã bị phê phán ngay từ bên trong, cả về mặt lý luận lẫn mặt thực tiễn. Xét về toàn bộ và suy đến cùng thì sự xuất hiện của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã dẫn tới những hệ quả tất yếu về mặt xã hội và sự phát triển khoa học trên những nét cơ bản dưới đây: Một là: Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa không thoả mãn với những kiến thức khoa học tự nhiên còn ở tình trạng chưa đầy đủ, chưa sâu sắc, chưa cụ thể đã có từ trước.

Người ta không thể dựa vào kinh nghiệm đi biển thông thường và dùng thuyền gỗ để chuyên chở khối lượng hàng hoá lớn vượt các đại dương; trái lại cần phải có kỹ thuật đóng tàu mới, có máy móc mới để sản xuất và trao đổi được nhiều hàng hoá hơn, tăng được nhiều lợi nhuận hơn cho các nhà kinh doanh. Thực tế đòi hỏi khoa học tự nhiên như cơ học, toán học, thiên văn học và về sau cả vật lý học, toán học. phải có bước phát triển mới. Trước đây, tri thức của các lĩnh vực khoa học nói trên còn là một bộ phận trực tiếp trong các hệ thống triết học.

Đến thời kỳ này, nảy sinh nhu cầu các ngành khoa học cụ thể tách ra khỏi triết học và trở thành những khoa học độc lập; dùng phương pháp nghiên cứu thật chi tiết, thật cụ thể nhằm phát hiện những thuộc tính, những quy luật của vật chất như tính 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com năng, tác dụng, độ bền vật liệu.Từ đó xuất hiện một phương pháp mới trong khoa học tự nhiên - phương pháp thực nghiệm của khoa học trên mức độ nhất định. Phương pháp này xem xét sự vật trong trạng thái cô lập, tĩnh tại, không vận động, biến đổi, không phát triển. Đó là hệ quả của điều kiện lịch sử phát triển lịch sử khoa học ở thế kỷ XVII - XVIII. Hầu hết các nhà duy vật Anh, Hà Lan, Pháp ở những thế kỷ này đều chịu ảnh hưởng bởi phương pháp tư duy siêu hình.

Những yếu tố biện chứng đôi khi cũng thấy xuất hiện ở học thuyết của họ, nhưng xét tổng quát thì họ vẫn là những nhà triết học duy vật siêu hình. Hai là: Sự xuất hiện và ngày càng phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã làm cho giai cấp tư sản thấy rằng cần phải nắm lấy chính quyền nhằm phá bỏ cát cứ phong kiến, tạo ra và mở rộng thị trường thống nhất để tăng lợi. Mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản cùng hệ tư tưởng tư sản với giai cấp địa chủ phong kiến và hệ thống tư tưởng Cơ đốc giáo ngày càng sâu sắc. Mặc dù nhu cầu nắm lấy chính quyền đã thôi thúc giai cấp tư sản, nhưng vào cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII, giai cấp tư sản này vẫn còn nhỏ bé về số lượng, chưa đủ sức mạnh về kinh tế và tổ chức chính trị để có thể lật đổ hoàn toàn giai cấp địa chủ phong kiến và hệ thống uy quyền của nhà thờ Thiên chúa giáo.

Thực tế lịch sử đó được phản ánh khá rõ nét trong các quan điểm triết học của các nhà duy vật thế kỷ XVII, nhất là các quan điểm triết học về xã hội của họ. Ba là : Thế kỷ XVII - XVIII là thế kỷ thắng lợi của chủ nghĩa duy vật đối với chủ nghĩa duy tâm, của phương pháp tư duy siêu hình đối với phương pháp tư duy trừu tượng duy lý thời trung cổ; và sau đó là thắng lợi của chủ nghĩa vô thần đối với hữu thần. Trong bối cảnh lịch sử như vậy, triết học Pháp không thể không chịu ảnh hưởng của bối cảnh chung Châu Âu. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Có thể nói, cùng với những biến cố của lịch sử khác, những sự kiện trên cho thấy; bước sang thời kỳ phục hưng và cận đại, sự phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã trở thành một xu thế của lịch sử mà không gì có thể ngăn cản nổi.

Sự quá độ từ chế độ phong kiến sang chế độ tư bản là nền tảng thực tiễn xã hội của triết học Tây Âu thời kỳ phục hưng và cận đại. Quan niệm về con người thời kỳ này, không chỉ đơn thuần dừng lại ở việc tiếp thu và khôi phục lại các tư tưởng truyền thống, mà còn phát triển với những mầu sắc riêng của thời đại lịch sử. Ănggen nhận xét: “Từ xưa tới nay nhân loại đã trải qua, đó là một thời đại cần có những con người khổng lồ về năng lực suy nghĩ, về nhiệt tình cách mạng, khổng lồ về lắm tài, lắm nghề và về mặt học thức sâu rộng” [32, 459-460]. Thời kỳ này, sức mạnh vĩ đại của con người đã được coi trọng, ở Italia đã dấy lên khẩu hiệu “Con người hãy thời phụng chính bản thân mình”.

Hình ảnh bức tượng “người khổng lồ” (Đavít) của nhà điêu khắc Mikelan Gielo đã trở thành biểu tượng của con người thời phục hưng và cận đại. Đó là con người đầy sức sống tự do và hoài bão. Giờ đây không phải quan hệ giữa Chúa và thế giới mà chính là quan hệ con người và thế giới là vấn đề trung tâm của triết học. Ngoài những bối cảnh chung của Châu Âu, tình hình kinh tế, chính trị của nước Pháp cũng diễn ra nhiều thay đổi và diễn biến phức tạp.

* Bối cảnh nƣớc Pháp Vạch rõ tình hình kinh tế ở Pháp cuối thế kỷ XVII - đầu thế kỷ XVIII, C.Mác đã viết rằng: Trong thời kỳ ấy, kiến trúc thượng tầng của tài chính, thương nghiệp và công nghiệp, hay nói đúng hơn, bộ mặt của lâu đài xã hội là một sự chế giễu đối với tình trạng đình đốn của ngành sản xuất chủ yếu (nông nghiệp) và đối với tình trạng nghèo đói của những người sản xuất. Thế kỷ thứ XVII, nước Pháp mới chỉ có những mầm mống của chủ nghĩa tư bản - bắt đầu có sự phân hoá giầu nghèo trong tầng lớp nông dân, 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhưng chưa có những công trường thủ công và một nền thủ công nghiệp phát triển rộng rãi trong sản xuất tư bản chủ nghĩa. Chế độ phong kiến với những đạo luật của nó vẫn giữ địa vị thống trị trong kinh tế. Đến thế kỷ XVIII, mâu thuẫn giữa giai cấp quý tộc và giai cấp tư sản đã trở nên hết sức gay gắt.

Nước Pháp là một nước quân chủ chuyên chế phong kiến. Nhà vua nắm quyền hành và hầu như không chịu một sự kiểm soát nào. Vua có quyền quyết định mọi công việc đối nội và đối ngoại, bổ nhiệm và cách chức các bộ trưởng và nhân viên nhà nước, ban hành và huỷ bỏ các đạo luật, trừng phạt và ân xá. Công cụ thống trị của nhà vua gồm có quân đội, cảnh sát và nhà thờ.

Hình tượng duy nhất của nền chuyên chế là nhà tù Ba-xti ở Pari. Đó là một nhà tù lâu đời và kiên cố dùng để giam người cùng với rắn rết. Nhà thờ thống trị về mặt tinh thần, lợi dụng ảnh hưởng lớn trong nông dân để thần thánh hoá nhà vua, khuyên nhủ họ tuyệt đối trung thành với chính thể chuyên chế. Tổ chức hành chính trong nước cũng tập trung vào tay nhà vua.

Vua nắm chính quyền trung ương gồm các bộ trưởng và các hội đồng giúp việc. Vua cử các quan lại thân tín nhất về làm tổng quản có quyền hành rất lớn, là người thay mặt vua để giải quyết những công việc. Cho nên bọn này cũng hết sức lộng quyền tha hồ bóc lột quần chúng mà không bị một sự nghiêm cấm nào. Hầu hết các chức vụ trong bộ máy nhà nước đều được đem ra mua bán.

Người ta chỉ cần bỏ một số tiền là trở thành viên chức và trên cương vị đó có thể bòn rút của nhân dân những món tiền lớn gấp bội. Cách tuyển lựa như vậy làm cho nhà nước trở thành một gánh nặng đối với nhân dân vì tính quan liêu, tham nhũng và bất công của nó. Hơn nữa chế độ chuyên chế đã duy trì những đạo luật, những nguyên tắc và những tập tục phong kiến trong các cơ cấu chính quyền, cho nên nó vô cùng phức tạp và rắc rối. Toàn quốc chia làm nhiều tỉnh nhỏ, mỗi tỉnh chia làm nhiều đơn vị 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.

Sự phân chia khu vực đó không dựa trên đặc điểm hoặc yêu cầu về kinh tế mà thường do những nguyên nhân lịch sử. Phần lớn các tỉnh là các lãnh địa phong kiến độc lập trước kia, dần dần thống nhất lại trong vương quốc Pháp. Vì vậy, các tỉnh vẫn duy trì tính chất riêng biệt của nó với những luật lệ, thuế khoá, giá cả và hệ thống đo lường khác nhau, không thống nhất. Điều đó gây ra nhiều trở ngại cho việc tổ chức hành chính và phát triển kinh tế công thương nghiệp.

Sự phát triển công nghiệp Pháp bị kìm hãm bởi những quy tắc điều chỉnh sản xuất do Nhà nước chuyên chế định ra, bởi chế độ phường hội, bởi tình trạng cung cấp sức lao động tự do có hạn, bởi các thứ trở ngại về mặt tiêu thụ và vận chuyển hàng hoá. Nội thương cũng gặp nhiều khó khăn do chế độ phong kiến gây ra vì có vô số các loại thuế quan, lại không có tiền tệ thống nhất và cũng không có những tiêu chuẩn đo lường thống nhất của Nhà nước v.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ