Chương 1. Cơ sở lý luận về thực thi chính sách bảo trợ xã hội; - Chương 2. Nhận diện những rào cản trong quá trình thực thi chính sách bảo trợ xã hội trên địa bàn quận Ba Đình, thành phố Hà Nội; - Chương 3. Giải pháp khắc phục những rào cản trong quá trình thực thi chính sách bảo trợ xã hội trên địa bàn cấp huyện.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VE THỰC THI CHÍNH SÁCH BẢO TRỢ XÃ HOI 1. Khái quát về chính sách bảo trợ xã hội 1. Khái niệm chính sách và chính sách công Theo Từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Khoa học xã hội "Chính sách là sách lược và kế hoạch cụ thé nhằm đạt một số mục đích nhất định dựa vào đường lối chính trị chung và thực tế mà nhà nước đề ra". Theo Trịnh Ngọc Thạch, thuật ngữ "chính sách" được ghép bởi 2 từ "Chính": là chính thé/bién pháp cai trị (Polity) "Sách": là sách lược, kế sách (Tactics) Hai từ này ghép với nhau mang nghĩa: Chính sách là "sách lược chính tri" hoặc "Quyết sách của một thé chế chính trị/chính thé/nha nước).
Do vậy, hai từ "chính thé" và "sách lược" hợp thành "Chính sách" (Policy). Từ việc khái quát, phân tích về khải niệm chính sách, theo tác giả: Chính sách có thé được hiểu như là công cụ dé thực hiện chủ trương, đường lối, kế sách hành động về phương diện nào đó của một đảng, nhà nước cầm quyên. Nó bao gồm các mục tiêu mà Đảng, Nhà nước muốn đạt được và cách thức thực hiện dé dat được những mục tiêu đó. Chính sách là các quan điểm, biện pháp quản lý xã hội; được thể hiện thông qua các văn bản có tính chính trị, pháp lý nhằm định hướng, quản lý xã hội theo một mục tiêu đã định.
Theo Vũ Anh Tuấn (2012) “Chính sách công. là định hướng hành động, được Nhà nước lựa chon.dé giải quyết những van đề chung của xã hội.” 17 Với các cách tiếp cận khác nhau, theo tác giả: Chính sách công là việc Nhà nước sử dụng các quyết định do mình ban hành tác động lên các đối tượng quản lý nhằm đạt được các mục đích, yêu cầu đặt ra. Theo quan niệm về chính sách công nêu trên, có thể rút ra một số đặc trưng cơ bản về chính sách công như sau: - Thứ nhất, chính sách công bắt nguồn từ các quyết định do Nhà nước ban hành và nội dung của các chính sách được thé hiện trong các văn bản của Nhà nước; hay nói cách khác chính sách công do Nhà nước (cơ quan công quyên) hoạch định và thực thi; - Thứ hai, chính sách công gồm nhiều quyết định có liên quan lẫn nhau, được coi như một sự lựa chọn hành động của Nhà nước có thể do một hoặcnhiều cơ quan nhà nước ban hành tác động giải quyết một nội dung chính sách; - Thứ ba, chính sách công hướng tới giải quyết mục tiêu công đặt ra cũng nhưng tác động vào xã hội; - Thứ tư, mục tiêu chính sách công nhằm tạo ra những thay đôi dé đạt được các mục tiêu phát triển chung của đất nước hoặc địa phương; trong khi đó các giải pháp chính sách lại là việc các chủ thể sử dụng các biện pháp nhằm đạt được mục tiêu đề ra; - Thứ năm, các chính sách công không có sự bất biến mà luôn vận động, biến đổi theo mục tiêu nhà quản lý hoặc do kết quả tác động lên đối tượng điều chỉnh. Khái niệm thực thi chính sách công Thực thi đơn giản là thực hiện hay tiến hành.
Ở đây, thực thi chính sách được xem xét với tư cách là giai đoạn thứ ba của chu trình chính sách công bôn giai đoạn. 18 Thực thi chính sách công là một giai đoạn rất quan trọng của chu trình chính sách, bởi sự thành công của một chính sách phụ thuộc vào kết quả của quá trình thực thi chính sách. Có bốn khả năng xảy ra: (1) Chính sách công tốt và thực thi chính sách tốt dẫn đến thành công: (2) Chính sách công tốt nhưng thực thi chính sach không tốt dẫn đến thất bại; (3) Chính sách công chưa tốt nhưng quá trình thực thi chính sách tốt, dẫn đến thành công: (4) Chính sách công không tốt và quá trình thực thi cũng không tốt, dẫn đến thất bại toàn diện. Đánh giá hiệu quả của chính sách là xem xét tương quan giữa kết quả đạt được từ việc tô chức thực thi chính sách so với những nguồn lực phải bỏ ra dé tạo ra những kết qua đó.
Đánh giá hiệu quả của chính sách công là căn cứ để xem xét việc dành những nguồn lực thực thi chính sách có thỏa đáng hay không và thỏa đáng đến mức nào? Một chính sách có hiệu quả cao đồng nghĩa với việc dành nguồn lực xã hội thực thi chính sách này là xứng đáng và nên được ưu tiên. Chính sách có hiệu quả cảng cao có nghĩa là đóng góp của nó vào tăng trưởng kinh tế - xã hội càng lớn và việc thực thi chính sách đó càng được ưu tiên. Hiệu quả của việc thực thi chính sách có thể tính toán được qua những chỉ số cụ thể phản ánh tương quan giữa kết quả tổng hợp từ việc thực thi chính sách (hoặc kết quả bộ phận cấu thành kết quả tổng hợp) với chỉ phí tổng hợp dành cho việc thực thi chính sách. Khái niệm rào can Rao cản nhận thức xuất hiện trong quá trình học hỏi dé tiếp nhận thông tin về thế giới quan của con người.
Rào cản nhận thức tồn tại khi con người không thể nhận thức đầy đủ được vấn đề hoặ các thông tin dé có cách giải quyết phù hợp. 19 Rào cản trí tuệ, năng lực xuất hiện khi con người không đủ khả năng để tiếp nhận thông tin, kiến thức cần thiết nhằm giải quyết van dé nảy sinh. Rao cản trí tuệ, năng lực tồn tại khi con người không có những kỹ năng, tư duy cần thiết dé tìm ra giải pháp phù hợp đối với các van dé nảy sinh, hoặc không thé sư dụng chúng một cách tối ưu. Theo từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam: "khắc phục nghĩa là làm mat đi những thứ chưa tốt."; Theo Tiêu chuẩn Việt Nam ISO 9000:2007, hành động khắc phục là hành động dé loại bỏ nguyên nhân của sự không phù hợp đã được phát hiện hay tình trạng không mong muốn khác.
việc rút kinh nghiệm và phòng ngừa sự cố xảy ra được hướng dẫn theo yêu cau cải tiến hành động khắc phục và hành động phòng ngừa. Nếu không có hành động cải tiễn thì xem như hệ thống thiếu đi phan quan trọng và hoàn thiện. "Hành động khắc phục" là việc tìm ra nguyên nhân cũng như đưa ra biện pháp phòng ngừa đề sự không phù hợp tái diễn trở lại. Theo tác giả, khái niệm về khắc phục sẽ được sử dụng trong luận văn này là những hành động, giải pháp nhằm giải quyết những thứ chưa phù hợp, những thứ chưa tốt một cách tốt hơn.
Khái niệm bảo trợ xã hội Theo từ điển Tiếng Việt cum từ “Bao tro” có nghĩa là giúp đỡ cho tô chức hoặc cá nhân có khó khăn về vật chất trong cuộc sống. Còn cụm từ “Tro giúp” có nghĩa giúp đỡ về vật chất cho đỡ khó khăn, thiếu thốn. Hai thuật ngữ “bảo trợ xã hội” và “trợ giúp xã hội” có nghĩa gần tương đồng nhau tuy nhiên trong các văn bản, sách báo và giáo trình hiện nay phần lớn sử dụng thuật ngữ “ợ giúp xã hội”. Các văn bản pháp luật về bảo trợ xã hội hiện hành sử dụng cụm từ “tro giúp xã hội thường xuyên ” thay cho “bảo trợ xã hội thường xuyên ”.
20 Theo khái niệm của Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF): Bao trợ xã hội bao gồm một loạt các chính sách và chương trình cần thiết để giảm hậu quả trong cuộc sống nghèo đói và khó khăn của người dân, hay những thiếu thon không những về vật chat mà còn là tinh than. Các chương trình hay được tổ chức như: chuyên tiền mặt hỗ trợ cho trẻ em khó khăn, giúp phát triển kỹ năng sông và hơn thế nữa giúp kết nối các gia đình với chăm sóc sức khỏe, thực phẩm bổ dưỡng và giáo dục chất lượng dé cung cấp cho tat cả trẻ em, bat ké chúng sinh ra trong hoàn cảnh nào, một cơ hội công bằng trong cuộc sống. Tùy theo cách tiếp cận và nghiên cứu mà có các cách phân loại đối tượng bảo trợ xã hội như sau: - Phân loại theo đối tượng, bao gom: + Trẻ em mồ côi: mé côi cả cha lẫn mẹ; M6 côi cha hoặc mẹ va người còn lại bi tuyên bố mất tích theo quy định của pháp luật; M6 côi cha hoặc me và người còn lại đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội, nhà xã hội; Trẻ em bị bỏ rơi chưa có người nhận làm con nuôi. Trẻ em nhiễm HIV/AIDS thuộc hộ nghèo (Theo Điều 5 Nghị định 20/2021/NĐ- CP của Chính phủ) + Người khuyết tật: Người khuyết tật đặc biệt nặng, người khuyết tật nặng.
Người khuyết tật nặng là người cao tuổi, người khuyết tật nặng là trẻ em, người khuyết tật nặng dang mang thai hoặc nuôi một con dưới 36 tháng tuôi.; + Người thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo chưa có chồng hoặc chưa có vợ; đã có chồng hoặc vợ nhưng đã chết hoặc mat tích theo quy định của pháp luật và đang nuôi con dưới 16 tuổi. + Người cao tuôi: + Người nhiễm HIV nghèo không có khả năng lao động; - Phân loại theo loại hình thực hiện, bao gom: 21 + Trợ giúp xã hội đột xuất; + Trợ cấp xã hội hàng tháng; + Trợ giúp y tế, giáo dục - đào tạo và dạy nghề. Khái niệm chính sách bảo trợ xã hội Chính sách của nhà nước về Bảo trợ xã hội là hệ thống các quy định, giải pháp hỗ trợ của nhà nước thông qua các hoạt động hỗ trợ tài chính, nhu yếu phẩm và các điều kiện vật chất khác đối với các đối tượng bảo trợ xã hội với mục tiêu giúp các đối tượng khắc phục những khó khăn trước mắt cũng như lâu đài trong cuộc sống. Trợ cấp xã hội thường xuyên góp phần cùng gia đình và bản thân đối tượng bảo trợ xã hội đảm bảo mức sống tối thiêu.
Hạn mức trợ cấp xã hội thường được tính căn cứ trên cơ sở nhu cầu thực tế của từng đối tượng được trợ giúp đảm bảo phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn cụ thê. Trợ giúp xã hội đột xuất thường là hình thức cứu trợ khan cấp thông qua hình thức trợ giúp băng tiền, lương thực hoặc hiện vật như nhu yếu phẩm, dụng cụ sinh hoạt.