Mở đầu Chương này giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu: lý do nghiên cứu, vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết Chương này sẽ trình bày những cơ sở lý thuyết liên quan đến chi phí, thu nhập. Nêu lại tổng quan các nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài.Cơ sở thực tiễn từ tổng quan điều kiện phát triển kinh tế nông nghiệp của địa bàn nghiên cứu.Từ đó, xác định các nhân tố tác động đến thu nhập của hộ nông dân và thu nhập của hộ ngư dân. Chương 3:Phương pháp nghiên cứu Trên cơ sở lý thuyết, tổng quan các nghiên cứu trước và những đặc điểm của địa bàn nghiên cứu, chương này sẽ trình bày phương pháp nghiên cứu, mô hình 6 nghiên cứu và nguồn dữ liệu cho mô hình nghiên cứu.Trình bày kỹ thuật phân rã theo phương pháp phân rã Oxaca – Blinder để làm cơ sở khoa học phân tích sự khác biệt thu nhập của hộ trong việc sản xuất nông nghiệp (trồng lúa, thanh long…) so với thu nhập của hộ đánh bắt, nuôi trồng thủy sản.
Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu Mô tả phân tích thống kê dữ liệu nghiên cứu, kết quả phân tích của mô hình kinh tế lượng; xác định các yếu tố tác động đến thu nhập của hộ nông dân và thu nhập của hộ ngư dân; so sánh sự khác biệt thu nhập của hộ từ việc sản xuất nông nghiệp và thu nhập của hộ từ việc đánh bắt, nuôi trồng thủy sản. Chương 5: Kết luận và Khuyến nghị chính sách Tổng kết toàn bộ kết quả nghiên cứu, từ đó gợi ý chính sách đến thu nhập của hộ nông dân và thu nhập của hộ ngư dân. Đồng thời cũng nêu ra những hạn chế của nghiên cứu cũng như đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo. 7 CHƢƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương 2 sẽ trình bày tóm lược các khái niệm về hộ gia đình, lý thuyết về chi phí, thu nhập.
Nêu lại các luận cứ khoa học, tổng quan các nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài; trên cơ sở đó xác định các nhân tố tác động đến thu nhập của hai nhóm hộ nghiên cứu, đưa ra mô hình nghiên cứu đề xuất.1 Hộ gia đình Haviland (2003), hộ gia đình hay còn gọi đơn giản là hộ, là một đơn vị xã hội bao gồm một hay một nhóm người ở chung (cùng chung hộ khẩu) và ăn chung (nhân khẩu). Đối với những hộ có từ 2 người trở lên, các thành viên trong hộ có thể có hay không có quỹ thu chi chung hoặc thu nhập chung. Hộ gia đình không đồng nhất với khái niệm gia đình, những người trong hộ gia đình có thể có hoặc không có quan hệ huyết thống, nuôi dưỡng hoặc hôn nhân hoặc cả hai. Vậy, hộ là tập hợp những người có cùng chung mối quan hệ với nhau (có chung huyết thống hoặc là con nuôi, người tình nguyện và được sự đồng ý của các thành viên trong hộ công nhận), sống trong cùng một gia đình và được pháp luật công nhận, cùng sinh sống và phát triển kinh tế theo sự phân công lao động đã được thiết lập từ trước.Gia đình chỉ được xem là hộ gia đình khi các thành viên trong hộ có cùng chung một cơ sở kinh tế.
Hộ nông dân: Hộ nông dân chủ yếu sống theo từng thôn, làng và lao động sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn. Thu nhập của hộ nông dân chủ yếu bằng nghề trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, dịch vụ. Hộ ngư dân: Hộ ngư dân thường sống tập trung thành từng thôn, làng trải dài ở ven sông hoặc ven bờ biển. Lao động sản xuất, thu nhập chủ yếu bằng nghề khai thác, đánh bắt, nuôi trồng và dịch vụ thuỷ hải sản.2 Thu nhập hộ gia đình Theo Samuelson và Nordhause (1997), thu nhập là số tiền thu được hay tiền mặt mà một người hay một hộ gia đình kiếm được trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm).
Tổng cục Thống kê (2010) định nghĩa như sau: - Thu nhập là tổng số tiền mà một người hay một gia đình kiếm được trong 1 ngày, 1 tuần hay 1 tháng, hay nói cụ thể hơn là tất cả những gì mà người ta thu được khi bỏ sức lao động một cách chính đáng được gọi là thu nhập. - Thu nhập bình quân đầu người 1 tháng được tính bằng cách chia tổng thu nhập trong năm của hộ gia đình cho số nhân khẩu của hộ và chia cho 12 tháng. Singh and Strauss (1986) cho rằng: Thu nhập của hộ gia đình gồm thu nhập từ nông nghiệp và thu nhập từ phi nông nghiệp. Tổng cục Thống kê (2010) định nghĩa cụ thể hơn: Thu nhập của hộ là toàn bộ số tiền và giá trị hiện vật quy thành tiền sau khi đã trừ chi phí sản xuất mà hộ và các thành viên của hộ nhận được trong một thời gian nhất định.
Đinh Phi Hổ (2014)nguồn thu nhập của hộ gia đình bao gồm thu nhập từ trồng trọt, chăn nuôi (sau khi đã trừ đi chi phí); từ hoạt động phi nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản (sau khi đã trừ đi chi phí); từ tiền công, tiền lương; và các khoản thu khác (quà tặng, lãi tiết kiệm, tiền cho thuê nhà, lương hưu, trợ cấp,…). Khái niệm thu nhập của nông dân Có thể xem “Kinh tế hộ gia đình nông dân là một cơ sở kinh tế có đất đai, các tư liệu sản xuất thuộc sở hữu của hộ gia đình để sản xuất và thường nằm trong một hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu được đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường có xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao”. Nói cách khác, kinh tế hộ gia đình được hiểu ở các khía cạnh, thứ nhất là đơn vị xã hội làm cơ sở cho phân tích kinh tế, các nguồn lực được góp thành vốn chung và cùng chung ngân sách, cùng sống chung trong một mái nhà, các thành viên đều có quyền và nghĩa vụ trong gia đình; thứ hai, các thành viên của gia đình đều có mối quan hệ họ hàng và cùng chung huyết thống và phụ thuộc thểo quan điểm của mỗi xã hội 9 khác nhau(Công Văn Dị, 1996). Đánh giá thu nhập của hộ nông dân theo phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh như sau: - Thu nhập hỗn hợp (MI) được tính bằng tổng giá trị sản xuất (GO) trừ đi chi phí sản của hộ (C): MI = GO – C - Tổng giá trị sản xuất được tính bằng sản lượng các loại sản phẩm (Qi) nhân với đơn giá đơn vị sản phẩm tương ứng (Pi): GO = Qi Pi - Chi phí sản xuất là toàn bộ chi phí bằng tiền của hộ để tiến hành sản xuất kinh doanh, bao gồm chi phí sản xuất trực tiếp (TT) cộng với lãi tiền vay ngân hàng (i) và khấu hao tài sản cố định (De): C = TT + i + De.
Thu nhập của hộ nông dân được tích luỹ từ các nguồn chính:Trồng trọt;Chăn nuôi;Thuỷ hải sản;Lâm nghiệp;v. Khái niệm thu nhập của ngƣ dân Thu nhập của hộ gia đình ngư dân mang lại chủ yếu trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh thuỷ hải sản bao gồm: Khai thác, đánh bắt; nuôi trồng và dịch vụ trong ngành thuỷ hải sản. Thu nhập mang lại từ lĩnh vực sản xuất – dịch vụ khác của hộ gia đình ngư dân là thứ yếu hoặc không đáng kể trong tổng thu nhập của hộ gia đình. Trong nghiên cứu này, nguồn thu nhập của hộ gia đình bao gồm thu nhập từ trồng trọt, nuôi trồng, khai thác và đánh bắt thủy sản (sau khi đã trừ đi chi phí); từ tiền công, tiền lương; và các khoản thu khác trong một năm.2 Các lý thuyết có liên quan 2.1 Lý thuyết về tăng trƣởng và phát triển nông nghiệp Mô hình David Colman (1994) chỉ ra rằng trong sản xuất kinh doanh, vấn đề thị trường có ý nghĩa sống còn đối với mỗi cơ sở sản xuất kinh doanh, mỗi nhà sản xuất.
Bởi vì trong kinh tế thị trường nhà sản xuất cung cấp hàng hóa và dịch vụ, bán cái mà thị trường cần chứ không phải bán cái mình có vì mục tiêu lợi nhuận. Do vậy, đòi hỏi các cơ sở sản xuất, kinh doanh, nhà sản xuất phải trả lời đúng, chính xác ba vấn đề cơ bản của một tổ chức kinh tế đó là sản xuất kinh doanh cái gì? Sản 10 xuất như thế nào và sản xuất cho ai? Có như vậy, cơ sở sản xuất kinh doanh mới có thể thu được kết quả và có hiệu quả kinh tế cao, mới tồn tại và đứng vững trên thương trường. Như vậy, trước khi quyết định sản xuất, nhà sản xuất phải nghiên cứu kỷ thị trường và nắm vững dung lượng thị trường, nhu cầu thị trường. Mô hình Ricardo (1823) cho rằng giới hạn của đất làm cho lợi nhuận của người sản xuất có hướng giảm và giới hạn của đất làm cho năng suất lao động nông nghiệp thấp.
Mô hình cho thấy nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế là tài nguyên đất nông nghiệp. Mô hình của Kaldor (1961) cho rằng tăng trưởng kinh tế phụ thuộc phát triển kỹ thuật hoặc trình độ công nghệ. Mô hình Kaldor cho thấy trong nông nghiệp, nhất là những nước đang phát triển cần chú ý phát triển kỹ thuật, đưa phương tiện cơ giới hóa vào canh tác để tăng năng suất cây trồng.2 Lý thuyết về thu nhập Kartunen (2009), cho rằng các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình là nguồn lực vốn con người, nhân khẩu, giới tính, trình độ học vấn của chủ hộ, số người phụ thuộc. Bên cạnh đóMankiw (2003), cho rằng sự khác biệt trong thu nhập giữa các nước chính là do khác biệt về năng suất lao động.
Cùng quan điểm Barker (2002), cho rằng năng suất lao động nông nghiệp phụ thuộc vào năng suất đất (Giá trị tổng sản phẩm tính trên 1 ha đất nông nghiệp) Theo Park (1992), trong giai đoạn phát triển, tăng trưởng nông nghiệp do nâng cao năng suất lao động nông nghiệp và chính nó quyết định nâng cao thu nhập cho nông dân Phan Thị Nữ (2010) có nhiều lý thuyết kinh tế giải thích thu nhập được tạo ra từ đâu và yếu tố nào có ảnh hưởng quyết định đến thu nhập của người lao động, hộ gia đình hay các doanh nghiệp. Lý thuyết sản xuất của trường phái Kinh tế học cổ điển cho rằng có ba yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến thu nhập là đất đai, lao động và vốn vật chất.