Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Ô nhiễm kim loại nặng từ các hoạt động tiểu thủ công nghiệp và làng nghề tái chế đang là vấn đề môi trường nghiêm trọng tại Việt Nam. Điểm nóng điển hình được tác giả nêu ra là làng nghề tái chế chì thôn Đông Mai (xã Chỉ Đạo, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên), nơi có hoạt động thu gom, phá dỡ bình ắc quy chì phế thải và nấu luyện chì thủ công kéo dài hơn 30 năm. Mặc dù Ủy ban nhân dân tỉnh Hưng Yên đã ban hành Quyết định số 491/QĐ-UB ngày 27/02/2010 về việc thành lập Cụm công nghiệp xã Chỉ Đạo để di dời các cơ sở sản xuất, tình trạng ô nhiễm tồn lưu trong khu dân cư vẫn ở mức báo động. Theo báo cáo của Trung tâm Môi trường và Phát triển cộng đồng (2014) được trích dẫn trong khóa luận, hàm lượng chì trung bình trong đất tại xã Chỉ Đạo đạt 398,72 mg/kg (vượt 9 lần tiêu chuẩn), trong nước mặt vượt 50–60 lần, và trong không khí dao động từ 26,332 mg/m³ đến 46,414 mg/m³ (vượt tới 4.600 lần). Khảo sát y tế của Viện Sức khỏe Nghề nghiệp và Môi trường phối hợp cùng Trung tâm Chống độc – Bệnh viện Bạch Mai ghi nhận 207/335 trẻ em (chiếm 65,3%) tại đây bị ngộ độc chì, trong đó 33 trẻ có nồng độ chì trong máu trên 70 µg/dL đòi hỏi can thiệp thải độc khẩn cấp.

Xuất phát từ thực trạng trên, tác giả Ngô Thị Kim Oanh thực hiện khóa luận tốt nghiệp ngành Quản lý tài nguyên rừng và môi trường (Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam), dưới sự hướng dẫn của TS. Bùi Xuân Dũng, nhằm kiểm chứng giải pháp công nghệ sinh học xử lý thực vật (phytoremediation) bằng loài cây Thơm ổi (Lantana camara).

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể như sau:

  1. Đánh giá được mức độ ô nhiễm chì trong đất lấy tại làng nghề Đông Mai dùng cho mô hình thí nghiệm.
  2. Xác định khả năng hấp thụ chì của cây Thơm ổi trong đất tại làng nghề tái chế chì Đông Mai qua mô hình thực nghiệm.
  3. Đề xuất phương án sử dụng cây Thơm ổi để xử lý ô nhiễm chì trong đất tại làng nghề Đông Mai.

Phạm vi và đối tượng nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Cây Thơm ổi (Lantana camara) sinh trưởng trên đất nhiễm chì lấy tại làng nghề Đông Mai.
  • Phạm vi không gian: Đất thực nghiệm được thu thập tại khu dân cư thôn Đông Mai (xã Chỉ Đạo, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên) và đất đối chứng lấy tại vườn ươm cây giống Tổ 5 Tân Xuân (thị trấn Xuân Mai, huyện Chương Mỹ, Hà Nội). Địa điểm phân tích mẫu hóa nghiệm là Trung tâm Phân tích và Chuyển giao Công nghệ Môi trường (CEAT) thuộc Viện Môi trường Nông nghiệp (IAE).
  • Phạm vi thời gian: Thí nghiệm sinh trưởng và tích lũy chì trên mô hình được triển khai và theo dõi liên tục trong 60 ngày (với các mốc quan trắc: ban đầu, 30 ngày, 50 ngày và 60 ngày), hoàn thành vào tháng 5 năm 2017.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng trên cơ sở lý thuyết về công nghệ xử lý môi trường bằng thực vật (phytoremediation), tập trung vào hai cơ chế chính: thực vật chiết tách (phytoextraction) và thực vật tích lũy (phytoaccumulation) nhờ các loài thực vật siêu hấp thụ (hyperaccumulators). Tác giả tổng quan các nghiên cứu quốc tế về khả năng chống chịu kim loại nặng (như Thlaspi caerulescens, Brassica juncea, Arabidopsis halleri) và các nghiên cứu tại Việt Nam (Diệp Thị Mỹ Hạnh, Võ Văn Minh, Đặng Đình Kim). Cây Thơm ổi (Lantana camara L., họ Cỏ roi ngựa - Verbenaceae) được lựa chọn do đặc tính sinh trưởng nhanh, chống chịu tốt, sinh khối lớn, hoa có giá trị cảnh quan và đã được nghiên cứu trước đó chứng minh có khả năng tích lũy chì trong rễ lên tới 1% trọng lượng khô mà không bị ức chế sinh trưởng.

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm và phân tích trong phòng thí nghiệm bao gồm:

  1. Phương pháp lấy mẫu và xử lý sơ bộ đất:

    • Thu thập mẫu theo TCVN 7538-2:2005 tại 10 vị trí phân bố đều trong khu dân cư làng nghề Đông Mai, gồm 10 mẫu tầng đất mặt (độ sâu 0–30 cm) và 10 mẫu tầng liền kề (độ sâu 30–60 cm), khối lượng 2,5 kg/mẫu (tổng cộng 20 mẫu).
    • Trộn đều 20 mẫu ban đầu để tạo thành 1 mẫu hỗn hợp đồng nhất, rút gọn lấy 1.000 g mẫu đại diện xử lý sơ bộ theo TCVN 6647:2007 (làm khô không khí, loại bỏ tạp chất, nghiền và rây qua rây 2 mm).
  2. Phương pháp phân tích chì trong đất:

    • Áp dụng TCVN 6496:2009 (Chất lượng đất – Xác định kim loại trong dịch chiết bằng cường thủy). Mẫu đất được phá mẫu bằng hỗn hợp axit HCl và HNO3 (cường thủy) theo TCVN 6649 (ISO 11466), duy trì hồi lưu trong 2 giờ.
    • Hàm lượng chì được đo bằng phương pháp phổ hấp thụ nguyên tử ngọn lửa (F-AAS) ở bước sóng 217,0 nm, sử dụng ngọn lửa không khí/axetylen, đèn catốt rỗng/EDL và hệ thống hiệu chỉnh nền Đơteri. Độ ẩm đất được hiệu chỉnh theo TCVN 6648 (ISO 11465).
  3. Thiết kế mô hình thí nghiệm sinh học:

    • Xây dựng 2 ô thí nghiệm độc lập kích thước 1 m x 1 m x 0,3 m: Ô A chứa 45 kg đất nhiễm chì lấy từ làng nghề Đông Mai; Ô B (đối chứng) chứa 45 kg đất từ vườn ươm Tân Xuân.
    • Mỗi ô được ngăn thành 9 ô nhỏ (kích thước 33 cm x 33 cm), mỗi ô con trồng 1 cây Thơm ổi non đồng đều về độ tuổi, chiều cao ban đầu từ 31–34 cm (mua tại vườn ươm giống Xuân Mai) và được chăm sóc trong cùng điều kiện vi khí hậu.
  4. Phương pháp theo dõi sinh trưởng và phân tích chì trong sinh khối thực vật:

    • Tại các mốc thời gian: ngày thứ 1, ngày thứ 30, ngày thứ 50 và ngày thứ 60, tiến hành thu hoạch ngẫu nhiên 3 cây tại mỗi ô, rửa sạch đất bám rễ.
    • Đo đạc 4 chỉ tiêu sinh trưởng trung bình: Chiều cao cây (cm), đường kính tán (cm), khối lượng tươi toàn cây (g), chiều dài rễ chính (cm).
    • Phân tích hàm lượng chì tích lũy trong cây theo TCVN 7602:2007: Mẫu thực vật được sấy khô, cắt nhỏ, phân hủy bằng hỗn hợp ba axit (H2SO4, HNO3, HClO4), cộng kết chì giải phóng với stronti sunfat (SrSO4), hòa tan chuyển sang dạng dung dịch bằng HNO3 1M và đo trên máy quang phổ hấp thụ nguyên tử AAS ở bước sóng 217,0 nm (hoặc 283,3 nm).

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Tổng quan về vấn đề

Chương này tổng kết cơ sở lý luận về độc tính của chì (Pb), các con đường phơi nhiễm vào cơ thể người qua chuỗi thức ăn, hô hấp và các biến chứng lâm sàng mãn tính (thiếu máu, tổn thương thần kinh, dị tật thai nhi). Tác giả cung cấp bức tranh tổng thể về tình hình ô nhiễm chì tại các điểm nóng trên thế giới như Haina (Cộng hòa Dominica), Cinangka (Indonesia), Kabwe (Zambia), La Oroya (Peru) và Thiên Anh (Trung Quốc). Tại Việt Nam, tác giả tổng hợp số liệu ô nhiễm chì tại các khu công nghiệp ngoại thành Hà Nội, vùng mỏ Thái Nguyên và các làng nghề thuộc lưu vực sông Hồng. Phần tiếp theo mô tả lịch sử làng nghề tái chế chì Đông Mai: từ làng nghề đúc đồng chuyển sang phá dỡ ắc quy từ những năm 1970 với hàng trăm lò nấu chì thủ công trong khu dân cư. Đồng thời, chương I hệ thống hóa các nghiên cứu về cơ chế hấp thụ kim loại nặng của thực vật trên thế giới và trong nước, phân tích các đặc điểm thực vật học, dược tính và sinh thái học của cây Thơm ổi (Lantana camara), qua đó khẳng định tiềm năng ứng dụng loài cây này nhờ khả năng tích lũy chì vượt trội và giá trị tạo cảnh quan.

Chương II: Mục tiêu – Đối tượng – Nội dung – Phương pháp nghiên cứu

Nội dung chương trình bày chi tiết trình tự nghiên cứu từ khâu khảo sát thực địa, lấy mẫu đất tại thôn Đông Mai, xử lý mẫu sơ bộ đến quy trình phân tích hóa lý trong phòng thí nghiệm đạt chuẩn TCVN. Tác giả mô tả chi tiết thiết kế mô hình thực nghiệm so sánh hai ô A (đất làng nghề Đông Mai) và B (đất vườn ươm đối chứng). Toàn bộ quy trình giải phóng mẫu, điều kiện vận hành thiết bị quang phổ hấp thụ nguyên tử AAS, cách lập đường chuẩn từ dung dịch chì gốc 1.000 mg/L và dung dịch làm việc (từ 1,0 đến 8,0 mg/L), công thức tính toán hàm lượng kim loại và biểu mẫu theo dõi 4 thông số sinh thái - sinh học của cây qua các giai đoạn 30, 50, 60 ngày được chuẩn hóa bằng văn bản và bảng biểu.

Chương III: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương III trình bày toàn bộ số liệu thực nghiệm thu được từ mô hình và phân tích chuyên sâu qua các nội dung:

  • Đánh giá mức độ ô nhiễm đất ban đầu: Mẫu đất lấy từ khu dân cư làng Đông Mai (ký hiệu ĐA0) có hàm lượng Pb lên tới 2.108,76 mg/kg (làm tròn 2.109 mg/kg), vượt hơn 30 lần ngưỡng quy định tại QCVN 03:2015/BTNMT đối với đất dân sinh (70 mg/kg). Đất vườn ươm Tân Xuân (ký hiệu ĐB0) có hàm lượng chì là 160 mg/kg, vượt 0,6 lần so với quy chuẩn cho đất lâm nghiệp (100 mg/kg).
  • Đặc điểm sinh trưởng của cây Thơm ổi: Cây trồng ở cả hai ô thích nghi tốt, phát triển bình thường, không có dấu hiệu nhiễm độc hình thái hay sâu bệnh. Tốc độ tăng trưởng về chiều cao, đường kính tán và khối lượng đạt mức cao nhất trong khoảng thời gian từ ngày thứ 30 đến ngày thứ 50 (giai đoạn cây đã vượt qua thời kỳ sốc do rũ bỏ đất bầu).
Chỉ tiêu sinh trưởng trung bình Ô đất Ngày 1 Ngày 30 Ngày 50 Ngày 60
Chiều cao (cm) A 32,87 37,47 44,60 47,30
B 32,82 37,38 44,48 47,10
Đường kính tán (cm) A 21,88 25,90 30,13 33,13
B 21,52 25,50 29,68 32,50
Khối lượng toàn cây (g) A 19,00 38,00 53,66 59,00
B 19,00 37,66 53,00 58,00
Chiều dài rễ (cm) A 14,80 17,36 19,53 21,16
B 14,52 17,20 19,63 21,40
  • Khả năng hấp thụ chì của sinh khối cây và sự suy giảm chì trong đất: Hàm lượng Pb trong sinh khối cây Thơm ổi tăng mạnh từ ngày 1 đến ngày 50, đạt đỉnh 112 mg/kg ở ô A và 97,7 mg/kg ở ô B, sau đó có xu hướng giảm nhẹ vào ngày 60 (ô A đạt 94,25 mg/kg; ô B đạt 104 mg/kg). Ngược lại, hàm lượng Pb trong đất giảm rõ rệt theo thời gian:
Mẫu quan trắc Hàm lượng Pb ban đầu (mg/kg) Hàm lượng Pb ngày 30 (mg/kg) Hàm lượng Pb ngày 50 (mg/kg) Hàm lượng Pb ngày 60 (mg/kg) Mức độ giảm sau 60 ngày (%)
Đất ô A (Đông Mai) 2.108,76 1.790,64 1.425,44 1.399,33 Giảm 709,43 mg/kg (33,67%)
Đất ô B (Vườn ươm) 160,00 90,87 68,46 68,15 Giảm 91,85 mg/kg (57,40%)
  • Cân bằng vật chất chì trong hệ thống: Tác giả tính toán cán cân vật chất phân định tỷ lệ chì còn lại trong đất, lượng cây hấp thụ và lượng thất thoát (do bay hơi vùng rễ, chuyển hóa vi sinh hoặc ngấm rửa trôi). Tại ô A, sau 60 ngày, tỷ trọng chì còn lại trong đất là 66,3%, tỷ trọng tích lũy trong cây là 1,6%, và lượng thất thoát chiếm 32,1%. Tại ô B, sau 60 ngày, tỷ trọng chì còn trong đất là 42,6%, cây hấp thụ 29,1%, và lượng thất thoát là 28,3%.
  • Phương án đề xuất: Tác giả kiến nghị áp dụng phương pháp che phủ bề mặt đất bị ô nhiễm bằng cây Thơm ổi dài hạn tại các khu đất vườn quanh nhà ở của người dân và các dải đất xung quanh, bên trong Cụm công nghiệp xã Chỉ Đạo.

Chương IV: Kết luận và kiến nghị

Chương cuối hệ thống lại các kết luận thực nghiệm, nhấn mạnh tính khả thi của việc sử dụng cây Thơm ổi để xử lý ô nhiễm chì trong đất nhờ khả năng sinh trưởng tốt và giảm thiểu nồng độ chì trong thời gian ngắn. Tác giả đồng thời nêu rõ các hạn chế tồn tại của nghiên cứu và đưa ra các kiến nghị kỹ thuật cho việc triển khai diện rộng.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã cung cấp các kết quả thực nghiệm với các dữ liệu cụ thể:

  • Xác định mức độ ô nhiễm chì nghiêm trọng tại đất dân sinh làng nghề Đông Mai với nồng độ 2.108,76 mg/kg, vượt chuẩn QCVN 03:2015/BTNMT hơn 30 lần.
  • Chứng minh khả năng chống chịu kim loại nặng cao của cây Thơm ổi (Lantana camara): Trong điều kiện đất ô nhiễm nặng (hơn 2.000 mg/kg Pb), cây vẫn tăng trưởng ổn định tương đương với đất đối chứng (chiều cao tăng từ 32,87 cm lên 47,3 cm; khối lượng tươi tăng gấp 3,1 lần, từ 19 g lên 59 g sau 60 ngày).
  • Định lượng hiệu quả làm sạch đất: Sau 60 ngày thử nghiệm, cây Thơm ổi giúp giảm 33,67% hàm lượng chì trong đất ô nhiễm nặng (giảm 709,43 mg/kg tại ô A) và giảm 57,40% tại đất ô nhiễm nhẹ (đưa hàm lượng chì ở ô B từ 160 mg/kg xuống 68,15 mg/kg, đạt chuẩn dưới ngưỡng 100 mg/kg của đất lâm nghiệp ngay từ sau 30 ngày).
  • Tích lũy sinh khối: Cây hấp thu lượng chì lớn nhất trong giai đoạn 30–50 ngày, nồng độ tích lũy trong mô thực vật đạt mức tối đa 112 mg/kg.

Đóng góp mới mà tác giả tự khẳng định so với công trình của nhóm tác giả Diệp Thị Mỹ Hạnh (vốn chỉ dừng lại ở thử nghiệm trong bình tam giác/phòng thí nghiệm đo độ hấp thu sau 24 giờ xử lý ở các nồng độ dung dịch khác nhau) là: Khóa luận này đã theo dõi liên tục động thái sinh trưởng, khả năng tích lũy và chuyển hóa chì trong mô hình đất thực tế kéo dài suốt 60 ngày, đồng thời thiết lập được phương trình cân bằng vật chất mô tả sự biến thiên của hàm lượng chì trong đất theo từng chu kỳ phát triển của cây.

Về mặt giải pháp, tác giả đề xuất phương án sinh học sử dụng cây Thơm ổi trồng phủ xanh các khu đất quanh khu dân cư và bao quanh Cụm công nghiệp tập trung Chỉ Đạo nhằm ngăn chặn bụi chì phát tán, hạn chế xói mòn rửa trôi và từng bước cải tạo đất.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận thẳng thắn chỉ ra các hạn chế thực tế trong mục tồn tại của nghiên cứu:

  • Do điều kiện thực địa, tác giả chỉ lấy mẫu đất tại 10 vị trí phân tán rồi trộn chung thành một mẫu đại diện đưa vào mô hình, nên chưa phản ánh được đầy đủ và chi tiết mức độ phân hóa ô nhiễm chì theo không gian trên toàn địa bàn làng nghề Đông Mai.
  • Thời gian theo dõi thực nghiệm mô hình chỉ kéo dài trong 60 ngày. Khoảng thời gian này đủ để ghi nhận khả năng thích nghi và chu kỳ tích lũy ban đầu, nhưng chưa đủ để đánh giá chu kỳ hoàn trả kim loại khi cây già cỗi, cũng như chưa kiểm soát triệt để hiện tượng suy giảm nồng độ chì trong mô cây từ ngày thứ 50 đến ngày thứ 60 (được dự đoán do cơ chế thoát hơi nước, bay hơi hợp chất chì qua lá hoặc phân giải vùng rễ).
  • Hướng nghiên cứu mở rộng được gợi ý: Cần tiến hành quan trắc trên các ô tiêu chuẩn dài hạn (từ 6 tháng đến vài năm), phân tích tách biệt hàm lượng chì tích lũy trong từng bộ phận riêng biệt (rễ, thân, lá, hoa) và tính toán chi tiết quy trình thu gom, xử lý sinh khối sau thu hoạch để tránh phát tán chì ngược trở lại chuỗi thức ăn.

Giá trị tham khảo

Báo cáo khóa luận tốt nghiệp của tác giả Ngô Thị Kim Oanh là tài liệu tham khảo cho:

  • Giảng viên, sinh viên và học viên cao học thuộc các ngành Khoa học Môi trường, Kỹ thuật Môi trường, Quản lý Tài nguyên Rừng và Đất đai đang tìm hiểu về công nghệ xử lý ô nhiễm đất bằng thực vật (Phytoremediation).
  • Cán bộ kỹ thuật phòng thí nghiệm phân tích môi trường: Có thể tham khảo chi tiết quy trình chuẩn bị mẫu, phá mẫu bằng cường thủy (TCVN 6496:2009 / TCVN 6649) và phương pháp xác định chì trong sinh khối thực vật bằng hệ thống chiết muối kết tủa SrSO4 kết hợp đo phổ F-AAS (TCVN 7602:2007).
  • Các nhà quản lý môi trường tại địa phương có làng nghề tái chế kim loại màu: Cung cấp số liệu thực tế về mức độ tồn dư chì tại Đông Mai và giải pháp sinh thái chi phí thấp nhằm khoanh vùng, giảm thiểu phát tán ô nhiễm.

Câu hỏi thường gặp

Hàm lượng chì ban đầu trong mẫu đất lấy tại làng nghề Đông Mai dùng cho thực nghiệm là bao nhiêu và vượt quy chuẩn mấy lần?
Kết quả phân tích mẫu đất ban đầu ký hiệu ĐA0 lấy từ làng nghề Đông Mai cho thấy hàm lượng chì đạt 2.108,76 mg/kg (làm tròn là 2.109 mg/kg trong báo cáo). Con số này vượt hơn 30 lần so với ngưỡng giới hạn quy định tại QCVN 03:2015/BTNMT đối với đất dân sinh (70 mg/kg).

Cây Thơm ổi sinh trưởng như thế nào trong môi trường đất ô nhiễm chì nặng tại ô A so với đất đối chứng ô B?
Cây Thơm ổi sinh trưởng tốt và tương đối đồng đều ở cả hai môi trường đất. Cây ở ô A không có biểu hiện ngộ độc hình thái hay sâu bệnh hại; sau 60 ngày, chiều cao tăng từ 32,87 cm lên 47,30 cm, đường kính tán tăng từ 21,88 cm lên 33,13 cm, khối lượng tươi tăng từ 19,00 g lên 59,00 g và rễ dài từ 14,80 cm lên 21,16 cm. Các chỉ số này tương đương, thậm chí nhỉnh hơn nhẹ so với cây đối chứng ở ô B.

Hàm lượng chì tích lũy cao nhất trong sinh khối cây Thơm ổi đạt giá trị bao nhiêu và vào thời điểm nào?
Nồng độ chì tích lũy trong cây đạt giá trị cao nhất tại mốc 50 ngày sau khi trồng, đạt mức 112 mg/kg đối với cây trồng trên đất làng nghề Đông Mai (ô A) và 97,7 mg/kg đối với cây trồng trên đất đối chứng (ô B). Từ ngày thứ 50 đến ngày thứ 60, hàm lượng chì trong cây có xu hướng giảm nhẹ (ô A còn 94,25 mg/kg; ô B là 104 mg/kg).

Sau 60 ngày thử nghiệm, hàm lượng chì trong đất của hai ô thí nghiệm giảm được bao nhiêu phần trăm?
Tại ô A (đất ô nhiễm nặng của làng Đông Mai), hàm lượng chì giảm từ 2.108,76 mg/kg xuống còn 1.399,33 mg/kg, tương ứng mức giảm 709,43 mg/kg (đạt tỷ lệ giảm 33,67%). Tại ô B (đất vườn ươm), hàm lượng chì giảm từ 160,00 mg/kg xuống còn 68,15 mg/kg, tương ứng mức giảm 91,85 mg/kg (đạt tỷ lệ giảm 57,40%), đưa đất về dưới ngưỡng tiêu chuẩn cho phép của đất lâm nghiệp.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Ngô Thị Kim Oanh đã phản ánh mức độ ô nhiễm chì nghiêm trọng tại khu dân cư làng nghề tái chế chì Đông Mai, đồng thời chứng minh bằng thực nghiệm khả năng sống sót, sinh trưởng ổn định và hấp thụ kim loại của cây Thơm ổi (Lantana camara). Sau 60 ngày nuôi trồng mô hình, loài cây này đã góp phần làm giảm 33,67% nồng độ chì trong đất ô nhiễm nặng và đưa đất ô nhiễm nhẹ về dưới ngưỡng quy chuẩn quốc gia. Công trình cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm chuẩn xác và luận cứ khoa học có giá trị cho việc áp dụng công nghệ xử lý sinh thái bằng thực vật tại các làng nghề tái chế kim loại ở Việt Nam.