Chương 1: Giới thiệu về đề tài nghiên cứu. Trong chương này, tác giả sẽ làm rõ lý do chọn đề tài nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, các vấn đề nghiên cứu đồng thời giới thiệu tổng quan về phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa khi thực hiện đề tài. Chương 2: Cơ sỡ lý luận khoa học và nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới và Việt Nam về sự liên quan chính trị. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu.
Nội dung chính của chương này tác giả sẽ trình bày phương pháp nghiên cứu, giải thích các biến độc lập và biến phụ thuộc trong mô hình, mô tả các đặc điểm của mô hình thực nghiệm, các giả định đặt ra. Chương 4: Kết quả nghiên cứu trong chương này, tác giả trình bày kết quả nghiên cứu. Chương 5: Kết luận. Ở chương này, tác giả tổng kết các vấn đề nghiên cứu, kết luận lại kết quả thực nghiệm từ mô hình nghiên cứu, nêu lên những hạn chế của đề tài và hướng mở rộng đề tài.
123doc 6 CHƯƠNG 2. TỔNG QUÁT CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM Trước khi bước vào tìm hiểu các nghiên cứu thực nghiệm của từng phần khung lý thuyết liên quan đến mục tiêu nghiên cứu, ta cần tồng quát các nghiên cứu về sự liên quan chính trị đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.1 Cơ sỡ lý thuyết nắm giữ tiền mặt Chính sách nắm giữ tiền mặt của công ty là một phần quan trọng trong chiến lược tài chính của một công ty. Phần lớn các tài liệu liên quan đến quản trị doanh nghiệp tập trung vào động cơ để các công ty nắm giữ tiền mặt. Jensen (1986) cho rằng các khoản tiền mặt lớn có thể ám chỉ một vấn đề chi phí đại diện, do sự tách biệt của chủ sở hữu và người quản lý trong bối cảnh của Mỹ.
Vấn đề đại diện luôn luôn tồn tại ở các công ty cổ phần, khi quyền sỡ hữu và quyền quản lý hoặc vấn đề bất cân xứng thông tin được tách bạch với nhau thành viên nội bộ bên trong (thành viên kiểm soát và ban quản lý) và các nhà đầu tư bên ngoài (cổ đông thiểu số). Loại vấn đề chi phí đại diện này dường như không đáng kể ở Việt Nam vì sự hiện diện điển hình của một cổ đông lớn kiểm soát công ty. Vì vậy, lý do nắm giữ tiền mặt ở Việt Nam có thể xuất phát từ các yếu tố khác. Có rất ít nghiên cứu về mối liên hệ giữa nắm giữ tiền mặt của công ty và các kết nối chính trị.
Tuy nhiên, Opler et al. (1999) khám phá những lợi ích cho một công ty có tài sản thanh khoản như tiền mặt. Họ cung cấp một khuôn khổ khái niệm và thực nghiệm cho các yếu tố quyết định của nắm giữ tiền mặt của công ty, tài liệu hỗ trợ theo kinh nghiệm cho cả giao dịch và động cơ phòng ngừa cho việc nắm giữ tiền mặt. Việc nắm giữ tiền mặt là đặc biệt quan trọng ở Việt Nam vì thị trường tài chính kém phát triển với các ràng buộc tài chính ép buộc.
Thật vậy, Allen và cộng sự. (2005) cho rằng Trung Quốc có một thị trường tài chính hạn chế và một hệ thống pháp luật kém phát triển. Vì vậy, Trung Quốc đã hạn chế các kênh thay thế để tăng cường tài chính ngoài việc sử dụng danh tiếng và các mối quan hệ hoặc kết nối để đối phó với những hạn chế tài chính. Các nghiên cứu của Opler et al.
(1999) và Allen et al. (2005) cho rằng các hạn chế tài chính là nguyên nhân chính khiến các công ty niêm yết của Trung Quốc nắm giữ tiền mặt. Các công ty được kết nối chính trị có khả năng nắm giữ tiền mặt mạnh hơn, như 123doc 7 được chứng minh trong tài liệu, bởi vì tiền mặt có thể đến từ những người cho vay ủng hộ các công ty được kết nối chính trị. Ví dụ, Johnson và Mitton (2003) báo cáo rằng các công ty được kết nối chính trị ở Malaysia có quyền tiếp cận tài chính nợ lớn hơn, trong khi Khwaja và Mian (2005) cho thấy một kết quả tương tự ở Pakistan.
Leuz và Oberholzer- Gee (2006) chỉ ra rằng các doanh nghiệp ở Indonesia có ít kết nối chính trị có nhiều khả năng tìm kiếm tiền ngoài nước, ngụ ý rằng các công ty được kết nối chính trị có thể tiếp cận dễ dàng hơn với thị trường tài chính trong nước. Claessens et al. (2008) cho thấy rằng các công ty kết nối chính trị sự hỗ trợ tài chính của Ngân hàng so với các đối tác không được kết nối chính trị. Khả năng vay vốn cũng đồng nghĩa với việc nắm giữ tiền mặt nhiều hơn.
Các công ty được kết nối chính trị với số tiền nắm giữ tiền mặt lớn hơn có khả năng tận dụng tốt hơn các cơ hội đầu tư do họ tiếp cận tốt hơn với thông tin về các chính sách ở nơi đó. Bởi vì nền kinh tế Việt Nam chủ yếu nằm trong sự kiểm soát của chính phủ, chính sách kinh chủ yếu là từ trên xuống, và do đó, chính sách của chính phủ thường bao phủ chiến lược của công ty. Kết quả là, nắm giữ tiền mặt là một lựa chọn chiến lược quan trọng đối với các công ty được kết nối chính trị của Việt Nam để tận dụng các dự án có khả năng sinh lời ngay lập tức lập luận của chúng tôi cho rằng các công ty Việt Nam nắm giữ nhiều tiền mặt hơn để tạo thuận lợi cho việc nắm bắt cơ hội đầu tư. Opler et al.
(1999) tài liệu rằng cơ hội tăng trưởng thúc đẩy các công ty nắm giữ nhiều tiền hơn; Simutin (2010) cũng chứng minh rằng các công ty có lượng tiền mặt lớn hơn có nhiều cơ hội tăng trưởng hơn. Trong thị trường tài chính hạn chế của tại Việt Nam việc kết nối chính trị là cực kỳ quan trọng để thu được tiền đầu tư và tiếp cận thông tin khi Chính phủ Việt Nam lệnh cho sự ưu tiên phát triển tăng trưởng kinh tế. Vì vậy, chúng tôi hy vọng rằng các công ty được kết nối chính trị này sẽ nắm giữ nhiều tiền hơn cho các cơ hội đầu tư, dẫn đến giả thuyết sau đây. Các công ty Việt Nam kết nối chính trị sẽ chọn nắm giữ tiền mặt cao hơn các công ty không kết nối.2 Hiệu quả hoạt động của công ty: Các giả thuyết hiệu quả: Theo lý thuyết cơ bản, lợi thế cạnh tranh của một công ty nằm ở các nguồn hữu hình và vô hình.
Sự độc quyền của Chính phủ Việt Nam về phân bổ nguồn lực đại diện cho một trở ngại về cấu trúc sở hữu và là một cơ hội. Do đó, các công ty được chính trị kết nối có thể đảm bảo các nguồn lực chính bằng cách thu hút sự ủng hộ từ chính phủ. Các nghiên cứu trước đây đã chứng minh lợi ích kinh tế từ các kết nối chính trị, bao gồm: (i) tiếp cận ưu đãi với thị trường tín dụng; (ii) bảo đảm các hợp đồng quản trị; (iii) nhận được sự giải quyết thuận lợi; (iv) có được sự cứu trợ của chính phủ trong các trường hợp khủng hoảng tài chính; (v) trả thuế thấp hơn; (vi) bảo vệ quyền bảo vệ quyền sở hữu; và (vii) cải thiện hiệu suất tài chính và tài khoản. Cụ thể, Fisman (2001) ước tính giá trị của các kết nối chính trị ở Indonesia và thấy rằng các kết nối chính trị quyết định giá trị của các công ty, trong khi Johnson và Mitton (2003) chứng minh rằng các công ty được kết nối chính trị với Thủ tướng Mahathir Mohamad ở Malaysia có lợi nhuận cao hơn đáng kể.
Ferguson và Voth (2008) theo dõi các kết nối chính trị của các công ty Đức đối với Đảng phát xít vào đầu năm 1933 và thấy rằng các công ty kết nối có kinh nghiệm cao bất thường sau khi quốc xã Đức tăng quyền lực. Goldman et al. (2009) thấy rằng giá trị thị trường của các công ty S & P500 kết nối với Đảng Cộng hòa ở Hoa Kỳ tăng lên để đáp ứng với chiến thắng của đảng Cộng hòa trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2000. Cooper et al.
(2010) cho thấy rằng những đóng góp chính trị của công ty có tương quan thuận và tương quan đáng kể với lợi nhuận cổ phiếu trong tương lai. Những các nghiên cứu cho thấy các công ty kết nối chính trị có giá trị thị trường cao hơn. Trong các cuộc thảo luận trên, chúng tôi đề xuất giả thuyết sau. Các công ty kết nối chính trị sẽ có tài chính tốt hơn các công ty không kết nối 2.3 Lợi ích của công ty: Tiếp cận vào giả thuyết mở rộng tín dụng và bán hàng Theo các lợi ích của các kết nối chính trị về ROA và TobinQ’s cao hơn, chúng tôi điều tra thêm các cơ chế có thể thực hiện tốt hơn thông qua hai tuyến đường: Tiếp cận tín 123doc 9 dụng dễ dàng hơn và doanh thu cao hơn.
Allen et al. (2005) tài liệu rằng Trung Quốc thiếu các tổ chức kinh tế phát triển tốt và có những thay đổi đáng kể trong khu vực. Việt Nam không có hệ thống luật pháp minh bạch, hợp lý và hệ thống thực thi pháp luật hiệu quả, trong khi hệ thống tài chính ngân hàng của nó bị chi phối bởi bốn ngân hàng quốc doanh lớn cung cấp các khoản vay ngân hàng cho các công ty lớn của Việt Nam. Những trở ngại của việc tiếp cận tín dụng của các công ty bị giới hạn thị trường tài chính của Việt Nam và do đó hạn chế khả năng mở rộng của họ.
Điều thú vị là Johnson và Mitton (2003) và Khwaja và Mian (2005) đã ghi nhận rằng các công ty được chính trị kết nối ở các quốc gia khác có thể tiếp cận tài chính nợ tốt hơn. Nó không phải là đáng ngạc nhiên rằng các kết nối chính trị sẽ cho phép các công ty để có thể tiếp cận tốt hơn với các khoản vay ngân hàng. Tuy nhiên, các khoản vay dài hạn lớn hơn không nhất thiết ngụ ý một thỏa thuận tốt hơn cho công ty nếu khoản vay này mang lại lãi suất cao. Vì vậy, điều quan trọng là phải kiểm tra xem các công ty Việt Nam có liên quan về mặt chính trị này có được hưởng lợi từ lãi suất thấp hơn hay không.
Giả thuyết sau đây được đề xuất: H3. Các công ty kết nối chính trị sẽ nhận được các khoản vay ngân hàng dài hạn hơn và chi phí tài chính thấp hơn các công ty không liên kết.