Phần mở đầu, ba chương, kết luận và phần tài liệu tham khảo. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝLUẬN CHUNG VỀ KẾT HÔN CÓ YẾU TỐ NƢỚC NGOÀI VÀ THỰC TRẠNG KẾT HÔN CÓ YẾU TỐ NƢỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM 1. KHÁI NIỆM PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH QUAN HỆ KẾT HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI.1 Hôn nhân Hôn nhân là một hiện tượng xã hội, phát sinh và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài người.
Hôn nhân là cơ sở của gia đình, có mối liên hệ biện chứng, chặt chẽ và trực tiếp với sự phát triển của kinh tế, xã hội. Trong tác phẩm kinh điển về “ Nguồn gốc của gia đình, chế độ tư hữu của nhà nước” [33] Anghen nhấn mạnh sự phát triển của hôn nhân và gia đình phụ thuộc vào quan hệ sở hữu thống trị trong xã hội đó và sự chuyển đổi của bất kỳ hình thái kinh tế xã hội nào đều được quyết định bởi sự thay đổi các điều kiện vật chất của xã hội và quá trình này tác động đến sự phát triển các quan hệ HNGĐ. Trong tác phẩm của mình, Anghen đã phân tích nguồn gốc sự phát triển của gia đình từ giai 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đoạn thấp nhất của xã hội loài người khi con người mới tách ra khỏi thiên nhiên đến giai đoạn cao. Trong giai đoạn đầu con người vẫn sống theo bầy đàn, chưa có sự phân công lao động, cuộc sống chủ yếu nhờ vào săn bắn, hái lượm những thức ăn có sẵn trong tự nhiên, do đó chưa có HNGĐ.
Trong giai đoạn này, xã hội được tổ chức dưới hình thức bộ lạc, hôn nhân dưới dạng quần hôn, quan hệ giữa đàn ông và đàn bà là quan hệ tính giao bừa bãi. Thời kỳ này kéo dài hàng nghìn năm và kết thúc bằng sự ra đời của chế độ quần hôn do có sự phân công lao động trong xã hội và tương ứng với nó là hình thức gia đình quần hôn. Chế độ quần hôn là kết quả của sự liên kết của nhiều người đàn ông và nhiều người đàn bà. Chế độ này được hình thành phát triển qua hai giai đoạn đó là gia đình huyết tộc và gia đình Pa-nu-lu-an [33].
Sau giai đoạn này là sự ra đời và phát triển của hình thái hôn nhân đối ngẫu và hôn nhân một vợ một chồng. Như vậy, từ xã hội nguyên thuỷ, quá trình lao động đã đưa loài người tiến lên những bước phát triển mới và gia đình xã hội chủ nghĩa với hình thức hôn nhân một vợ, một chồng là hình thái gia đình cao nhất trong lịch sử, khác hẳn về chất so với các hình thức gia đình của các chế độ xã hội trước đây. Trong xã hội có giai cấp, hôn nhân và gia đình mang tính giai cấp sâu sắc, mỗi hình thái hôn nhân gia đình phản ánh hình bản chất hình thái xã hội mà nó đang tồn tại gắn liền với một hình thái xã hội nhất định. Chính vì vậy, sự tiến bộ và phát triển của xã hội sẽ thể hiện rõ nét và cụ thể trong sự phát triển và tiến bộ của chế độ hôn nhân và gia đình qua mỗi thời kỳ.
Hôn nhân theo giải thích của Từ điển tiếng Việt của Trung tâm Từ điển - Nhà xuất bản Khoa học xã hội năm 1994 thì khái niệm Hôn nhân được hiểu là : “ Việc nam- nữ chính thức lấy nhau thành vợ, thành chồng” [89]. Theo giải thích của Oxforrd Advanced Learner’s Dictionary xuất bản năm 1992 thì hôn nhân là sự liên kết pháp lý giữa một người đàn ông và một người đàn bà như vợ chồng [104]. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo từ điển giải thích thuật ngữ Luật học của trường Đại học Luật Hà Nội thì “ Hôn nhân là sự liên kết giữa người nam và người nữ dựa trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng theo điều kiện và trình tự luật định nhằm chung sống với nhau suốt đời và xây dựng gia đình hạnh phúc, hoà thuận” [88]. Theo quy định tại khoản 6 và khoản 10, Điều 8 LHNGĐ Việt Nam năm 2000 thì “Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi đã kết hôn”.
Theo Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học thì kết hôn là việc “nam và nữ chính thức lấy nhau làm vợ, chồng theo quy định của pháp luật” [88]. Theo quy định tại khoản 2, Điều 8 LHNGĐ năm 2000: “Kết hôn là việc nam, nữ xác lập quan hệ vợ chồng( lấy nhau thành vợ, thành chồng) theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn”. Dưới góc độ pháp lý, kết hôn trước hết là quyền con người và quyền được pháp luật bảo vệ trên cơ sở các quy định của pháp luật. Để bảo vệ quyền kết hôn của con người, pháp luật về HNGĐ của hầu hết các nước trên thế giới đều ghi nhận quyền được kết hôn của mọi người khi có đầy đủ các điều kiện mà pháp luật quy định đồng thời việc tiến hành kết hôn phải theo đúng các quy định của pháp luật.
Kết hôn là quyền dân sự của cá nhân được quy định trong bộ LDS năm 2005 ( Điều 24, Điều 39) [11] theo đó nam và nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật về HNGĐ có quyền tự do kết hôn, không bên nào được ép buộc, lừa dối bên nào, không ai được cản trở hôn nhân tự nguyện tiến bộ hoặc cưỡng ép kết hôn. Muốn kết hôn hai bên nam nữ phải thể hiện ý chí của mình là mong muốn được xác lập quan hệ vợ chồng. Sự bày tỏ ý chí thể hiện trong việc xin đăng ký kết hôn tại cơ quan đăng ký có thẩm quyền trong đó thể hiện rõ rằng họ hoàn toàn mong muốn được kết hôn với nhau. Cơ quan có thẩm quyền đăng ký kết hôn xem xét yêu cầu đăng ký kết hôn của nam nữ, nếu các bên chủ thể có đủ 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com điều kiện kết hôn thì tiến hành đăng ký việc kết hôn, ghi vào sổ kết hôn và cấp Giấy chứng nhận kết hôn cho nam nữ.
Thông qua sự kiện đăng ký kết hôn Nhà nước đã công nhận hôn nhân cho nam nữ. Giấy chứng nhận kết hôn là cơ sở pháp lý ghi nhận rằng hai bên nam nữ đã phát sinh quyền và nghĩa vụ vợ chồng, đồng thời là cơ sở pháp lý để xác định chủ thể các quan hệ giữa vợ và chồng và là cơ sở để xác định thời điểm phát sinh các quan hệ đó. Kết hôn là cơ sở, tiền đề cho việc tạo ra gia đình - tế bào của xã hội. Pháp luật điều chỉnh kết hôn là tổng thể các quy phạm điều chỉnh việc liên kết giữa nam và nữ và nhằm xác lập nên quan hệ vợ chồng.
Ở bất kỳ xã hội có giai cấp nào, pháp luật cũng luôn là công cụ hữu hiệu điều chỉnh quan hệ kết hôn. Mặc dù có sự khác nhau trong nội dung của các quy phạm pháp luật của các nước về vấn đề kết hôn nhưng nhìn chung pháp luật về kết hôn tập trung vào hai vấn đề pháp lý cơ bản: điều kiện kết hôn và nghi thức kết hôn. Điều kiện kết hôn: Theo Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học thì “ điều kiện kết hôn” là điều kiện để Nhà nước công nhận việc kết hôn của các bên nam nữ [88], như vậy điều kiện kết hôn được hiểu là những đòi hỏi của pháp luật đặt ra đối với các chủ thể khi kết hôn và chỉ khi các chủ thể đáp ứng được đầy đủ các điều kiện đó thì việc kết hôn mới hợp pháp và được pháp luật bảo vệ. Trong hệ thống pháp luật của hầu hết các nước trên thế giới việc xác định tính hợp pháp của các điều kiện kết hôn được đề cập tới các vấn đề: ý chí, tuổi tác, sức khỏe, tình trạng hôn nhân, quan hệ thân thuộc.
Nghi thức kết hôn Nghi thức kết hôn là trình tự tiến hành chính thức nhằm thiết lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật. Tuỳ thuộc vào nền kinh tế, văn hoá và các điều kiện xã hội mà pháp luật các nước khác nhau quy định nghi thức kết hôn khác nhau: Nghi thức kết hôn tôn giáo, nghi thức kết hôn dân sự. Nghi thức kết hôn tôn giáo là hình thức kết hôn được tiến hành trước những người đại 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com diện cho tôn giáo theo thủ tục và quy định của tôn giáo đó. Nghi thức kết hôn dân sự là nghi thức được tiến hành trước cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước.
Khi các bên có đủ điều kiện kết hôn thì cơ quan có thẩm quyền của nhà nước sẽ cấp giấy đăng ký kết hôn cho các bên và ghi vào sổ đăng ký kết hôn. Nếu các bên chủ thể khi đăng ký kết hôn không đáp ứng các yêu cầu về điều kiện kết hôn và nghi thức kết hôn thì không được pháp luật công nhận và bảo vệ. Kết hôn có yếu tố nƣớc ngoài. Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài.
Theo quy định tại Điều 758 Bộ LDS năm 2005 “ Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự có ít nhất một trong các bên tham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc là các quan hệ dân sự giữa các bên tham gia là công dân, tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài”. Việc xác định đó là quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài là dựa vào yếu tố quốc tịch, sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi chấm dứt quan hệ hôn nhân. Như vậy, xét về mặt bản chất, quan hệ HNGĐ có yếu tố nước ngoài cũng là loại quan hệ dân sự song nó khác cơ bản với các quan hệ dân sự thông thường là luôn có yếu tố nước ngoài và khi phát sinh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài luôn dẫn đến hiện tượng xung đột pháp luật.