Đặt vấn đề Tính đến 31/12/2009 Việt Nam có 13.843 ha đất có rừng, nhiều hơn 140.070 ha so với năm 2008, trong đó diện tích rừng tự nhiên là 10.305 ha và rừng trồng là 2. Độ che phủ rừng toàn quốc năm 2009 là 39,1% tăng 0,4% so với năm 2008 (Bộ NN&PTNT, 2010) [3]. Tuy diện tích rừng và độ che phủ của rừng đã tăng lên đáng kể nhưng năng xuất và chất lượng rừng vẫn còn thấp. Hầu hết diện tích rừng tự nhiên là rừng trung bình và rừng nghèo, không còn khả năng đáp ứng được nhu cầu sản xuất hiện nay.
Đặc biệt là rừng trồng, trong những năm vừa qua năng suất đã nâng lên hơn 20m3/ha/năm nhưng vẫn chưa đáp ứng đủ nguyên liệu cho nhu cầu sản xuất của xã hội. Theo số lượng thống kê của Bộ NN&PTNT tính đến năm 2010 trữ lượng gỗ cả nước là 871 triệu m3, trong đó gỗ rừng tự nhiên là 798 triệu m3 và 6,4 tỷ cây tre nứa, rừng trồng là 73 triệu m3, chiếm 8,4% tổng trữ lượng gỗ. Tuy nhiên, sản lượng gỗ trên chủ yếu chỉ phục vụ cho ngành chế biến giấy và gỗ ván sàn. Phần lớn gỗ dùng để chế biến các sản phẩm đồ mộc đặc biệt là đồ mộc gia dụng và đồ thủ công mỹ nghệ vẫn phải nhập khẩu.
Kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ 6 tháng đầu năm 2011 của cả nước đạt 1,9 tỷ USD, tăng 16,8% so với cùng kỳ năm 2010 nhưng kim ngạch nhập khẩu gỗ và sản phẩm gỗ đã là 605 triệu USD tăng 19,8% so với cùng kỳ năm 2010 (Thông tấn xã Việt Nam, 2011) [36]. Điều này một lần nữa khẳng định sự thiếu hụt nguyên liệu trong nước là đáng kể. Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 - 2020 đã đề ra mục tiêu xuất khẩu sản phẩm gỗ đến năm 2020 đạt 7 tỷ USD. Tốc độ tăng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 2 trưởng bình quân hàng năm của kim ngạch xuất khẩu gỗ vào khoảng trên 30%/năm, phấn đấu đến năm 2020 GDP lâm nghiệp đạt khoảng 2 - 3% GDP quốc gia (Bộ NN và PTNT, 2007) [4].
Con số này cho thấy nhu cầu nguyên liệu đầu vào cho các doanh nghiệp xuất khẩu sẽ tăng mạnh đến năm 2020. Với tốc độ phát triển kinh tế như hiện nay, nhu cầu gỗ cho xây dựng và các nhu cầu khác trên thị trường nội địa cũng được các chuyên gia dự báo là sẽ liên tục tăng. Đáp ứng được nhu cầu gỗ ngày càng tăng của xã hội đồng thời góp phần cải thiện phần nào khí hậu ngày càng khắc nghiệt như hiện nay, ngành Lâm nghiệp đã đưa ra nhiều giải pháp, trong đó có giải pháp lựa chọn các loài cây mọc nhanh và các biện pháp kỹ thuật trồng rừng thâm canh nhằm nâng cao năng suất và chất lượng rừng trồng. Một trong những loài cây nguyên liệu có khả năng sinh trưởng nhanh được đề cập đến đó là cây Keo lai (Acacia hybrids).
Cây Keo lai là 1 trong 48 loài cây trồng chính để trồng rừng sản xuất đã được Bộ NN và PTNT công nhận tại Quyết định số 16/2005/QĐ-BNN ngày 15/03/2005. Keo lai không chỉ là giống có ưu thế sinh trưởng nhanh, biên độ sinh thái rộng, có khả năng thích ứng với nhiều loại đất mà còn có khả năng cải tạo đất, cải thiện môi trường sinh thái. Gỗ Keo lai có thể được sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau như ván sàn, ván dăm, trụ mỏ và đặc biệt hơn cả là được sử dụng trong công nghiệp sản xuất giấy. Keo lai có khối lượng gỗ lấy ra lớn gấp 2-3 lần Keo tai tượng và Keo lá tràm, hàm lượng xenluylo trong gỗ cao, lượng lignin thấp do đó có hiệu suất bột giấy lớn, chất lượng bột giấy tốt.
Tại tỉnh Thái Nguyên, công tác trồng rừng trong những năm qua đã được các cấp, các ngành và người dân quan tâm; diện tích rừng trồng tăng lên đáng kể, đặc biệt là rừng sản xuất. Năm 2010 toàn tỉnh có khoảng 167.904 ha rừng, trong đó rừng tự nhiên là 99.922 ha, rừng trồng 67.982 ha; Tổng trữ lượng gỗ trên 3,5 triệu m3 và có khoảng 25 triệu cây tre nứa. Hàng năm toàn Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 3 tỉnh khai thác khoảng 21.000 m3 gỗ và 660 triệu cây tre nứa, lượng lâm sản này một phần phục vụ cho nhu cầu sử dụng của người dân trong vùng, phần còn lại cung cấp nguyên liệu cho Công ty TNHH MTV ván dăm Thái Nguyên và Nhà máy giấy Bãi Bằng. Trong những năm gần đây, tỉnh Thái Nguyên đã có chủ trương đẩy mạnh công tác trồng rừng sản xuất và loài cây trồng chính được đưa vào trồng là cây Keo lai và Keo tai tượng, ngoài ra còn các loài cây khác khá phổ biến như: Mỡ, Bạch đàn.
Tuy phần lớn diện tích trồng rừng chủ yếu là hai loài Keo trên, nhưng theo đánh giá sơ bộ của Sở NN&PTNT tỉnh Thái Nguyên lượng tăng trưởng bình quân hàng năm chỉ đạt khoảng 15-18m3/ha/năm. Với lượng tăng trưởng như vậy đã không đủ khả năng để đáp ứng nhu cầu về gỗ nguyên liệu cho địa phương. Vì vậy cần phải nâng cao năng suất và chất lượng gỗ rừng trồng. Để thực hiện được mục tiêu trên cần phải lựa chọn giống tốt, điều kiện lập địa và đặc biệt là ứng dụng tiến bộ kỹ thuật thâm canh phù hợp.
Xuất phát từ những yêu cầu trên tôi thực hiện đề tài:“Nghiên cứu hiện trạng ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong trồng rừng nguyên liệu ván dăm bằng cây Keo lai ở huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên”. Mục tiêu nghiên cứu - Đánh giá được kết quả ứng dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật trong trồng rừng nguyên liệu ván dăm bằng cây Keo lai ở huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên. - Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nâng cao khả năng áp dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật trong trồng rừng nguyên liệu ván dăm trong khu vực và các vùng có điều kiện sinh thái tương tự. - Tính toán và dự báo được hiệu quả kinh tế của một số mô hình trồng rừng nguyên liệu ván dăm.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 1. Đối tượng nghiên cứu - Các khu rừng trồng nguyên liệu ván dăm bằng Keo lai trên địa bàn huyện Đồng Hỷ - Thái Nguyên. - Cán bộ và người dân tham gia nhân giống và trồng rừng nguyên liệu cho Công ty TNHH MTV VDTN.
Phạm vi nghiên cứu - Các vườn ươm cây giống cung cấp giống trên của Công ty TNHH MTV VDTN. - Các khu rừng trồng nguyên liệu ván dăm ở các cấp tuổi điển hình 3,5,7. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học - Thực hiện đề tài giúp tôi củng cố kiến thức đã học vào công tác nghiên cứu khoa học và thực tiễn sản xuất lâm nghiệp một cách có kết quả.
Mang lại cho tôi một tác phong làm việc khoa học, khả năng lập kế hoạch nghiên cứu hợp lý, tổng hợp, phân tích, đánh giá kết quả và viết báo cáo nghiên cứu trôi trảy. - Góp phần xây dựng quy trình áp dụng TBKT vào trồng rừng nguyên liệu ván dăm và làm tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu việc ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong trồng rừng nguyên liệu công nghiệp ván dăm tiếp theo. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất Ứng dụng kết quả nghiên cứu để hướng dẫn người dân áp dụng vào công tác trồng rừng đạt hiệu quả cao nhất. Đánh giá thực tế công tác trồng rừng của địa phương đã ứng dụng những TBKT để làm tài liệu tham khảo cho công ty và người dân tham gia trồng rừng thâm canh cây Keo lai làm nguyên liệu ván dăm ở huyện Đồng Hỷ.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 5 Chƣơng 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Tổng quan tài liệu 2. Cơ sở khoa học 2. Đặc điểm sinh thái cây Keo lai Keo lai có bố mẹ là Keo tai tượng và Keo lá tràm nên chúng có một số đặc điểm sinh thái có thể giống với đặc điểm sinh thái của hai loài bố mẹ ở nơi nguyên sản.
Kết quả nghiên cứu của Đinh Văn Quang, (2002) [29] tại các đề mục “Xác định lập địa phục vụ trồng rừng công nghiệp cho một số vùng sinh thái ở Việt Nam” thuộc đề tài khoa học KC.NN nghiên cứu các giải pháp công nghệ phát triển nguyên liệu gỗ cho xuất khẩu, cho thấy Keo lai: - Phân bố ở 10 vĩ độ Nam đến 180 vĩ độ Nam - Độ cao so với mặt nước biển từ 0-600m - Lượng mưa trung bình năm >800mm - Chế độ mưa: Mưa mùa hè, mùa khô kéo dài 0 - 7 tháng - Nhiệt độ trung bình năm >200C - Nhiệt độ tháng nóng nhất 370C - Nhiệt độ tháng lạnh nhất 60C - Nhiệt độ tối thấp từ 0-60C + Đất đai: Loài Keo lai không kén chọn loại đất, chúng có thể sinh trưởng trên nhiều loại đất khác nhau như: Đất acid, đất granit, feralit, đất xám, đất đỏ, đất bồi tụ, đất nhiệt đới, đất thoát nước tốt, đất chua, đất nông, sét pha, thịt nặng. - Cấu tượng: Trung bình, nặng - Độ thoát nước tự do, úng theo mùa - Phản ứng đất: đất chua Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 6 - Đặc biệt chịu được trên đất bạc mầu, có thể chịu được úng và có khả năng cố định đạm. So với đặc điểm khí hậu và đất đai ở vùng Đông Bắc Bộ nói chung và khu vực tỉnh Thái Nguyên nói riêng thì cây Keo lai hoàn toàn phù hợp, có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt và đặc biệt khi áp dụng các biện pháp kỹ thuật thâm canh rừng trồng sẽ tăng năng suất cao. Trồng rừng thâm canh - Khái niệm về trồng rừng thâm canh Khái niệm về trồng rừng thâm canh có nhiều nguồn thông tin, các tác giả đã đề cập đến như: Theo Phạm Quang Minh (1987) [26] đưa ra: “Trồng rừng thâm canh là tăng cường đầu tư các biện pháp kỹ thuật tổng hợp tác động vào rừng từ khâu tạo cây con, làm đất, chăm sóc bảo vệ đến khâu khai thác rừng nhằm nâng cao số lượng và chất lượng lâm sản, đồng thời củng cố tiềm năng tự nhiên để nâng cao sức sản xuất của rừng”.
Hay: “Trồng rừng thâm canh là biện pháp đầu tư theo chiều sâu nhằm làm cho rừng trồng sinh trưởng nhanh, sớm đạt được mục tiêu đề ra và đạt kết quả cao hơn trước. Đầu tư theo chiều sâu ở đây không chỉ giới hạn việc đầu tư tiền vốn, vật tư, lao động mà còn làm sao phát huy hết tiềm năng điều kiện sẵn có của tự nhiên và xã hội để mang lại kết quả cao”.