CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU SẢN XUẤT DÂY CÁP ĐIỆN TẠI CÔNG TY TNHH CÁP ĐIỆN LỰC KEVIN VIỆT NAM 1. Cơ sở lý luận về kế toán nguyên vật liệu trong doanh nghiệp 1. Khái niệm và đặc điểm của nguyên vật liệu 1. Khái niệm Trong doanh nghiệp sản xuất, nguyên vật liệu là đối tượng lao động – một trong ba yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất, là cơ sở để hình thành nên thực thể của sản phẩm, tham gia thường xuyên, trực tiếp vào quá trình hình thành sản phẩm và ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm được sản xuất ra.
Nguyên vật liệu là một yếu tố đầu vào quan trọng nhất của quá trình SXKD, nó chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành sản phẩm, về mặt giá trị nguyên vật liệu chuyển dịch một lần toàn bộ vào giá trị của sản phẩm tạo ra. Theo giáo trình: “Kế toán tài chính” - Trường học viện tài chính năm 2010 “Nguyên liệu, vật liệu trong doanh nghiệp là những đối tượng lao động mua ngoài hoặc tự chế biến dùng cho mục đích sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp”. Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 02 – “Hàng tồn kho”: Nguyên liệu, vật liệu là một bộ phận của HTK. Do vậy: nguyên vật liệu là bộ phận tài sản ngắn hạn dự trữ cho sản xuất, lưu thông hoặc đang trong quá trình sản xuất chế tạo của doanh nghiệp.
Như vậy, nguyên vật liệu là đối tượng lao động cấu thành nên thực thể sản phẩm như sắt, thép, dầu nhớt,.nó dùng vào quá trình sản xuất hình thành nên chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí sản xuất chung. Đặc điểm Trong các doanh nghiệp sản xuất nguyên vật liệu được coi là đối tượng lao động chủ yếu được tiến hành gia công chế biến ra sản phẩm. Nguyên vật liệu có các đặc điểm chủ yếu sau: - Tham gia vào từng chu kỳ sản xuất, phục vụ cho sự hoạt động liên tục và bình thường của máy móc, thiết bị tạo ra các thành phẩm, bán thành phẩm. Vì vậy, để đảm bảo yêu cầu sản xuất doanh nghiệp phải thường xuyên tiến hành thu mua, dự trữ và quản lý chặt chẽ chúng về mặt số lượng, chủng loại, chất lượng, giá trị.
SVTH: Vũ Thị Nhung 5 Lớp: K48D3 Luan van GVHD: ThS. Trần Mạnh Tường Khóa luận tốt nghiệp - Khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh, chúng bị tiêu hao toàn bộ hoặc bị thay đổi hình thái vật chất ban đầu để tạo thành hình thái sản xuất vật chất của sản phẩm. - Nguyên vật liệu có rất nhiều chủng loại và thường chiểm tỉ trọng lớn trong chi phí sản xuất. Phân loại Trong các doanh nghiệp, nguyên vật liệu rất đa dạng và phong phú, mỗi loại có một vai trò, công dụng và tính năng lý hóa khác nhau.
Vì vậy, để quản lý nguyên vật liệu một cách hiệu quả, các doanh nghiệp phải tiến hành phân loại nguyên vật liệu. Có nhiều tiêu thức phân loại nguyên vật liệu nhưng thông thường kế toán sử dụng một số các tiêu thức sau để phân loại nguyên vật liệu: Phân loại theo vai trò và công dụng chủ yếu của nguyên vật liệu: - Nguyên vật liệu chính: là loại vật liệu bị biến biến đổi hình dạng và tính chất của chúng sau sản xuất. Trong quá trình chế biến sản xuất để cấu thành thực thể sản phẩm. Vật liệu chính cũng có thể là những sản phẩm của công nghiệp hoặc nông nghiệp khai thác từ trong tự nhiên chưa qua khâu chế biến công nghiệp như: sắt, thép, cát, đá….
- Vật liệu phụ: là loại vật liệu có tác dụng phụ trong quá trình sản xuất. Chủ yếu được sử dụng kết hợp với vật liệu chính để nâng cao chất lượng sản phẩm hoặc để đảm bảo cho tư liệu lao động hoạt động được bình thường. - Nhiên liệu: Về thực thể là một loại vật liệu phụ, nhưng có tác dụng cung cấp nhiệt lượng trong quá trình thi công, kinh doanh tạo điều kiện cho qúa trình chế tạo sản phẩm có thể diễn ra bình thường. Nhiên liệu có thể tồn tại ở thể lỏng, khí, rắn như: xăng, dầu, than củi, hơi đốt dùng để phục vụ cho công nghệ sản xuất sản phẩm, cho các phương tiện máy móc, thiết bị hoạt động.
- Phụ tùng thay thế: Là những loại vật tư, sản phẩm dùng để thay thế, sửa chữa máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, công cụ dụng cụ sản xuất… - Vật liệu và thiết bị xây dựng cơ bản: Bao gồm cả thiết bị cần lắp, không cần lắp, công cụ, khí cụ và vật kết cấu dùng để lắp đặt vào các công trình xây dựng cơ bản. SVTH: Vũ Thị Nhung 6 Lớp: K48D3 Luan van GVHD: ThS. Trần Mạnh Tường Khóa luận tốt nghiệp - Phế liệu: Là các loại vật liệu loại ra trong quá trình thi công xây lắp như gỗ, sắt, thép vụn hoặc phế liệu thu hồi trong quá trình thanh lý tài sản cố định. Tác dụng của cách phân loại này là cơ sở để xây dựng định mức tiêu hao cho từng loại, từng thứ nguyên vật liệu và cũng là cơ sở để hạch toán chi tiết nguyên vật liệu trong doanh nghiệp.
Phân loại theo nguồn hình thành - Nguyên vật liệu mua ngoài: Là loại nguyên vật liệu mà doanh nghiệp không tự sản xuất mà mua từ thị trường trong nước hoặc nước ngoài. - Nguyên vật liệu tự chế biến, thuê gia công: Là nguyên vật liệu doanh nghiệp tự tạo ra để phục vụ cho nhu cầu sản xuất. - Nguyên vật liệu hình thành từ nguồn khác: Nguyên vật liệu nhận tặng, thưởng, nhận viện trợ của các tổ chức, cá nhân, phế liệu thu hồi từ tài sản cố định thanh lý. Tác dụng của cách phân loại này giúp cho việc xây dựng kế hoạch, tìm nguồn nguyên liệu cung cấp sao cho đạt hiệu quả tốt nhất.
Phân loại theo mục đích sử dụng - Nguyên vật liệu sử dụng cho mục đích sản xuất: là nguyên vật liệu trực tiếp phục vụ cho quá trình sản xuất chế tạo sản phẩm. - Nguyên vật liệu sử dụng cho mục đích khác: Như nguyên vật liệu sản xuất chung cho nhu cầu bán hàng, nhu cầu quản lý doanh nghiệp, nguyên vật liệu đem góp vốn liên doanh, liên kết, nguyên vật liệu đem quyên tặng. Tác dụng của cách phân loại này nhằm xác định trọng tâm cần quản lý những loại nguyên vật liệu nào. Phân loại theo quyền sở hữu - Nguyên vật liệu của doanh nghiệp.
- Nguyên vật liệu nhận giữ hộ. - Nguyên vật liệu nhận gia công chế biến. Tác dụng của cách phân loại này cho biết vật liệu nào thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, vật liệu nào không thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp. SVTH: Vũ Thị Nhung 7 Lớp: K48D3 Luan van GVHD: ThS.
Trần Mạnh Tường Khóa luận tốt nghiệp 1. Yêu cầu quản lý và nhiệm vụ kế toán nguyên vật liệu 1. Yêu cầu quản lý Đối với doanh nghiệp sản xuất việc quản lý nguyên vật liệu một cách khoa học và hiệu quả là sự đòi hỏi cấp bách. Hiện nay, nguyên vật liệu không còn là khan hiếm và không còn phải dự trữ nhiều như trước nhưng vấn đề đặt ra là phải cung cấp đầy đủ, kịp thời để đảm bảo cho quá trình sản xuất được diễn ra thường xuyên đồng thời sử dụng vốn tiết kiệm nhất không gây ứ đọng vốn kinh doanh.
Để công tác quản lý này đật hiệu quả cần đảm bảo các yêu cầu sau: - Phải có đầy đủ thông tin tổng hợp vật liệu cả về hiện vật và giá trị, về tình hình nhập, xuất, tồn kho. Tuỳ theo điều kiện và yêu cầu quản lý của từng doanh nghiệp mà có thể cần những thông tin chi tiết hơn. - Phải tổ chức hệ thống kho tàng đảm bảo an toàn cho vật liệu cả về số lượng và chất lượng. Phát hiện và ngăn ngừa những biểu hiện vi phạm làm thất thoát vật liệu.
- Quản lý định mức dự trữ vật liệu, tránh tình trạng ứ đọng hoặc khan hiếm vật liệu, ảnh hưởng đến tình trạng tài chính và tiến độ sản xuất của doanh nghiệp. Trên cơ sở các yêu cầu quản lý đó, nội dung công tác quản lý nguyên vật liệu tại các khâu như sau: + Khâu thu mua: Đảm bảo cung cấp đầy đủ kịp thời nguyên vật liệu cho sản xuất sản phẩm về mặt số lượng, chủng loại, chất lượng, giá cả hợp lý phản ánh đầy đủ chính xác giá thực tế của vật liệu (giá mua, chi phí thu mua), chi phí hao hụt trong định mức. Nếu không thực hiện tốt khâu thu mua sẽ ảnh hưởng đến tiến độ và chất lượng nguyên vật liệu. + Khâu bảo quản: Doanh nghiệp phải tổ chức hệ thống kho tàng hợp lý, đúng chế độ bảo quản với từng loại vật liệu để tránh hư hỏng, thất thoát, hao hụt, mất phẩm chất ảnh hướng đến chất lượng sản phẩm.
+ Khâu dự trữ: Để đảm bảo cho quá trình sản xuất tiến hành, không bị ngừng trệ, gián đoạn. Doanh nghiệp phải dự trữ vật liệu đúng định mức tối đa, tối thiểu đảm bảo cho sản xuất liên tục bình thường không gây ứ đọng (do khâu dự trữ quá lớn) tăng nhanh vòng quay vốn. SVTH: Vũ Thị Nhung 8 Lớp: K48D3 Luan van GVHD: ThS. Trần Mạnh Tường Khóa luận tốt nghiệp + Khâu sử dụng vật liệu: doanh nghiệp cần tính toán đầy đủ, chính xác, kịp thời giá nguyên vật liệu có trong giá vốn của thành phẩm.
Đồng thời thường xuyên hoặc định kỳ phân tích tình hình thu mua, bảo quản dự trữ và sử dụng vật liệu, trên cơ sở đề ra những biện pháp cần thiết cho việc quản lý ở từng khâu, nhằm giảm mức tiêu hao vật liệu trong sản xuất sản phẩm, là cơ sở để tăng thêm sản phẩm cho xã hội. Nhiệm vụ kế toán nguyên vật liệu Xuất phát từ đặc điểm, yêu cầu quản lý nguyên vật liệu cũng như vai trò của kế toán nguyên vật liệu trong hệ thống quản lý kinh tế, nhiệm vụ của kế toán nguyên vật liệu trong doanh nghiệp được xác định như sau: - Tổ chức ghi chép, phản ánh đầy đủ, tổng hợp số liệu về tình hình thu mua, vận chuyển bảo quản, nhập - xuất - tồn nguyên vật liệu, tình hình luân chuyển vật tư. Tính toán đúng đắn giá vốn và giá thành của vật liệu đã thu mua, nhập và xuất kho của doanh nghiệp, kiểm tra tình hình thu mua nguyên vật liệu về các mặt: số lượng, chủng loại, giá cả, thời hạn nhằm đảm bảo cung cấp đầy đủ, chính xác, kịp thời chủng loại nguyên vật liệu và các thông tin cần thiết phục vụ cho quá trình sản xuất và yêu cầu quản lý của doanh nghiệp.