Chương 1. Những vấn đề chung về kế toán hoạt động tín dụng tại ngân hàng thương mại Khách hàng Khách hang 4) ì Giao dịch (8 viên ghi có † i Quy chính : (1) Khach hang yéu cau giao dich. (2) Giao dịch viên chuyển chứng từ cho bộ phận kiém soat. (3) Kiểm soát chuyền chứng từ sau khi kiểm soát Kiém soat : cho giao dich vién.
(4) Giao dịch viên ghi nợ chuyên chứng tir ghi "—¬—-._— có cho giao dịch viên ghi có. (5) Trả lại chứng từ cho giao dịch viên ghi nợ. (6) Kiểm soát trả chứng từ cho qũy chính trong Nhập chứng từ vào máy trường hợp trả tiền mặt. - " (7) Khách hàng tới bộ phận qty đề nhận tiên.
(8) Bộ phan qũy trả tiền (Thu) cho khách hàng. Mô hình giao dịch nhiều cửa Theo mô hình này, kế toán chỉ làm nhiệm vụ kiểm soát chứng từ và hạch toán vào số sách kế toán theo quy định, tat cả các giao dịch liên quan đến tiền mặt khách hàng phải nộp (nhận) từ quỹ chính của NH. Do vậy năng suất lao động sẽ không cao, khách hàng phải qua nhiều khâu, cửa đề hoàn thành giao dịch của mình. Cụ thé, khi khách hàng giao dịch với ngân hàng thì phải nộp chứng từ kế toán cho đúng Thanh toán viên (TTV) giữ tài khoản của mình, và mặc dù chỉ thực hiện một giao dịch thường thi khách hàng vẫn phải qua nhiều cửa: TTV; thủ quỹ; cán bộ nghiệp vụ có liên quan.
Mô hình giao dịch “một cửa ” Mô hình “giao dịch một cửa” là mô hình cho phép khách hàng khi đến giao dịch với ngân hàng chỉ giao dịch với một cán bộ ngân hàng vẫn có thé giải quyết toàn bộ các nhu cầu của mình về tiền gửi, thanh toán, mua bán ngoại tệ, tiền vay. Cán bộ ngân hàng tiếp khách trong mô hình “giao dịch một cửa” gọi là giao dịch viên vừa làm nhiệm vụ kế toán viên, vừa là thủ quỹ thực hiện thu, chi tiền và có hạn mức thu, chỉ tiền, hạn mức xử lý nghiệp vụ (đối với nghiệp vụ cho vay; mua bán ngoại tệ.) phù hợp với trình độ, kinh nghiệm làm việc của mình. Đối với giao dịch trong hạn mức, giao dịch viên kiểm tra chứng từ, thực hiện giao dịch và thu/ chi tiền của khách hàng ngay. Đối với giao dịch trên hạn mức, giao dịch viên cần phải có kiểm soát viên phòng nghiệp vụ kiểm tra, đối chiếu và phê duyệt trên hệ thống máy tính cũng như trên chứng từ trước khi thực hiện thu/ chi tiền của khách hàng.
Hoàng Lê Uyên — D17CQKT02-B 12 Khóa luận tốt nghiệp đại học Chương 1. Những vấn đề chung về kế toán hoạt động tín dụng tại ngân hàng thương mại Dịch vụ khách Khách hàng hàng @) (3) | (6) : a) Giao dich Giao dich Giao dich Giao dịch “ i Qty chính vién 1 vién 2 vién 3 vién 4 ; > ¡—Œ) (4) (3) Kiém soat (1) (7) Giao dịch viên ứng qũy dau ngày va nộp qũy cuối ngày. (2) Khách hàng yêu cầu giao địch. (3) Giao dịch viên thực hiện chi (thu) tiền mặt cho khách hàng.
(4) Giao dịch viên chuyên chứng từ cho bộ phận kiểm soát khi vượt quyêngiao dịch. (5) Kiểm soát chuyên chứng từ sau khi kiêm soát cho giao dich viên. (6) Giao dịch viên trả tiền (Thu) cho khách hàng. Mô hình giao dịch m cửa Đồng thời với mô hình “giao dich một cửa”, tổ chức bộ máy kế toán tại chi nhánh thay đôi mô hình thành hai khu vực : Khu vực Front End và khu vực Back End.
Khu vực Front End thực hiện giao dịch trực tiếp với khách hàng, xử lý các giao dịch liên quan đến khách hàng dé giải phóng khách hàng nhanh. Toàn bộ các phần công việc còn lại dé hoàn thiện quy trình xử lý nghiệp vụ sẽ được thực hiện tại bộ phận Back End. Khu vực Back End là khu vực hỗ trợ xử lý của Frond End, xử lý các nghiệp vụ, phần hành công việc không liên quan trực tiếp đến tài khoản khách hàng, nhận toàn bộ các chứng từ liên quan đến công việc nội bộ va thực hiện các công việc đối chiếu chỉ tiết và tổng hợp. Mô hình và phương thức tô chức bộ máy kế toán NH trong điều kiện ứng dụng công nghệ hiện đại 1.
Mô hình tổ chức bộ máy kế toán NH Khi việc ứng dụng tin học trong công tác kế toán ngân hang ở mức độ cao, giữa trụ sở chính và các đơn vị trực thuộc đều có thé được nối mạng on-line. Một nghiệp vụ bat kỳ phat sinh tại chi nhánh có thể được truyền ngay về trung tâm, cập nhật số liệu kế toán chung của toàn đơn vị pháp nhân ngân hàng. Do đó với mô hình ngân hàng hiện đại, các pháp nhân đơn vị ngân hàng đều có xu hướng chuyền đổi từ mô hình quản lý dữ liệu phân tán tại các chi nhánh sang mô hình quản lý dữ liệu tập trung. Mô hình quản lý đữ liệu tập trung cho phép các giao dịch thực hiện trong ngày của các Chi nhánh đều Hoàng Lê Uyên — D17CQKT02-B 13 Khóa luận tốt nghiệp đại học Chương 1.
Những van đề chung về kế toán hoạt động tín dung tại ngân hàng thương mại được hạch toán tai máy chủ tại Hội sở chính (HSC). Mọi dữ liệu của toàn bộ các chi nhánh của pháp nhân NHTM xuất phát từ các nguồn khác nhau như yêu cầu từ khách hàng, từ mạng điện tử, từ nội bộ chi nhánh. đều được truyền tải về HSC, thực hiện xử lý và lưu trữ có hệ thống tai máy chủ cua HSC. Trên cơ sở dir liệu phat sinh tại các chi nhánh, HSC hạch toán kế toán cho toàn bộ hệ thống, các chi nhánh chỉ là những cơ sở nhập dữ liệu đầu vào cho ngân hàng.
Sau khi xử lý dữ liệu tại HSC, thông tin kết quả sẽ được gửi lại chỉ nhánh. Các chỉ nhánh truy cập và khai thác chung nguồn dữ liệu thống nhất. Mặc dù trình độ công nghệ ứng dụng trong công tác kế toán ngân hàng ở mức độ cao, nhưng do phạm vi địa lý hoạt động thường rộng, nhiều chi nhánh, đồng thời dé tăng cường tính năng động, sáng tạo trong hoạt động thì pháp nhân ngân hàng vẫn thực hiện phân cấp quản lý tài chính. Phù hợp với mức độ phân cấp quản lý tài chính nên bộ máy kế toán pháp nhân ngân hàng cũng được tô chức phân cấp tương ứng (thường theo 2 cấp): Đơn vị kế toán cấp trên (Hội sở chính) và đơn vị kế toán cấp cơ sở (chi nhánh).2 Phương thức sử dụng phan mém kế toán hoạt động tin dụng tại các NHTM - Kế toán NHTM thực hiện các giao dịch và nghiệp vụ chủ yếu trên phần mềm.
Các tai khoản kế toán sử dụng theo hệ thống tài khoản kế toán do Ngân hàng nhà nước ban hành. - T24 là một hệ thống phần mềm ngân hàng lõi của NHTM được nhiều NHTM sử dụng để quản lý và theo dõi các nghiệp vụ kinh tế và tài chính của hệ thống NHTM trên toàn quốc. Phần mềm này bao gồm các phân hệ sau: a) Phân hệ Cho vay và Huy động vốn (Lending and DeposIt), viết tắt là LD; b) Phân hệ Mua bán ngoại tệ liên ngân hàng và quốc tế (Interbank and International Foreign Exchange), viết tắt là FX; c) Phân hệ Quản lý các nghiệp vụ phái sinh (Derivatives), viết tắt là DX; d) Phân hệ Chuyên tiền (Fund Transfer), viết tắt là FT; đ) Phân hệ Mua bán chứng khoán (Securities), viết tat là SC; e) Phân hệ Quản lý khách hàng (Customer), viết tắt là CUS; g) Phân hệ Thị trường tiền tệ (Money Market), viết tắt là MM; h) Phân hệ Quản lý tài khoản khách hàng (Account), viết tắt là AC; i) Phân hệ Quản lý han mức (Limit), viết tắt là LI; k) Phân hệ Quản lý nợ quá hạn (Loans Past Dues), viết tắt là PD; 1) Phân hệ Quản lý quỹ giao dich (Teller), viết tắt là TT; m) Phân hệ Quản lý dự trữ bắt buộc (Cash Reserve Ratio), viết tắt là CRR. Hoàng Lê Uyên — D17CQKT02-B 14 Khóa luận tốt nghiệp đại học Chương 1.
Những van đề chung về kế toán hoạt động tín dung tại ngân hàng thương mại Mỗi NHTM sử dụng một phần mềm riêng, dựa theo phần mềm lõi T24 dé phục vụ hoạt động trong ngân hàng mình. TK kế toán sử dụng theo NHNN ban hành và khi đưa vào phần mềm thì sẽ được mã hóa theo từng chế độ của NHTM. Nội dụng kế toán hoạt động tín dụng tại các NHTM 1.1 Chứng từ sử dung và hệ thống tài khoản sử dung của kế toán hoạt động tín dụng tại các NHTM 1.1 Chứng từ sử dụng trong Kế toán hoạt động tín dụng tại các NHTM Chứng từ dùng trong kế toán cho vay là những loại giấy tờ, vật mang tin đảm bảo về mặt pháp lý cho các khoản cho vay của ngân hàng. Mọi sự tranh châp vê các khoản cho vay hoặc tra nợ giữa ngân hang và người vay đều phải giải quyết trên cơ sở các chứng từ hợp lệ, hợp pháp.
Chứng từ kế toán cho vay bao gồm nhiều loại để phục vụ cho công việc hạch toán và theo dõi thu hồi nợ: - Chứng từ gốc gồm: Giấy đề nghị vay vốn, hợp đồng tín dụng, giấy nhận nợ, các loại giây tờ xác nhận tài sản thê châp, câm cô. Hợp đông tín dụng còn được sử dụng dưới hình thức kê ước vay tiên, sô cho vay. Giây nhận nợ là giây tờ xác định trách nhiệm và khoản nợ người vay nhận nợ với ngân hàng và người vay phải hoàn trả khi đên kỳ hạn. - Chứng từ ghi số: Căn cứ vào các chứng từ gốc được quy định theo chế độ hiện hành.
e Nếu cho vay bằng tiền mặt: Dùng giấy xin lĩnh tiền mặt e Nếu cho vay bằng chuyên khoản tiền vay chuyên thăng vào tài khoản của người cung câp) thì dùng các chứng từ thanh toán không dùng tiên mặt như uỷ nhiệm chi, thẻ thanh toán e Trường hợp ngân hàng chủ động trích tài khoản tiền gửi của người vay dé thu nợ, thu lãi đên hạn thì dùng phiêu chuyên khoản và bảng kê tính lãi hàng tháng 1.