CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN DOANH THU CUNG CẤP DỊCH VỤ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP DỊCH VỤ.1 Một số khái niệm cơ bản.1 Cung cấp dịch vụ. Cung cấp dịch vụ là quá trình thực hiện các dịch vụ đã thỏa thuận theo hợp đồng trong một hay nhiều kỳ kế toán cho khách hàng như cung cấp dịch vụ vận tải, dịch vụ du lịch, giáo dục, cho thuê TSCĐ theo phương thức cho thuê hoạt động… Quá trình cung cấp dịch vụ và quá trình thực hiện dịch vụ là những khâu vô cùng quan trọng, có vai trò quyết định sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp dịch vụ, phục vụ đắc lực cho công tác kế toán doanh thu cung cấp dịch vụ. Doanh thu cung cấp dịch vụ.
Theo chuẩn mực kế toán số 14- Doanh thu và thu nhập khác có quy định: “ Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu”. Doanh thu cung cấp dịch vụ là toàn bộ số tiền doanh nghiệp thu được hoặc sẽ thu được từ quá trình cung ứng và thực hiện dịch vụ. Bản chất của doanh thu cung cấp dịch vụ chỉ bao gồm giá trị lợi ích kinh tế doanh nghiệp đã nhận được và có thể nhận được từ các hoạt động dịch vụ thông thường, các khoản thu từ các hoạt động ngoài cung cấp dịch vụ được coi là thu nhập khác, các khoản thu hộ bên thứ ba không phải là nguồn lợi kinh tế của doanh nghiệp, không làm tăng vốn chủ sở hữu thì không được coi là doanh thu cung cấp dịch vụ. Các khoản làm giảm trừ doanh thu cung cấp dịch vụ.
Theo chuẩn mực kế toán số 14- Doanh thu và thu nhập khác quy định: Chiết khấu thương mại: Là khoản doanh nghiệp bán giảm giá niêm yết cho khách hàng mua hàng với khối lượng lớn. Trường hợp khách hàng sử dụng dịch vụ nhiều lần mới đạt được giá trị được hưởng chiết khấu thì khoản chiết khấu thương mại này được ghi giảm trừ vào giá bán trên hóa đơn GTGT hoặc hóa đơn bán hàng lần cuối cùng. Trường hợp khách hàng không tiếp tục sử dụng dịch vụ hoặc khi số chiết khấu thương mại được hưởng lớn hơn số tiền cung cấp dịch vụ ghi trên hóa đơn lần cuối cùng thì doanh nghiệp phải chi tiền chiết khấu thương mại trả cho khách hàng.TS Đỗ Minh Thành 5 SVTH: Bùi Thị Tuyết Luan van Khóa luận tốt nghiệp Khoa: Kế toán – kiểm toán Giảm giá hàng bán: Là khoản giảm trừ cho người mua do hàng hóa kém phẩm chất, sai quy cách hoặc lạc hậu thị hiếu. Giá trị hàng bán bị trả lại: Là giá trị khối lượng hàng bán đã xác định là tiêu thụ bị khách hàng trả lại và từ chối thanh toán.
Đối với các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ, trường hợp này xảy ra khi dịch vụ không được cung ứng hoặc không được khách hàng chấp nhận. Chiết khấu thanh toán: Là khoản tiền người bán giảm trừ cho người mua, do người mua thanh toán tiền mua hàng trước thời hạn theo hợp đồng.2 Đặc điểm,yêu cầu quản lý và nhiệm vụ kế toán doanh thu cung cấp dịch vụ trong doanh nghiệp dịch vụ. Đặc điểm của hoạt động kinh doanh dịch vụ. Trong bối cảnh đa phương hóa, toàn cầu hóa như hiện nay, dịch vụ đang là một trong những ngành kinh doanh được kỳ vọng sẽ phát triển nhanh chóng trong tương lai.
Hoạt động kinh doanh dịch vụ có những đặc điểm ảnh hưởng đến công tác kế toán như sau: - Kinh doanh dịch vụ thường bao gồm nhiều ngành nghề khách nhau như: kinh doanh lữ hành, kinh doanh lưu trú, kinh doanh vận tải, kinh doanh dịch vụ giáo dục… - Đối tượng phục vụ của ngành dịch vụ thường không ổn định và biến đổi rất phức tạp, tổ chức hoạt động dịch vụ cũng phân tán và nhỏ lẻ. Do đó đòi hỏi công tác kế toán doanh thu tại các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ không những phải rất chặt chẽ mà còn linh động, phù hợp với đặc thù của từng đơn vị. Các phương thức cung cấp dịch vụ trong doanh nghiệp: Phương thức cung ứng dịch vụ nội địa. Cung ứng dịch vụ nội địa là phương thức cung cấp dịch vụ phổ biến nhất trong các doanh nghiệp dịch vụ hiện nay khi các dịch vụ được cung ứng và thực hiện ngay cho các khách hàng trong nước.
Đặc điểm của cung cấp dịch vụ nội địa là dịch vụ được luân chuyển ngay trong nước, thời gian luân chuyển nhanh và trình tự kế toán không quá phức tạp. Dịch vụ thường được cung cấp với giá trị không quá lớn, giá bán biến động tùy thuộc vào khối lượng dịch vụ và phương thức thanh toán. Trong cung cấp dịch vụ nội địa thường gồm các phương thức sau: GVHD: PGS.TS Đỗ Minh Thành 6 SVTH: Bùi Thị Tuyết Luan van Khóa luận tốt nghiệp Khoa: Kế toán – kiểm toán + Cung cấp dịch vụ trực tiếp: theo hình thức này, dịch vụ được doanh nghiệp giao bán trực tiếp cho khách hàng tại địa điểm và phương thức thanh toán do hai bên thỏa thuận. Dịch vụ được cung cấp một lần duy nhất, sau khi cung cấp dịch vụ cho khách hàng, đại diện khách hàng sẽ ký nhận vào chứng từ bán hàng và quyền sở hữu hoặc kiểm soát dịch vụ được chuyển giao cho khách hàng.
Khi đó, dịch vụ được xác định là đã tiêu thụ. + Cung cấp dịch vụ nhiều kỳ: hình thức này thường được sử dụng đối với những dịch vụ có giá trị lớn, dịch vụ gồm nhiều giai đoạn mới hoàn thành như dịch vụ chuyển giao công nghệ nghiên cứu, dịch vụ bảo hiểm tử kỳ, dịch vụ bảo trì, bảo dưỡng hệ thống công nghệ thông tin, quản trị mạng… Theo hình thức này, dịch vụ được cung cấp nhiều lần theo định kỳ hoặc có biến động về thời điểm cung cấp, qua nhiều kỳ kế toán mới hoàn thành và thực hiện đầy đủ giá trị. + Cung cấp dịch vụ theo phương thức trả chậm, trả góp: Dịch vụ trả chậm,trả góp là một hình thức mua bán, giao dịch giữa nhà cung cấp dịch vụ và các khách hàng tham gia sử dụng dịch vụ. Phương thức này thường được các doanh nghiệp sử dụng khi cung cấp các loại dịch vụ có giá trị rất lớn, có tính rủi ro cao hoặc cung cấp cho các đối tượng là khách hàng có uy tín, khách hàng quen thuộc lâu năm của doanh nghiệp.
Phương thức cung cấp dịch vụ ra nước ngoài. Là phương thức cung cấp dịch vụ ra bên ngoài lãnh thổ của doanh nghiệp. Dịch vụ được coi là cung cấp ngoài lãnh thổ trong những trường hợp sau: dịch vụ xuất cho thương nhân nước ngoài theo hợp đồng đã ký kết; dịch vụ được triển lãm sau đó bán thu bằng ngoại tệ; dịch vụ cung cấp cho du khách nước ngoài, Việt kiều thu bằng ngoại tệ; dịch vụ cung cấp cho nước ngoài thông qua các hiệp định thương mại, nhân đạo, cứu trợ… Đặc điểm nổi bật của phương thức này là chịu ảnh hưởng nhiều từ điều kiện địa lý, phương tiện vận chuyển, điều kiện và phương thức thanh toán trong từng thời kỳ. Các phương thức thanh toán.
- Phương thức thanh toán trực tiếp: Là phương thức thanh toán mà quyền sở hữu về tiền tệ sẽ được chuyển từ người mua sang người cung cấp dịch vụ ngay sau khi quyền sở hữu hoặc quyền kiểm soát dịch vụ bị chuyển giao. Thanh toán trực tiếp có thể bằng tiền mặt, séc hoặc có thể bằng hàng hóa. Ở hình thức này, sự vận động của dịch vụ gắn liền với sự vận động của tiền tệ.TS Đỗ Minh Thành 7 SVTH: Bùi Thị Tuyết Luan van Khóa luận tốt nghiệp Khoa: Kế toán – kiểm toán - Phương thức thanh toán chậm trả: Là phương thức thanh toán mà quyền sở hữu về tiền tệ sẽ được chuyển giao sau một khoảng thời gian so với thời điểm chuyển quyền sở hữu hoặc quyền kiểm soát về dịch vụ, do đó hình thành khoản công nợ phải thu của khách hàng. Ở hình thức này, sự vận động của dịch vụ và tiền tệ có khoảng cách về không gian và thời gian.
Nội dung quản lý nghiệp vụ cung cấp dịch vụ. Cũng giống như quá trình bán hàng trong doanh nghiệp thương mại, trong quá trình cung cấp dịch vụ, tài sản của doanh nghiệp được chuyển hóa nhanh chóng sang hình thái tiền tệ. Do đó để quản lý tốt nghiệp vụ cung cấp dịch vụ, các doanh nghiệp dịch vụ cần quản lý tốt cả hai mặt tiền tệ và dịch vụ. Cụ thể quản lý nghiệp vụ cung cấp dịch vụ cần phải đảm bảo hài hòa các chỉ tiêu sau: Quản lý doanh thu cung cấp dịch vụ.
Đây là một trong những công việc quan trọng nhất tại các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ, là cơ sở quan trọng để xác định chính xác kết quả kinh doanh của doanh nghiệp dịch vụ, quyết định lớn đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp trên thị trường. Quản lý doanh thu bao gồm các công việc sau: + Quản lý doanh thu cung cấp dịch vụ thực tế: doanh thu thực tế là doanh thu được tính theo giá bán trên hóa đơn hoặc trên hợp đồng bán hàng. Doanh nghiệp cần có chính sách theo dõi, giám sát và quản lý chặt chẽ việc ghi nhận doanh thu dựa trên hóa đơn để hạn chế tình trạng khai khống hóa đơn, hóa đơn không đúng giá trị hoặc không đúng đối tượng hạch toán. + Quản lý các khoản giảm trừ doanh thu: Các khoản phát sinh trong quá trình cung cấp dịch vụ cũng có ảnh hưởng không nhỏ tới doanh thu cung cấp dịch vụ.
Các khoản giảm trừ doanh thu bao gồm: chiết khấu thương mại, giảm giá dịch vụ và dịch vụ không được cung ứng hoặc không được khách hàng chấp nhận( dịch vụ bị trả lại). Cần chú ý tới sự biến động của các khoản giảm trừ doanh thu qua từng kỳ để đánh giá được hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp dịch vụ nhằm có biện pháp quản lý kịp thời. + Quản lý doanh thu thuần: là việc quản lý doanh thu thực tế về bán hàng của doanh nghiệp trong kỳ kế toán, là cơ sở để xác định kết quả hoạt động kinh doanh.TS Đỗ Minh Thành 8 SVTH: Bùi Thị Tuyết Luan van Khóa luận tốt nghiệp Khoa: Kế toán – kiểm toán Quản lý tiền tệ. Quản lý chặt chẽ tình hình thu hồi tiền, tình hình công nợ và thanh toán công nợ phải thu với khách hàng.
Kế toán phải theo dõi thường xuyên thời hạn thanh toán tiền hàng, thời gian luân chuyển của tiền để kịp thời thu hồi, tránh trường hợp bị chiếm dụng vốn kinh doanh.