CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ XÂY LẮP TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Cơ sở lí luận về kế toán chi phí xây lắp trong doanh nghiệp 1.1 Một số khái niệm cơ bản - Khái niệm chi phí: Chi phí là tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản phân phối cho cổ đông hoặc chủ sở hữu.( theo VAS 01: khoản b đoạn 31) - Khái niệm chi phí sản xuất: Chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về lao động sống và lao động vật hóa và các chi phí khác mà doanh nghiệp bỏ ra để tiến hành hoạt động sản xuất trong một thời kỳ nhất định (tháng, quý, năm) để tiến hành hoạt động kinh doanh” (theo Luật kế toán Việt Nam) Chi phí sản xuất bao gồm: Hao phí về lao động sống được hiểu là sức lao động được biểu hiện bằng tiền công, tiền lương phải trả cho người lao động. Hao phí về lao động vật hóa là các chi phí về tư liệu lao động và đối tượng lao động như chi phí nguyên, nhiên vật liệu, chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí CCDC. - Khái niệm chi phí sản xuất của đơn vị xây lắp: là biểu hiện bằng tiền toàn bộ hao phí lao động sống, lao động vật hóa và các chi phí cần thiết khác mà DN bỏ ra để tiến hành hoạt động xây lắp trong một thời kỳ nhất định. - Hợp đồng xây dựng: hợp đồng bằng văn bản về việc xây dựng một tài sản hoặc tổ hợp các tài sản có liên quan chặt chẽ hay phụ thuộc lẫn nhau về mặt thiết kế, công nghệ, chức năng hoặc các mục đích sử dụng cơ bản của chúng.( Chuẩn mực số 15- Đoạn 03) - Chi phí của hợp đồng xây dựng: biểu hiện bằng tiền toàn bộ chi phí về lao động vật hoá, lao động sống và các chi phí cần thiết khác mà doanh nghiệp cần bỏ ra trong quá trình thực hiện hợp đồng xây dựng.2 Đặc điểm hoạt động kinh doanh xây lắp và chi phí xây lắp cơ bản: Xây dựng cơ bản là một ngành sản xuất vật chất độc lập có chức năng tái sản xuất TSCĐ cho tất cả các ngành trong nền kinh tế quốc dân.
Nó làm tăng sức mạnh về kinh tế, GVHD: ThS. Nguyễn Quỳnh Trang 8 SVTH: Nguyễn Thị Nhiễu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khóa luận tốt nghiệp Khoa Kế toán – Kiểm toán quốc phòng tạo nên cơ sở vật chất kỹ thuật cho xã hội. Một đất nước có một cơ sở hạ tầng vững chắc thì đất nước đó mới có điều kiện phát triển. Như vậy việc xây dựng cơ sở hạ tầng bao giờ cũng phải tiến hành trước một bước so với các ngành khác.
Sản phẩm xây dựng là các công trình sản xuất, hạng mục công trình, công trình dân dụng có đủ điều kiện đưa vào sử dụng và phát huy tác dụng. Sản phẩm của ngành xây dựng cơ bản luôn được gắn liền với một địa điểm nhất định nào đó. Địa điểm đó là đất liền, mặt nước, mặt biển và có cả thềm lục địa. Vì vậy ngành xây dựng là ngành khác hẳn với các ngành khác.
Sản phẩm xây dựng có quy mô lớn, kết cấu phức tạp, thời gian xây dựng dài, có giá trị rất lớn. Nó mang tính cố định, nơi sản xuất ra sản phẩm, đồng thời là nơi sản phẩm hoàn thành đưa vào sử dụng và phát huy tác dụng. Nó mang tính đơn chiếc và mỗi công trình được xây dựng theo một thiết kế kỹ thuật riêng, có giá trị dự toán riêng biệt và tại một địa điểm nhất định. Điều đặc biệt, sản phẩm xây dựng mang nhiều ý nghĩa tổng hợp về nhiều mặt kinh tế, chính trị, kỹ thuật, mỹ thuật.
Qúa trình từ khởi công xây dựng cho đến khi hoàn thành bàn giao đưa vào sử dụng thường là dài, nó phụ thuộc vào quy mô và tính chất phức tạp về kỹ thuật của từng công trình. Quá trình thi công thường được chia làm nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn thi công bao gồm nhiều công việc khác nhau. Các công trình được ký kết tiến hành đều được dựa trên đơn đặt hàng, hợp đồng cụ thể của bên giao thầu xây lắp. Cho nên phụ thuộc vào nhu cầu của khách hàng và thiết kế kỹ thuật của công trình đó.
Khi có khối lượng xây lắp hoàn thành đơn vị xây lắp phải đảm bảo bàn giao đúng tiến độ, đúng thiết kế kỹ thuật, đảm bảo chất lượng công trình.3 Nội dung và phân loại chi phí xây lắp Trong DNXL, để phục vụ cho công tác quản lý chi phí và tính giá thành sản phẩm, chi phí sản xuất thường được phân loại chủ yếu theo mục đích, công dụng. Theo tiêu thức này, CFSX bao gồm các khoản mục sau: - Chi phí NVL trực tiếp: là toàn bộ chi phí NVL được sử dụng trực tiếp cho họat động xây lắp. - Chi phí nhân công trực tiếp: là toàn bộ chi phí lao động trực tiếp tham gia vào quá trình hoạt động xây lắp, bao gồm: tiền lương, tiền công, các khoản phụ cấp phải trả. Nguyễn Quỳnh Trang 9 SVTH: Nguyễn Thị Nhiễu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khóa luận tốt nghiệp Khoa Kế toán – Kiểm toán - Chi phí sử dụng máy thi công: là chi phí sử dụng máy để hoàn thành sản phẩm xây lắp.
Chi phí sử dụng máy thi công bao gồm: chi phí khấu hao máy thi công; chi phí thường xuyên MTC; tiền lương của công nhân điều khiển máy, phục vụ máy; chi phí sửa chữa lớn MTC và các chi phí khác của MTC. Ngoài ra, chi phí sản xuất xây lắp còn có thể phân loại theo một số tiêu thức sau: * Căn cứ vào nội dung, tính chất kinh tế: Theo cách phân loại này, tất cả các chi phí có cùng nội dung, tính chất kinh tế không phân biệt nơi chi phí đó phát sinh ở đâu và có tác dụng như thế nào được xếp vào cùng một loại gọi là yếu tố chi phí, bao gồm: + Chi phí nguyên liệu, vật liệu + Chi phí nhân công + Chi phí khấu hao máy móc, thiết bị + Chi phí dịch vụ mua ngoài + Chi phí bằng tiền khác * Căn cứ vào mối quan hệ giữa khă năng quy nạp chi phí vào các đối tượng kế toán chi phí, gồm hai loại: Chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp. - Chi phí trực tiếp: chi phí liên quan đến từng đối tượng chịu chi phí, những chi phí này được kế toán căn cứ vào chứng từ gốc để tập hợp cho từng đối tượng chịu chi phí. - Chi phí gián tiếp: chi phí liên quan đến nhiều đối tượng chịu chi phí, những chi phí này kế toán phải tiến hành phân bổ cho các đối tượng liên quan theo một tiêu chuẩn thích hợp.
Cách phân loại chi phí này có ý nghĩa đối với việc xác định phương pháp kế toán tập hợp và phân bổ chi phí cho các đối tượng một cách hợp lí. * Căn cứ vào mối quan hệ giữa chi phí sản xuất với khối lượng sản phẩm hoàn thành, gồm ba loại: Chi phí cố định, chi phí biến đổi và chi phí hỗn hợp. * Căn cứ vào nội dung cấu thành chi phí, gồm hai loại: Chi phí đơn nhất và chi phí tổng hợp. Chi phí đơn nhất: chi phí do một yếu tố duy nhất cấu thành.
Chi phí tổng hợp: chi phí do nhiều yếu tố khác nhau tổng hợp lại theo cùng một công cụ. Nguyễn Quỳnh Trang 10 SVTH: Nguyễn Thị Nhiễu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khóa luận tốt nghiệp Khoa Kế toán – Kiểm toán * Căn cứ theo giai đoạn xây lắp: - Chi phí ở giai đoạn chuẩn bị xây lắp: toàn bộ những khoản chi phí được phân tích tính toán và xác định trong giai đoạn chuẩn bị xây lắp, bao gồm: chi phí thực hiện công tác đấu thầu, hoàn tất công tác đấu thầu, hoàn tất các thủ tục đấu thầu, chi phí phá dỡ và tháo dỡ các vật kiến trúc cũ. - Chi phí ở giai đoạn thực hiện xây lắp: các khoản chi phí ở giai đoạn này gồm: Chi phí xây lắp, chi phí thiết bị, chi phí bằng tiền và chi phí dự phòng. - Chi phí ở giai đoạn kế thúc xây dựng đưa dự án vào khai thác sử dụng: chi phí tháo dỡ công trình tạm, chi phí thu dọn vệ sinh… 1.4 Đối tượng và phương pháp tập hợp chi phí xây lắp.1 Đối tượng tập hợp chi phí: Đối tượng tập hợp chi phí là phạm vi giới hạn mà các chi phí sản xuất phát sinh được tập hợp theo phạm vi giới hạn đó.
Trong quá trình xây dựng công trình, các chi phí thường được phát sinh ở những tổ đội thi công khác nhau. Do đó để xác định đúng đối tượng tập hợp chi phí cần phải căn cứ vào các yếu tố sau: - Tính chất tổ chức sản xuất, loại hình sản xuất và đặc điểm kinh doanh cũng như đặc điểm tổ chức sản xuất. - Căn cứ vào yêu cầu tính giá thành, yêu cầu quản lí và khả năng, trình độ quản lí của doanh nghiệp, trình độ càng cao thì đối tượng tập hợp chi phí càng cụ thể và chi tiết. - Căn cứ vào yêu cầu kiểm tra,kiểm soát chi phí và yêu cầu hạch toán kinh tế nội bộ doanh nghiệp.
Trong sản xuất xây lắp, với tính chất phức tạp của quy trình công nghệ, loại hình sản xuất đơn chiếc, sản phẩm xây lắp có giá trị kinh tế lớn, thường được phân chia thành nhiều khu vực, nhiều bộ phận thi công. Mỗi công trình, hạng mục công trình đều có dự toán, thiết kế riêng, cấu tạo vật chất khác nhau nên tuỳ thuộc vào công việc cụ thể, trình độ quản lí của mỗi doanh nghiệp xây lắp mà đối tượng hạch toán chi phí có thể là từng công trình, hạng mục công trình hay từng đơn đặt hàng. Việc xác định đối tượng hạch toán chi phí là khâu đầu tiên, cần thiết của công tác hạch toán chi phí xây lắp. Chỉ có xác định đúng đắn đối tượng hạch toán chi phí GVHD: ThS.
Nguyễn Quỳnh Trang 11 SVTH: Nguyễn Thị Nhiễu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khóa luận tốt nghiệp Khoa Kế toán – Kiểm toán mới có thể tổ chức tốt công tác hạch toán.Trên cơ sở đối tượng hạch toán chi phí, kế toán lựa chọn phương pháp hạch toán chi phí thích ứng.