mở đầu thuận lợi cho các bước tiếp theo trong quá trình phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam. Mặc dù khái niệm về du lịch sinh thái còn có những quan điểm chưa thống nhất và sẽ còn được hoàn thiện dần trong quá trình phát triển của nhận thức song những đăc điểm cơ bản của định nghĩa về du lịch sinh thái đã được tổ chức du lịch thế giới (WTO) tóm lại như sau: -Du lịch sinh thái bao gồm tất cả những hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên mà ở đó mục đích chính là khách du lịch là tham quan tìm hiểu về tự nhiên cũng như những giá trị văn hoá truyền thống ở các vùng thiên nhiên đó. -Du lịch sinh thái phải bao gồm những hoạt động giáo dục và diễn giải về môi trường. -Thông thường du lịch sinh thái được các tổ chức chuyên nghiệp và doanh nghiệp có quy nhỏ ở nước sở tại tổ chức cho các nhóm nhỏ du khách.
Các công ty lữ hành nước ngoài có quy mô khác nhau cũng có thể tổ chức, điều hành hoặc quãng cáo các tour du lịch sinh thái cho các nhóm du khách có số lượng hạn chế. -Du lịch sinh thái hạn chế đến mức thấp nhất các tác động đến môi truờng tự nhiên và văn hoá xã hội. -Du lịch sinh thái có sự hổ trợ cho hoạt động bảo tồn tự nhiên. Mối quan hệ giữa du lịch sinh thái với kinh tế-xã hội và các khu bảo tồn thiên nhiên .Tác động qua lại giữa du lịch sinh thái với kinh tế, văn hoá - xã hội.
Du lịch sinh thái và kinh tế: Du lịch nói chung đã trở thành một ngành công nghiệp dân sự quan trọng nhất trên thế giới. Trên cơ sở này tổ chức Du lịch thế giới (WTO) đã tiến hành dự báo về du lịch quốc tế, thành phần đã tăng trưởng 57% trong thập kỷ 1980, 50% trong thập kỷ 1996. Mặc dù tỷ lệ tăng trưởng vẫn còn chậm, trung bình 3,7% mỗi năm trong thập kỷ 90, với 450 triệu khách du hành quốc tế trong năm 1991, 650 triệu du hành quốc tế trong năm 2000. Du lịch thiên nhiên trong năm 1989 đã tạo ra khoảng 7% tổng chi phí cho du lịch quốc tế, theo ước tính của WTO Các khu thiên nhiên, và đặc biệt các khu bảo tồn thiên nhiên được luật pháp công nhận, các cảnh quan, động vật, thực vật cùng với các yếu tố văn hoá hiện hữu là những hấp dẫn chính đối với những người dân ở các nước sở tại và du khách khắp thế giới.
Chính vì vậy mà các tổ chức bảo tồn nhận thấy tính thích hợp của du lịch và cũng nhận thức được các nguy hiểm mà du lịch không được quản lý nghiêm túc hay không được quản lý có thể gây ra cho các di sản thiên nhiên và văn hoá của thế giới. Sù quan tâm ngày càng tăng đối với du lịch sinh thái trong chính phủ các nước đang phát triển, các nhà điều hành du lịch thương mại, các tổ chức cứu trợ, và các nhà bảo tồn nói lên tiềm năng kinh tế và bảo tồn của loại hình du lịch này. Các nhà du lịch sinh thái chi hàng chục tỷ đô la mỗi năm nhưng tầm quan trọng của du lịch sinh thái khổng ở những con số này. Các nhà du lịch sinh thái sử dụng tài nguyên và chuyên môn địa phương.
Điều này có nghĩa là giảm nhu cầu nhập khẩu tằng cường các thiết kế nhậy cảm đối với môi trường và sự tham gia của địa phương trong ngành du lịch. Du lịch sinh thái chú trọng vào tài nguyên và nhân công địa phương, điều này làm cho du lịch sinh thái trở nên hấp dẫn với các nước đang phát triển. Các nước giầu có về thiên nhiên thường bị thiệt thòi về sự nghèo khổ của các khu nông thôn và sự thiếu hụt về nguồn thu xuất khẩu là những ví dụ. Kenya mỗi năm làm ra khoảng 500 triệu USD lợi nhuận du lịch.
Các nguồn thu trức tiếp và gián tiếp khoảng 10% tổng thu nhập quốc gia của nước này. Thu nhập từ du lịch tại Đông phi là nguồn ảnh hưởng lớn mạnh nhất đằng sau mạng lưới rộng lớn các khu bảo tồn thiên nhiên của khu vực. Costa Rica thu được 336 triệu USD lợi nhuận du lịch năm 1991 và làm tăng trưởng khoảng 25% về thu nhập trong vòng ba năm trở lại. Du lịch thiên nhiên là động cơ cho nền kinh tế của nhiều đảo nhiệt đới vùng Cari bê, khu vực Thái Bình Dương và Ên Độ Dương.
Du lịch sinh thái đã đưa Rwarda và Belize vào bản đồ thế giới. Du lịch sinh thái lặ tạo nên và sự nên và sự khao khát thiên nhiên, sự khai thác thác tiềm năng du lịch cho bảo tồn và phát triển, và là sự ngăn ngừa các tác động tiêu cực lên sinh thái, văn hoá và thẩm mỹ. Cứu thiên nhiên bằng các thị trường hoá không còn là điều mới mẻ, nhưng những mạo hiểm liên quan trong loại hình doanh nghiệp này cũng không còn xa lạ. Vườn Quốc gia Yellowstane đã được thị trường hoá và được cứu bằng cách xây dựng một trục đường sắt và khách sạn và bằng quảng cáo nó cho một quốc gia đô thị hoá khao khát được đến những tiền triệu đã bị mất đi.
Nhưng chẳng bao lâu, những đoàn khách lũ lượt đã trở thành mối đe doạ “yêu mến Yellowstone đến suy tàn. Những chú gấu đốm được cho ăn, thuần hoá và trở nên nguy hiểm đối với du khách cho chúng ăn là một trong nhiều nạn nhân. Ngày nay việc xác định lợi Ých du lịch dựa trên đơn thuần tổng thu nhập giờ đây không còn phù hợp nữa. Coi khu bảo tồn thiên nhiên là một khu kinh tế biệt lập là không thể chấp nhận được ở các nước đang nghèo.
Phải tính tới sự trao đổi ngoại tệ, thiệt hại bỏ ra so với lợi Ých kinh tế, các yếu tố ngoại lai và chi phí cơ hội đối với du khách được thu hút vào sự phụ thuộc vào sự mỏng manh của kinh tế do du lịch mang lại. Du lịch sinh thái được phất triển với những đặc trưng lý tưởng của nó sẽ mang lại những lợi Ých cho các cộng đồng đón khách. Nó có thể làm thay đổi chất lượng cuộc sống của người dân, đặc biệt đối với những ai tham gia trực tiếp vào du lịch, những thay đổi tích cực này được thể hiện qua các mặt sau : -Du lịch tạo cơ hội việc làm, trực tiếp cho ngành du lịch, trong các ngành hổ trợ khác và cả trong lĩnh vực quản lý nguồn tài nguyên. Kích thích sử dụng lao động trong các ngành du lịch liên quan : Khách sạn, nhà hàng, hệ thống giao thông vận tải, các dịch vụ hàng lưu niệm, hàng thủ công, dịch vụ hướng dẩn.
-Du lịch được ví nh một ngành công nghiệp “không khói” và được xem nh một ngành “xuất khẩu vô hình” có ý nghĩa rất lớn trong việc thu ngoại tệ cho các nước đang phát triển hoặc có nền kinh tế chậm phát triển. Du lịch có khả năng làm đa dạng hoá nền kinh tế địa phương theo kiểu số nhân, tạo ra những lợi Ých trực tiếp và gián tiếp. -Du lịch cũng là động lực cải thiện cơ sở hạ tầng, giao thông, thông tin liên lạc, các cơ sở y tế địa phương…mang lại lợi Ých cho cộng đồng sơ tại. Đồng thời nó còn tạo ra những phương tiện và điều kiện giải trí được sử dụng cho cả cộng đồng địa phương cũng nh du khách trong và ngoài nước Ngành du lịch thu hút phần lớn lao động song phần lớn là những lao động tạm thời hoặc không được bảo đảm, có khi mang tính mùa vụ và phụ thuộc vào luồng khách du lịch.
Nh vậy du khách tạo ra sự bất ổn định về thu nhập cho người lao động cũng nh cho xã hội. Du lịch có thể góp phần vào quá trình phát triển, kém phát triển và làm tăng thêm khoảng cách giữa những người giàu và những người nghèo (do việc hưởng lợi nhuận từ du lịch không đồng đều trong cộng đồng) .Sự phụ thuộc nặng nề về kinh tế vào du lịch cũng ảnh hưởng đến cuộc sống người dân trong việc đáp ứng nhu cầu hàng ngày của họ, diều này thể hiện ở chỗ: thị trường các sản phẩm được sản xuất hay nhập khẩu hướng vào cung cấp cho nhu cầu du lịch chứ không quan tâm đến nhu cầu số đông người dân. kết quả là dẫn đến môt nền kinh tế phục vụ du lịch , cơ cấu sẩn xuất thay đổi, giá cả nảy sinh những khó khăn về đời sống cho đa số những người không có điều kiện tham gia vào các hoạt động du lịch. Đặc biệt khi du lịch đạt tới mức “bảo hoà” thì nảy sinh những hạn chế hoặc những tác động.
Xây Sen (một đất nước nằm trên quần đảo phía đông Ên Độ Dương) là ví dụ điển hình : Khi quần đảo xinh đẹp này được biết đến như là một nơi nghỉ lý tưởng của khách du lịch quốc tế, du lịch đã chuyển từ chổ là động lực phát triển kinh tế đến chổ trở thành “gánh nặng ” cho quốc gia này. Và Xây Sen đã được mạnh danh là “quốc gia của những bồi bàn”. Các sản phẩm du lịch nhằm chủ yếu vào thị trường nước ngoài, khiến cho giá cả nhiều mặt hàng tăng lên mà số Ýt cư dân khá giả mới có khả năng tiêu xài. Du lịch tập trung gây ra sự quá tải cho cơ sở hạ tầng hiện có như khả năng cung cấp nước, điện, nhiên liệu , xử lý chất thải…ngược lại nếu cơ sở hạ tầng được thiết kế và quy hoạch lớn hơn nhu cầu thì mức sử dụng thấp cũng là vấn đề lớn, nghĩa là để bù lại cho mức sử dụng thấp, việc tăng giá cả các dịch vụ trên sẽ ảnh hưởng lớn đến khả năng hấp dẫn khách.
Thêm vào đó việc tăng cường các thiết bị phục vụ khách hàng thường làm giảm bớt những nét đẹp của thiên nhiên và như vậy không còn hấp dẩn những khách du lịch kiểu khám phá trước đây nữa. Thực chất, sự mở rộng du lịch nảy sinh nhu cầu lớn về đất đai mà có thể sử dụng cho ngành kinh tế khác, và du lịch đã gây nên sự lạm phát giá đất và được coi như một ngành tác động lâu dài. Du lịch sinh thái không được quản lý tốt, nếu trở thành du lịch đại chúng, có thể làm phá vở hệ thống kinh tế địa phương.